top of page

TRANG TÌM KIẾM

Tìm kiếm trên trang web này

Tìm thấy 94 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • [91] CƠ CHẾ THỰC THI TRONG LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Hiền, Kiều Thu Chang Tóm tắt: Trên cơ sở khung pháp lý và những cơ chế thực thi đã được phân tích ở phần trước, vấn đề đặt ra là các quy định của Luật Hình sự Quốc tế (ICL) được hiện thực hóa như thế nào trong thực tiễn. Mặc dù các thiết chế tài phán quốc tế đã góp phần xác lập trách nhiệm hình sự cá nhân đối với những tội phạm nghiêm trọng nhất, hiệu quả thực thi vẫn phụ thuộc đáng kể vào sự hợp tác của các quốc gia và hoạt động hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Do đó, phần này tập trung làm rõ vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế trong việc thúc đẩy thực thi ICL, đồng thời phân tích các cơ chế thực thi ở cấp quốc gia, bao gồm hợp tác tư pháp hình sự và thẩm quyền tài phán phổ quát. Trên cơ sở thực tiễn áp dụng, bài viết tiếp tục đánh giá hiệu quả, những hạn chế về pháp lý, thể chế và chính trị, từ đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao tính hiệu quả và nhất quán của cơ chế thực thi ICL. 2.2 Thực thi thông qua các tổ chức quốc tế 2.2.1 Vai trò của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ICC được nhìn nhận như một tòa án độc lập, có tư cách pháp nhân quốc tế và có năng lực pháp lý cần thiết để thực hiện các chức năng và hoàn thiện các mục đích của mình.[63] Tuy nhiên xét về bản chất, tòa vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với Liên Hợp Quốc được nêu trong Quy chế của Tòa án, trong Thỏa thuận về quan hệ giữa Tòa án với Liên hợp quốc được ký kết ngày 4 tháng 10 năm 2004.[64] Trọng tâm của thỏa thuận này thể hiện ở vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với Tòa án, cụ thể, Hiến chương Liên hợp quốc có vai trò khuôn khổ hóa các hoạt động của tòa án trong vấn đề giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế.[65] Trong bối cảnh hình thành và hoạt động của ICC, Hội đồng Bảo an có quyền giới thiệu các tình huống đe doạ hoà bình cho Toà án xem xét, kể cả đối với các quốc gia không phải là thành viên của Quy chế Rome.[66] Tuy nhiên, vai trò này gây ra nhiều tranh luận pháp lý liên quan đến tính độc lập tư pháp của ICC, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia và nguy cơ chính trị hoá hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế, đặc biệt do cơ chế quyền phủ quyết của các quốc gia thường trực. Trên thực tế, cơ chế này có thể khiến các quốc gia thường trực Hội đồng Bảo an rơi vào vị thế gần như đứng trên pháp luật quốc tế, bởi các hành vi vi phạm nghiêm trọng do họ hoặc công dân của họ thực hiện rất khó có khả năng bị đưa ra trước Tòa án Hình sự Quốc tế. Quan ngại này đã được nhiều quốc gia đang phát triển, tiêu biểu như Ấn Độ, Namibia và Sierra Leone, nhấn mạnh trong quá trình đàm phán Quy chế Rome. Theo các quốc gia này, việc trao cho Hội đồng Bảo an quyền kiểm soát việc kích hoạt thẩm quyền tài phán của ICC có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu, làm suy yếu nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và ảnh hưởng tiêu cực đến tính công bằng của hệ thống luật hình sự quốc tế.[67] Thứ nhất, vai trò của Hội đồng Bảo an trong việc xác định căn cứ để Tòa án thực hiện quyền tài phán theo Điều 13 Quy chế Rome, bao gồm ba trường hợp: do quốc gia thành viên yêu cầu; do Hội đồng Bảo an yêu cầu hoặc do bản thân Trưởng công tố tự mình mở cuộc điều tra. Đối với trường hợp điều tra do Hội đồng Bảo an yêu cầu, điểm b Điều 13 quy định: “Tòa án có thể thực hiện quyền tài phán đối với các tội phạm nêu tại Điều 5 theo các quy định của Quy chế này nếu: …. b. Một vụ việc trong đó một hay nhiều tội phạm nêu trên đã xảy ra được Hội đồng Bảo an thông báo cho Trưởng công tố theo thẩm quyền quy định tại Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc.” Khi Hội đồng Bảo an yêu cầu Tòa án căn cứ vào điều trên thì quy trình sẽ được tiến hành theo Khoản 1 Điều 17 trong Thỏa thuận hợp tác giữa Hội đồng Bảo an và Tòa án. Theo đó, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đóng vai trò trung gian, có trách nhiệm chuyển quyết định và tài liệu liên quan cho Công Tố viên. Trong quá trình xét xử vụ việc, Tòa án luôn phải đảm bảo Hội đồng Bảo An được thông tin đầy đủ theo đúng các quy định hiện hành và mọi liên lạc chính thức giữa Tòa án và Hội đồng Bảo an đều được thông qua Tổng Thư ký. Thực hiện quyền truy tố theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an giúp Tòa án mở rộng thẩm quyền của mình ra ngoài các quốc gia thành viên, bởi để thực thi quyền tài phán theo yêu cầu của một quốc gia thành viên hoặc theo chủ ý của Công tố trưởng thì phải thỏa mãn một trong hai điều kiện sau: quốc gia đó là nơi xảy ra hành vi phạm tội hoặc quốc gia mà người bị cáo buộc mang quốc tịch đều là thành viên của Quy chế.[68] Về mặt thủ tục, để Tòa án thực thi thẩm quyền của mình theo điểm b Điều 13 thì trước hết Hội đồng Bảo an phải xác định “Tình huống - situation” đang “đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược” được quy định của Chương VII của Hiến chương. Về mặt nội dung, có thể hiểu Quy chế Rome trao cho Hội đồng Bảo an quyền thông báo các vụ việc làm cơ sở cho ICC thực hiện thẩm quyền của mình chứ Hội đồng Bảo an không thể yêu cầu Tòa án truy tố xét xử một hành vi tội phạm cụ thể. Cho đến nay, có hai vụ án xảy ra tại các quốc gia không phải thành viên của Quy chế Rome được Hội đồng Bảo an chuyển cho ICC, là Dafur - Sudan (2005) với cáo buộc các quan chức cấp cao của nước này đã phạm tội diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.[69] Tình hình ở Dafur là trường hợp đầu tiên Hội đồng Bảo an chuyển giao cho Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và Cựu Tổng thống Sudan Al-Bashir cũng là vị Tổng thống đương nhiệm đầu tiên bị tòa án Hình sự truy nã. Tương tự với tình hình xảy ra tại Lybia (2011) bắt đầu dưới chế độ của Muammar Mohammed Abu Minyar Gaddafi, chính quyền Gaddafi sử dụng vũ lực tàn bạo trấn áp thường dân cùng các cuộc biểu tình hòa bình dẫn đến hàng trăm nghìn người phải di dời, con số thương vong theo ước tính của Liên Hợp Quốc lên đến 25.000 chỉ riêng cuộc nội chiến vào năm 2011.[70] Thứ hai, nếu không lựa chọn chuyển vụ việc cho Tòa án, Hội đồng Bảo an có thể tự thực thi thẩm quyền của mình theo quy định của Chương VII trong Hiến chương. Khi nhận thấy được mối đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới, mọi biện pháp từ phi vũ lực (biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấm vận kinh tế, cắt đứt quan hệ ngoại giao, thông tin, giao thông,...) đến sử dụng vũ lực một cách cần thiết (hải, lục, không quân để phong tỏa biểu dương các cuộc hành quân khác) để duy trì và khôi phục hòa bình, an ninh thế giới. Bên cạnh đó, theo Điều 16 của Quy chế Rome, Hội đồng Bảo an không chỉ có quyền “kích hoạt” thẩm quyền của Tòa án Hình sự Quốc tế thông qua cơ chế chuyển giao tình huống, mà còn có quyền “đóng băng” các cuộc điều tra hoặc truy tố của ICC trong thời hạn 12 tháng và có thể gia hạn bằng một nghị quyết mới. Điều khoản này là kết quả của một sự thỏa hiệp chính trị giữa các quốc gia nhằm bảo đảm rằng Hội đồng Bảo an, với trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, có thể can thiệp trong những tình huống đặc thù để ưu tiên các giải pháp chính trị - an ninh trước khi giao quyền cho công lý xét xử.[71] Những biện pháp này được thiết kế nhằm thúc đẩy sự hợp tắc của các quốc gia với Tòa án nói chung, đồng thời gia tăng áp lực đối với những người bị cáo buộc đã phạm các tội ác nghiêm trọng, kể cả các nhà lãnh đạo chính trị như Tổng thống Sudan Omar al-Bashir.[72] Sức ép này giúp tăng sự tuân thủ của các quốc gia, cô lập những người có liên quan và nâng cao hiệu quả các phán quyết của Tòa án. Ngoài ra, chi phí pháp lý cho bị cáo và bồi thường cho nạn nhân cũng có thể được chi trả bằng các tài sản bị phong tỏa này. Cùng với đó, Hội đồng Bảo an huy động và điều phối sự tham gia của tất cả các quốc gia thành viên hỗ trợ lực lượng và phương tiện cần thiết để hợp tác tương trợ lẫn nhau trong việc thi hành các biện pháp Hội đồng Bảo an quyết định. Cuối cùng, quyền tự vệ cá nhân và tập thể trong trường hợp quốc gia thành viên bị tấn công vũ trang vẫn được Hội đồng Bảo an thừa nhận nhưng quyền này chỉ mang tính tạm thời trong lúc Hội đồng Bảo an chưa có những hành động kịp thời, nhưng quyền can thiệp của Hội đồng Bảo an sau đó vẫn hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Trong thực tiễn hiện nay, một trong những vấn đề nổi bật trong vai trò của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đối với Tòa án Hình sự Quốc tế là sự thiếu nhất quán trong việc thực hiện và theo dõi các quyết định giới thiệu.[73] Do không tồn tại một bộ tiêu chí ràng buộc nhằm xác định thời điểm Hội đồng Bảo an nên chuyển một tình huống lên ICC, phản ứng của cơ quan này trước các tình huống bạo lực quy mô lớn thường không đồng đều, ngay cả khi đã có các báo cáo đáng tin cậy về việc thực hiện các tội phạm cốt lõi theo luật quốc tế.[74] Hơn nữa, sự thiếu nhất quán còn thể hiện trong cách Hội đồng Bảo an xử lý các báo cáo điều tra và đánh giá vai trò của các cơ chế điều tra, truy tố ở cấp độ quốc gia, qua đó làm suy giảm tính khách quan và khả năng dự đoán của cơ chế referral (cơ chế chuyển vụ việc). Đáng chú ý, sau khi quyết định giới thiệu được thông qua, Hội đồng Bảo an thường không thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo dõi và hỗ trợ cần thiết, đặc biệt trong việc thúc đẩy nghĩa vụ hợp tác và tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến quyền miễn trừ, khiến hiệu quả thực thi công lý hình sự quốc tế tiếp tục chịu ảnh hưởng đáng kể từ các cân nhắc chính trị.[75] 2.2.2. Vai trò của một số tổ chức quốc tế khác Một trong những tổ chức có tầm ảnh hưởng rộng là Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (INTERPOL), là cơ quan hợp tác cảnh sát quốc tế với mạng lưới gần 200 quốc gia thành viên, cung cấp các công cụ kỹ thuật và chuyên môn như cơ sở dữ liệu tội phạm, mạng liên lạc toàn cầu và hỗ trợ điều tra phối hợp nhằm giúp các quốc gia phối hợp bắt giữ và trao đổi thông tin về đối tượng phạm tội và chứng cứ liên quan đến các hành vi nghiêm trọng xuyên biên giới, kể cả trong các vụ án liên quan đến tội diệt chủng và tội ác chống loài người. Đồng thời, INTERPOL phát hành các Thông báo đỏ (Red Notices) yêu cầu quốc tế về vị trí và bắt giữ cá nhân đang bị truy nã, thông báo được sử dụng như một công cụ hỗ trợ các cơ quan tư pháp trong nỗ lực truy tìm nghi phạm quốc tế.[76] Bên cạnh đó, các mạng lưới và tổ chức khu vực như cơ chế hợp tác cảnh sát của Liên minh Châu Phi (AFRIPOL), hay các nhóm chuyên môn như Asia/Pacific Group on Money Laundering (APG) cũng hỗ trợ các quốc gia thành viên trong vai trò trao đổi thông tin, đào tạo và xây dựng năng lực nhằm đối phó với các loại tội phạm xuyên quốc gia cụ thể.[77] Những cơ chế này tuy không có quyền tài phán bắt buộc như ICC, nhưng giúp tăng cường phối hợp quốc tế và hỗ trợ kỹ thuật, góp phần thu hẹp khoảng cách thực thi luật hình sự quốc tế trong thực tiễn. 2.3. Thực thi thông qua quốc gia và tòa án quốc gia 2.3.1 Nghĩa vụ hợp tác của quốc gia Thực tế cho thấy dù tội phạm hình sự quốc tế nói chung không xâm phạm đến trật tự pháp lý quốc tế và không đụng chạm đến quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Tuy vậy, một quốc gia riêng lẻ sẽ gặp rất nhiều cản trở để xử lý hiệu quả loại tội phạm này khi chúng có thể vượt biên để trốn tránh trách nhiệm khiến cho việc thực thi pháp luật trở nên phức tạp. Điều này làm phát sinh nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia trong việc truy tìm, bắt giữ và chuyển giao tội phạm. Theo đó, nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong tố tụng hình sự quốc tế được thể hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Trước hết, dẫn độ là việc một quốc gia chuyển giao tội phạm đang có mặt trên quốc gia mình cho quốc gia khác để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người đó.[78] Mục đích của dẫn độ là để ngăn chặn việc tội phạm lợi dụng biên giới quốc gia để trốn tránh trách nhiệm, đồng thời đảm bảo những kẻ phạm tội được xét xử lại tại chính quốc gia nơi họ thực hiện hành vi phạm tội, trong trường hợp đặc biệt, tại cả những nước đã cấp quốc tịch cho người phạm tội hoặc người bị hại,...[79] Bên cạnh đó, chuyển giao người phạm tội được coi là hành động mang tính nhân đạo, theo đó cá nhân bị tuyên án hoặc phạt tù tại nước ngoài sẽ được chuyển về quốc gia họ mang quốc tịch nhằm tạo sự thân thuộc và tái hòa nhập xã hội sau khi được trả tự do.[80] Ngoài ra, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự còn bao gồm tương trợ tư pháp hình sự với các hoạt động như thẩm vấn người phạm tội, thu nhập, chuyển giao tài liệu, giấy tờ và vật chứng, lấy lời khai nhân chứng và các biện pháp điều tra khác. 2.3.2 Thẩm quyền tài phán phổ quát - Universal Jurisdiction Thẩm quyền hình sự phổ quát cho phép một số quốc gia truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm bất kể nơi xảy ra hành vi phạm tội hay quốc tịch của người phạm tội đó.[81] Đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong luật hình sự quốc tế như tra tấn, diệt chủng, tội ác chống lại nhân loại và tội ác chiến tranh, đây là nhóm tội ác quốc tế mà các quốc gia có nghĩa vụ thiết lập thẩm quyền tài phán phổ quát. Theo bốn Công ước Geneva 1949, mỗi quốc gia thành viên có nghĩa vụ truy tìm những người bị cáo buộc đã phạm tội hoặc đã ra lệnh phạm tội phải xét xử trước tòa án quốc gia bất kể quốc tịch của họ, hoặc chuyển giao họ cho các quốc gia thành viên khác có liên quan để xét xử nếu quốc gia đó có đủ căn cứ sơ bộ. Các công ước Geneva và Nghị định thư bổ sung I (1977) không nêu trực tiếp nghĩa vụ xét xử bất kể nơi xảy ra hành vi phạm tội,[82] nhưng trong các cách hiểu được thừa nhận rộng rãi thì cho rằng quyền tài phán phổ quát phải được nội luật hóa đối với các vi phạm nghiêm trọng.[83] Theo thống kê của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC), hiện nay đã có hơn 115 quốc gia ghi nhận và thừa nhận thẩm quyền này trong pháp luật quốc gia của mình.[84] Vào năm 2020, lần đầu tiên, Anwar R - cựu trưởng phòng Điều tra của Syria đã bị kết án tù chung thân về tội ác chống lại nhân loại, cụ thể là đồng phạm trong các tội tra tấn, 27 vụ giết người và các vụ bạo lực tình dục. Phiên tòa xét xử Anwar R. do Tòa án Khu vực Cấp cao tại Koblenz (Đức) tiến hành đã mang lại niềm hy vọng mới cho người dân Syria về sự hiện hữu của công lý, đồng thời cho thấy nguyên tắc thẩm quyền tài phán phổ quát có thể được vận dụng hiệu quả trong thực tiễn. Qua vụ việc này, theo nhận định của Trung tâm Châu Âu về Quyền Hiến định và Nhân quyền (European Center for Constitutional and Human Rights – ECCHR), thẩm quyền tài phán phổ quát được xem là một giải pháp khả thi, thậm chí là biện pháp cuối cùng, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất.[85] 3. Đánh giá hiệu quả, thách thức và định hướng tăng cường cơ chế thực thi (500 từ) 3.1. Hiệu quả thực thi và giới hạn của ICC Những vụ việc đã được xử lý trong lĩnh vực hình sự quốc tế cho thấy các thiết chế hình sự quốc tế, trong đó có ICC, có khả năng thực thi nhất định, song vẫn còn nhiều tranh luận về mức độ tác động của các thiết chế này đối với hành vi của các chế độ cầm quyền. Tổ chức này một mặt có bị cho là sự thỏa hiệp khi không có khả năng bắt giữ tội phạm mà nó truy tố, phần lớn phải dựa vào sự thiện chí, sự hợp tác của các quốc gia hữu quan để thực hiện sứ mệnh của mình.[86] Mặt khác, nghiêm trọng hơn, các ý kiến này lập luận rằng sự tồn tại của ICC có thể tạo ra tác động tiêu cực ngoài ý muốn, khi nó khuyến khích các nhà lãnh đạo thực hiện các hành vi tàn bạo tiếp tục nắm giữ quyền lực lâu hơn, thay vì từ chức để đổi lấy sự miễn trừ đối với các tội ác đã xảy ra trong quá khứ.[87] Tuy nhiên, không thể hợp lý hóa rằng sự tồn tại của ICC có thể tạo ra lợi thế chính trị giúp cho các nhà lãnh đạo duy trì quyền lực trong bối cảnh họ đang đối mặt với nguy cơ bị phế truất. Từ góc độ thẩm quyền tài phán, vướng mắc lớn nhất mà ICC phải đối mặt nằm ở khả năng can thiệp bị giới hạn khi các tội phạm quốc tế xảy ra tại các quốc gia không phải thành viên của Quy chế Rome. Tuy nhiên, những hạn chế này không đồng nghĩa với việc ICC hoàn toàn bất lực, chiếu theo Điều 17 Khoản 2 của Quy chế Rome, ICC vẫn có thẩm quyền thực thi thẩm quyền của mình đối với những vụ việc mà quốc gia liên quan “không có khả năng” hoặc “không có thiện chí” tiến hành điều tra và truy tố. Ngoài ra, hướng khắc phục khác như việc kích hoạt thẩm quyền thông qua Hội đồng Bảo an theo Chương VII Hiến chương Liên Hợp Quốc,[88] mở rộng cách tiếp cận thẩm quyền theo lãnh thổ (rationale loci) đối với các hành vi liên quan xảy ra tại các quốc gia thành viên ICC mà không cần phụ thuộc vào quốc tịch người phạm tội,[89] cũng như vận dụng nguyên tắc dẫn độ hoặc xét xử (aut dedere aut judicare)[90] và các cơ chế điều tra pháp lý và chứng cứ cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong tương lai. 3.2. Hiệu quả thực thi và giới hạn của thẩm quyền tài phán phổ quát - Universal Jurisdiction. Đối quyền tài phán phổ quát cũng cho thấy nhiều cản trở trong việc thực thi nguyên tắc này một cách có hiệu quả. Trước hết là sự thiếu sót trong hệ thống pháp luật quốc gia.[91] Trên thực tế nhiều quốc gia không đưa tội phạm quốc tế vào pháp luật trong nước, trong khi thẩm quyền phổ quát chủ yếu hành dựa trên khả năng của các tòa án quốc gia trong việc truy tố các tội phạm quốc tế, điều này vô tình tạo điều kiện cho tội phạm trốn tránh trách nhiệm hình sự chạy trốn đến những quốc gia như vậy. Bên cạnh đó, việc thực thi thẩm quyền phổ quát còn gặp trở ngại do pháp luật quốc gia của nhiều nước chưa bao quát đầy đủ các tội phạm quốc tế nghiêm trọng, ví dụ ở các tòa án Ý chỉ có thẩm quyền áp dụng quyền tài phán phổ quát đối với tội ác chiến tranh trong phạm vi một số nhóm đối tượng hoặc trường hợp nhất định. Không những vậy, thủ tục bắt giữ và truy tố chậm chạp, kém hiệu quả cũng làm suy yếu hiệu lực của nguyên tắc này, khi nó tạo điều kiện cho người bị truy cứu đủ thời gian trốn tránh trách nhiệm hình sự. Nhiều quốc gia thiếu ý chí chính trị trong việc ban hành và thực thi pháp luật nhằm hiện thực hóa thẩm quyền phổ quát, do sự trì trệ của quy trình lập pháp và việc chưa nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của vấn đề. Ngoài ra, nguyên tắc thẩm quyền phổ quát có nguy cơ bị lạm dụng vì mục đích chính trị do quan điểm và lợi ích riêng của quốc gia đó chứ không chỉ đơn thuần dựa trên yêu cầu của công lý.[92] Việc áp dụng thiếu kiểm soát hoặc thiếu thận trọng có thể gây căng thẳng giữa các quốc gia, dẫn đến lạm dụng quy trình pháp lý và xâm phạm quyền con người, vì vậy thẩm quyền phổ quát cần được thực hiện một cách cẩn trọng để vừa hạn chế hệ quả tiêu cực vừa bảo đảm đạt được mục tiêu truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế. Sự thiếu vắng hoặc không đầy đủ của các quy định về dẫn độ cũng có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc thực thi nguyên tắc thẩm quyền phổ quát. Một số vụ truy tố tội phạm quốc tế không được tiến hành do quyền miễn trừ của các nguyên thủ quốc gia và quan chức cấp cao đương nhiệm.[93] Tiêu biểu, Trung Quốc nhấn mạnh nghĩa vụ tôn trọng quyền miễn trừ theo luật quốc tế của các quan chức nhà nước đương nhiệm khi thực thi quyền tài phán hình sự, kể cả đối với các tội phạm quốc tế nghiêm trọng. Lập trường này phù hợp với phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trong vụ Arrest Warrant (2002), theo đó Bộ trưởng Ngoại giao đương nhiệm được hưởng quyền miễn trừ khỏi thẩm quyền hình sự trước các tòa án quốc gia nước ngoài theo luật quốc tế tập quán. Tuy nhiên, quan điểm này lại tạo ra sự xung đột với Khoản 2 Điều 27 của Quy chế Rome rằng địa vị hay chức vụ của cá nhân không thể được viện dẫn để tránh trách nhiệm hình sự quốc tế. Cuối cùng, còn tồn tại vấn đề thiếu một cơ chế giám sát quốc tế đủ mạnh nhằm bảo đảm rằng các chuẩn mực của luật hình sự quốc tế được các quốc gia tuân thủ một cách hiệu quả.[94] Sẽ hữu ích hơn nếu các ủy ban được thành lập để giám sát việc thực thi các công ước quốc tế thể hiện sự cảnh giác cao hơn trong việc xử lý các trường hợp quốc gia không tuân thủ, nhằm bảo đảm rằng các tội phạm quốc tế không bị bỏ lọt do thiếu thẩm quyền tài phán hoặc do không có khả năng truy tố. 3.3. Định hướng tăng cường và hoàn thiện các cơ chế thực thi hình sự quốc tế Do tồn tại nhiều hạn chế mang tính cấu trúc và thực tiễn, các bất cập trong cơ chế thực thi hình sự quốc tế đang phản ánh nhu cầu phải hoàn thiện và tăng cường các cơ chế thực thi hiện hành nhằm đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của công lý hình sự quốc tế. Trước hết, do ICC gắn bó chặt chẽ với Quy chế Rome nên con đường pháp lý duy nhất để tăng cường thẩm quyền, cơ chế thực thi và hợp tác của Tòa án này là sửa đổi Quy chế Rome. Tuy nhiên, quy trình sửa đổi vô cùng nghiêm ngặt và phức tạp, sửa đổi chỉ có hiệu lực chỉ khi thông qua sự phê chuẩn hoặc chấp thuận của bảy phần tám quốc gia thành viên để đảm bảo tính chính danh và đồng thuận quốc tế của ICC.[95] Nhưng điều này cũng tiềm ẩn rủi ro suy giảm số lượng các quốc gia thành viên nếu một số quốc gia không chấp nhận sửa đổi và lựa chọn rút lui.[96] Bên cạnh đó, để ngăn chặn trường hợp bị cáo cố tình trốn tránh công lý, Tòa án ICC còn có cơ chế trial in absentia (“xét xử vắng mặt”). Mặc dù cơ chế này được xem là mâu thuẫn với nguyên tắc của luật hình sự hiện đại về sự vắng mặt của người bị xét xử, bắt nguồn từ phương châm audi alteram partem (“nghe ý kiến của bên kia”), theo đó người phạm tội phải được tham gia vào việc bào chữa cho mình.[97] Nhưng biện pháp này vẫn có thể được chấp nhận trong những trường hợp đặc biệt cùng với các đảm bảo nghiêm ngặt về mặt tố tụng, như việc thông báo đầy đủ, quyền tham gia bào chữa từ xa và khả năng mở lại vụ án.[98] Một ví dụ điển hình là Martin Bormann, một quan chức Đức Quốc xã và là thư ký riêng của Hitler, người đã bị kết án tội ác chiến tranh và tội ác chống loài người, và bị tuyên án tử hình bằng hình thức treo cổ tại các phiên tòa Nuremberg dù bị xét xử vắng mặt.[99] Việc cho phép xét xử vắng mặt bị cáo không chỉ bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân và giúp kết thúc các vụ án kéo dài do thiếu hợp tác của quốc gia mà còn tăng cường sức ép buộc các quốc gia và bị cáo phải hợp tác, nhất là khi các biện pháp trừng phạt được kèm theo. Ngoài ra, theo Điều 87(7) Quy chế Rome, các trường hợp không hợp tác có thể được chuyển tới Hội đồng các Quốc gia Thành viên (ASP) và trong một số trường hợp, tới Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UNSC).[100] Tuy nhiên, Quy chế hiện hành không quy định rõ các biện pháp cưỡng chế mà các cơ quan này có thể áp dụng. Trên thực tế, cơ chế của ASP hiện chủ yếu mang tính ngoại giao và giám sát, vẫn còn thiếu các công cụ ràng buộc pháp lý để ngăn chặn xử lý hành vi không hợp tác có thể làm suy giảm hiệu quả thực thi của ICC.[101] Vậy nên cần thiết phải sửa đổi Quy chế Rome để tăng cường vai trò thực thi của ASP, cho phép cơ quan này áp dụng các biện pháp trừng phạt rõ ràng đối với các quốc gia không hợp tác có thể kể đến như phạt tài chính, đình chỉ quyền biểu quyết và hạn chế các lợi ích liên quan.[102] Đồng thời, việc thiết lập cơ chế leo thang tự động lên UNSC trong các trường hợp không hợp tác nghiêm trọng hoặc tái diễn sẽ giúp hạn chế sự trì hoãn mang tính chính trị và gia tăng sức ép tuân thủ. Việc công khai hóa các trường hợp không hợp tác thông qua các phiên họp và báo cáo công khai cũng là một biện pháp răn đe quan trọng, góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các chính phủ và củng cố tính chính danh của ICC. Quyền phủ quyết của các Ủy viên thường trực UNSC cũng thường xuyên cản trở các hành động của ICC, đặc biệt trong những vụ việc liên quan đến các quốc gia có ảnh hưởng hoặc đồng minh của họ, đôi khi quyền này được sử dụng để ngăn chặn các cuộc điều tra của ICC.[103] Do đó, đã có nhiều sáng kiến quốc tế, trong đó tiêu biểu là Sáng kiến Pháp - Mexico và Bộ Quy tắc Ứng xử của Nhóm ACT (“Trách nhiệm, nhất quán và minh bạch”) , đã kêu gọi tự kiềm chế việc sử dụng quyền phủ quyết trong các tình huống tội ác nghiêm trọng hàng loạt như diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.[104] Tiếp đó, dù việc thực thi quyền tài phán phổ quát bị giới hạn bởi nhiều yếu tố như đã phân tích ở trên, việc kiên định thúc đẩy áp dụng hiệu quả nguyên tắc này vẫn là điều cần thiết nhằm đạt được mục tiêu cốt lõi của nó, nhằm chấm dứt tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với các tội ác nghiêm trọng. Do đó, cần xây dựng các biện pháp nhằm tăng cường việc áp dụng quyền tài phán phổ quát và phát triển một cơ chế thực thi vững chắc bảo đảm nguyên tắc này được hiện thực hóa. Trong bối cảnh việc đạt được sự thống nhất toàn cầu về áp dụng quyền tài phán phổ quát còn xa vời, một số học giả đề xuất các cơ chế thay thế chẳng hạn như việc thành lập các tòa án hình sự quốc tế ad hoc tương tự ICTY và ICTR, hoặc các tòa án hỗn hợp.[105] Tuy nhiên, các cơ chế này không thể được xem là giải pháp tối hậu, bởi trong nhiều trường hợp, quyền tài phán phổ quát vẫn là biện pháp cuối cùng và hiệu quả nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quốc tế. Một vài quan điểm được củng cố rằng các quốc gia có quyền theo luật tập quán quốc tế thực thi quyền tài phán phổ quát đối với một phạm vi hẹp các tội phạm quốc tế nghiêm trọng, đồng thời việc thực thi quyền tài phán đó phải chịu sự ràng buộc của những giới hạn hợp lý như nguyên tắc bổ trợ và việc loại trừ xét xử vắng mặt.[106] Trên cơ sở đó, đã đến lúc cộng đồng quốc tế cần tiến tới xây dựng một công ước quốc tế riêng về quyền tài phán phổ quát, trong đó, vừa ghi nhận thẩm quyền cơ bản của các quốc gia vừa thiết lập các cơ chế bảo đảm mang tính thể chế nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng. Công ước này có thể bao gồm, chẳng hạn, một hệ thống kiểm định quốc tế để đánh giá trước năng lực và điều kiện của các quốc gia mong muốn thực thi quyền tài phán phổ quát, cũng như trao cho một cơ quan tài phán quốc tế thẩm quyền xác định việc một quốc gia có thực sự không sẵn sàng hoặc không đủ khả năng tiến hành truy tố hay không, qua đó bảo đảm việc áp dụng nguyên tắc bổ trợ và ne bis in idem[107] (“không bị kết án hai lần cho một tội”) một cách khách quan và nhất quán. Kết luận: Qua phân tích thực tiễn, có thể nhận thấy hiệu quả thực thi Luật Hình sự Quốc tế không chỉ phụ thuộc vào thẩm quyền của ICC mà còn gắn liền với vai trò hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và năng lực thực thi của hệ thống tư pháp quốc gia. Hội đồng Bảo an có thể tạo cơ sở để ICC mở rộng thẩm quyền trong những tình huống nhất định, trong khi INTERPOL và các cơ chế hợp tác khác hỗ trợ trao đổi thông tin, truy tìm nghi phạm và phối hợp điều tra. Ở cấp quốc gia, hợp tác tư pháp hình sự và thẩm quyền tài phán phổ quát góp phần hạn chế những khoảng trống trong truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các cơ chế này vẫn đối mặt với những trở ngại như sự thiếu nhất quán trong hợp tác quốc tế, ảnh hưởng của lợi ích chính trị, khoảng trống trong pháp luật quốc gia và nguy cơ lạm dụng thẩm quyền. Vì vậy, cần kết hợp hoàn thiện pháp luật, tăng cường nghĩa vụ hợp tác và củng cố các cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình. Những vấn đề này là cơ sở để đánh giá tổng thể hiệu quả của cơ chế thực thi ICL và xác định các định hướng cải cách phù hợp. Danh mục tài liệu tham khảo [63] Điều 4 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế Rome [64] Thỏa thuận này được ký kết theo quy định của Điều 2 Quy chế Rome, về nội dung, xem Công báo của Tòa án Hình sự Quốc Tế, tài liệu https://asp.icc-cpi.int/sites/asp/files/asp_docs/Resolutions/ICC-ASP-ASP3-Res-01-ENG.pdf, truy cập ngày 9/1/2026. [65] Charter of the United Nations (adopted 26 June 1945, entered into force 24 October 1945) arts 24 and 39. [66] Rome Statute art 13(b). [67] UN, Role of United Nations Security Council in International Criminal Court among Issues Discussed This Afternoon at UN Conference (UN Press Release L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.htmll accessed 26 January 2026. [68] Điều 12 Quy chế Rome. [69] Situation in Darfur, Sudan, International Criminal Court (ICC) https://www.icc-cpi.int/darfur [70] ICC – Situation in Libya, International Criminal Court (ICC) https://www.icc-cpi.int/situations/libya; ‘War in Libya: how did it start and what happens next?’ The Guardian (18 May 2020) https://www.theguardian.com/world/2020/may/18/war-in-libya-how-did-it-start-what-happens-next truy cập 4/3/2026. [71] J. Mwangi, A Critical Analysis Of The United Nations Security Council’s Powers Of Deferral And Enforcement Under The Rome Statute – https://erepository.uonbi.ac.ke/bitstream/handle/11295/99928/Mwangi-A%20Critical%20Analysis…pdf , truy cập 4/3/2026 [72] IPI, The Relationship Between the ICC and the Security Council: Challenges and Opportunities (International Peace Institute March 2013) https://www.ipinst.org/wp-content/uploads/publications/ipi_e_pub_relationship_bet__icc_and_sc__2_.pdf, 6, truy cập 4/3/2026. [73] UN Security Council, Role of the United Nations Security Council in the International Criminal Court (UN Press Release L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.html, accessed 26 January 2026 (statements at the Rome Conference reflecting concerns regarding the role and extent of Security Council involvement in the ICC). [74] UN Security Council, Role of United Nations Security Council in International Criminal Court among issues discussed this afternoon at UN Conference (UN Press Release ST/DPI/PRESS/L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.html, accessed 26 January 2026 [75] United Nations General Assembly, Report of the Secretary-General on the Relationship between the United Nations and the International Criminal Court, UN Doc A/74/874 (2020) (discussing obligations of cooperation and limitations in the implementation of Security Council referral resolutions). [76] War crimes (INTERPOL) https://www.interpol.int/Crimes/War-crimes truy cập 4/3/2026. [77] Asia/Pacific Group on Money Laundering (APG), About the Role of APG (APG) https://www.apgml.org/about-us/role-apg truy cập 4/3/2026. [78] Khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007 [79] Nguyễn Ngọc Chí, Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam, tr 3. [80] Như trên, tr 4. [81] Universal jurisdiction (Max Planck Encyclopedia of International Procedural Law, Oxford University Press, 2022) https://opil.ouplaw.com/display/10.1093/law-mpeipro/e2259.013.2259/law-mpeipro-e2259 truy cập 4/3/2026. [82] Điều 85 Nghị định thư I Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, và liên quan đến việc bảo vệ nhân viên của các cuộc xung đột vũ trang quốc tế, Phần V Thi hành các Công ước và các Nghị định thư của nó, Mục II Trừng phạt các hành vi vi phạm Công ước và Nghị định thư này. [83] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế, Bình luận về Công ước Geneva thứ nhất: Công ước (I) về cải thiện tình trạng của người bị thương và người bệnh trong lực lượng vũ trang tại chiến trường (CUP Cambridge 2016). [84] Phạm vi và ứng dụng của nguyên tắc tài phán toàn cầu - Đại hội đồng Liên hợp quốc, kỳ bầu cử thứ 73, Ủy ban thứ sáu: Tuyên bố của Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế [85] European Center for Constitutional and Human Rights, ‘Syria trial in Koblenz: Life sentence for Anwar R for crimes against humanity’ (ECCHR, 13 January 2022) https://www.ecchr.eu/en/press-release/syria-verdict-anwar-r, truy ngày 4/3/2026. [86] Bethel Aregawi, ‘The Politicisation of the International Criminal Court by United Nations Security Council Referrals’ (ACCORD – Conflict Trends, 21 July 2017) https://www.accord.org.za/conflict-trends/politicisation-international-criminal-court-united-nations-security-council-referrals, truy cập ngày 4/3/2026. [87] Michael J. Gilligan, Is enforcement necessary for effectiveness? A model of the International Criminal Regime [88] Điều 13(b) Quy chế Rome. [89] Điều 12 Khoản 2 Điểm a, Quy chế Rome. [90] “Aut dedere aut judicare”: nguyên tắc của luật quốc tế theo đó quốc gia có nghĩa vụ hoặc dẫn độ người bị cáo buộc phạm tội quốc tế nghiêm trọng, hoặc tự mình tiến hành điều tra và truy tố, nhằm ngăn chặn tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với bốn loại tội phạm nghiêm trọng trong luật hình sự quốc tế, https://legal.un.org/ilc/texts/instruments/english/reports/7_6_2014.pdf . [91] Universal Jurisdiction: The duty of states to enact and enforce legislation: Chapter 14: Overcoming obstacles to implementing universal jurisdiction, https://www.amnesty.org/en/documents/IOR53/017/2001/en/ [92] Dalila V Hoover, ‘Universal Jurisdiction not so Universal: A Time to Delegate to the International Criminal Court’ (Cornell Law School Inter-University Graduate Student Conference Papers, 2011), 14 https://scholarship.law.cornell.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1081&context=lps_clacp ,truy cập ngày 4/3/2026 [93] https://www.icj-cij.org/node/101536 ; xem thêm tại, Dissenting opinion of Judge ad hoc, Van den Wyngaert in Case Concerning the Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of Congo v. Belgium), Judgment, I.C.J. Reports, 2002, p. 3, 166, available at, Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of the Congo v Belgium), Judgment, ICJ, 14 February 2002, para 25 https://www.icj-cij.org/public/files/case-related/121/121-20020214-JUD-01-00-EN.pdf truy cập 4/3/2026. [94] Hoover, tldd 20 [95] Điều 121 Quy chế Rome [96] Emma Askarisirchi, ‘International Criminal Court (ICC) and the Pursuit of Global Justice: “A Court Worth Having” — Predicaments to the Court’s Enforcement and Frameworks for Improving Compliance’ (Columbia Human Rights Law Review, 2025) https://hrlr.law.columbia.edu/files/2025/11/Askarisirchi_Frameworks-for-Improving-ICC_Final-Upload.pdf truy cập 4/3/2026. [97] Frederick F. Schauer, English Natural Justice and American Due Process: An Analytical Comparison, 18 WM. & MARY L. REV. 47, 49 (1976). [98] như trên, 57- 58. [99] Fact Sheet: Martin Bormann (TRIAL INT’L, 22 December 2019) https://web.archive.org/web/20191222215945/https://trialinternational.org/latestpost/martin-bormann (perma.cc/YU6S-DUM4) truy cập 4/3/2026. [100] Điều 87(7) Quy chế Rome. [101] International Criminal Court Assembly of States Parties [ASP], Report of the Bureau on Non-Cooperation, Report of the Bureau on Non-Cooperation, annex III. [102] Mặc dù nhiều nghiên cứu học thuật đã phân tích vai trò và mức độ ảnh hưởng của ASP đối với hoạt động của ICC, đặc biệt là những lo ngại liên quan đến tính độc lập của Công tố viên, các nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở bình diện thể chế hoặc cải cách chung. Theo hiểu biết của tác giả, hiện vẫn chưa có công trình nào đề xuất việc sửa đổi trực tiếp Quy chế Rome nhằm tăng cường quyền thực thi và cưỡng chế của ASP trong các trường hợp không hợp tác. Xem tại Hannah Woolaver & Emma Palmer, Challenges to the Independence of the International Criminal Court from the Assembly of States Parties, 15 J. INT'L CRIM. JUST. 641, 645–46, 659–64 (2017) [103] Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, phiên họp thứ 7180, SC/11407 (ngày 22 tháng 5 năm 2014) (tóm tắt cuộc họp mà Hội đồng Bảo an không thể chuyển tình hình ở Syria cho Tòa án Hình sự Quốc tế mặc dù gần như nhất trí ủng hộ do hai phiếu phủ quyết); Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, phiên họp thứ 5619, SC/8939 (tóm tắt cuộc họp mà Hội đồng Bảo an không thể thông qua dự thảo nghị quyết về Myanmar một phần do các phiếu phủ quyết) [104] UNGA Res/GA/12500 (26 April 2023), 77th sess, 68th & 69th mtgs. [105] Noora Arajarvi, Looking back from nowhere; Is there a future for universal jurisdiction over international crimes, 16 TILBURG L.R.5, 5-9 (2011). [106] https://www.legal-tools.org/doc/44a03d/pdf, (7. Looking ahead: Creation of Institutional Safeguards for the Exercise of Universal Jurisdiction), Universal Jurisdiction over International Crimes and the Institut de droit international 5 (TẠM) [107] Art 20, Rome Statute; Khi một tòa án hình sự quốc gia đã ra phán quyết cuối cùng trong một vụ án dựa thuần túy trên quyền tài phán phổ quát, thì nguyên tắc ne bis in idem (một người không bị xét xử hai lần vì cùng một hành vi) cần được áp dụng để ngăn việc người đó bị truy tố lại ở một quốc gia hoặc cơ quan tài phán khác, Lê Thị Thắm, Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền tài phán quốc gia, tr 47.

  • [91] CƠ CHẾ THỰC THI TRONG LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ (PHẦN I)

    Tác giả: Phạm Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Hiền, Kiều Thu Chang Tóm tắt: Trong bối cảnh hiện nay, khi xung đột vũ trang và các cuộc khủng hoảng chính trị tiếp tục diễn ra trên nhiều khu vực, việc hiểu rõ cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế (International Criminal Law - ICL) đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tới đảm bảo công lý toàn cầu. Bài viết sẽ đưa ra nội dung tổng quan nhất về cơ chế thực thi trong ICL, bao gồm cơ sở pháp lý của cơ chế thực thi trong ICL, cũng như các phương thức thực thi thông qua Tòa án Hình sự quốc, tổ chức quốc tế, và hệ thống tư pháp quốc gia. Trong quá trình phân tích, nhóm tác giả đồng thời tham khảo các án lệ trước đó và qua đó, nhóm tác giả sẽ đánh giá hiệu quả, hạn chế và đề xuất các hướng đi nhằm tăng cường khả năng thực thi ICL trong bối cảnh tội phạm quốc tế hiện nay. Bài viết được chia thành hai phần xuất phát từ sự khác biệt giữa phương diện pháp lý và phương diện thực tiễn của cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế (ICL). Phần thứ nhất tập trung làm rõ cơ sở pháp lý, thẩm quyền và các cơ chế thực thi chủ yếu, đặc biệt là vai trò của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), qua đó xác định khuôn khổ thể chế và những nguyên tắc chi phối việc truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế. Trên nền tảng đó, phần thứ hai chuyển trọng tâm sang cách thức các cơ chế này được vận hành trong thực tiễn, thông qua vai trò của các tổ chức quốc tế, sự hợp tác giữa các quốc gia và việc áp dụng thẩm quyền tài phán quốc gia. Cách tiếp cận này giúp bài viết tránh trộn lẫn việc mô tả quy định pháp luật với đánh giá hiệu quả thực thi, đồng thời làm rõ khoảng cách giữa sự tồn tại của cơ chế pháp lý và khả năng bảo đảm trách nhiệm hình sự trên thực tế. Từ đó, bài viết có cơ sở đánh giá toàn diện hơn những hạn chế và đề xuất giải pháp phù hợp. Trong phần 1, bài viết phân tích cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế (ICL) trên cơ sở khung pháp lý quốc tế và thực tiễn hoạt động của các thiết chế tài phán. Trên cơ sở Quy chế Rome năm 1998, các Công ước Geneva năm 1949, Hiến chương Liên hợp quốc và pháp luật quốc gia, bài viết làm rõ tính chất đa tầng, phi tập trung của cơ chế thực thi ICL, trong đó Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và hệ thống tư pháp quốc gia giữ vai trò bổ trợ lẫn nhau. Thông qua phân tích thẩm quyền ban hành lệnh bắt giữ, nghĩa vụ hợp tác quốc tế, thủ tục tuyên hình phạt và tình hình Darfur, bài viết chỉ ra khoảng cách giữa thẩm quyền pháp lý của ICC và khả năng thực thi trên thực tế. Đồng thời, nguyên tắc bổ sung được xem xét như cơ sở để ICC can thiệp khi quốc gia không thực sự sẵn sàng hoặc không đủ khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ đó, bài viết nhận diện những hạn chế pháp lý, thể chế và chính trị ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi ICL. Mở đầu Luật Hình sự Quốc tế (International criminal law - ICL) là một nhánh luật đặc biệt được hình thành từ sự giao thoa giữ Luật Quốc tế và Luật Hình sự quốc gia nhằm quy trách nhiệm hình sự cá nhân đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.[1] Tuy nhiên, trong bối cảnh trật tự pháp lý quốc tế không tồn tại một cơ quan cưỡng chế tập trung hay một hệ thống thực thi thống nhất giữa các quốc gia,[2] vấn đề đảm bảo hiệu lực các quy phạm của ICL luôn đặt trong nhiều thách thực cả về pháp lý lẫn chính trị.[3] Xuất phát từ đặc điểm này, việc nghiên cứu cơ chế thực thi trong ICL giúp nhận diện và giải quyết các thách thức trong nghĩa vụ hợp tác quốc tế, từ việc bắt giữ, di lý nghi phạm đến thu thập chứng cứ xuyên biên giới, đồng thời đảm bảo công lý hình sự quốc tế được thực thi một cách nhất quán và công minh trên phạm vi toàn cầu.[4] Bài viết này sẽ đi sâu phân tích vào cơ chế thực thi của ICL thông qua Tòa án Hình sự quốc (International Criminal Court - ICC) và vai trò hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc duy trì công lý hình sự toàn cầu. Sau đó, bài viết cũng sẽ phân tích cơ chế thực thi gián tiếp thông qua quốc gia, nhằm đưa tới nội dung tổng quan nhất về cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế. Khung pháp lý của cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế 1.1. Khái niệm và tính đặc thù cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế Mặc dù không có khái niệm chính thức về cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế, nhưng nhìn chung, cơ chế thực thi được hiểu là một hệ thống đa tầng bao gồm các quy tắc, thủ tục điều chỉnh việc điều tra và truy tố quốc tế các tội phạm, bao gồm tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh và tội xâm lược…[5] Cơ chế này không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các chế tài trừng phạt mà còn bao quát toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án.[6] Về tính đặc thù, khác với Luật Hình sự quốc gia, ICL hoạt động trong một hệ thống “ngang”, nơi thiếu vắng một bộ máy cưỡng chế tập trung và lực lượng cảnh sát toàn cầu.[7] Và việc thực thi luật hình sự trên bình diện quốc tế hoàn toàn dựa trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia.[8] Chính vì thế, cơ chế thực thi của ICL được phân tách thành hai hệ thống bổ trợ: thực thi gián tiếp thông qua các tòa án quốc gia và thực thi trực tiếp thông qua các thiết chế tư pháp quốc tế.[9] Trong hệ thống này, việc thực thi thông qua tòa án quốc gia được coi là phương thức quan trọng nhất dựa trên nguyên tắc tài phán phổ quát.[10] Trong khi đó, các thiết chế tư pháp quốc tế đóng vai trò như một cơ chế “dự phòng”, bởi mọi hoạt động từ bắt giữ nghi phạm, thu thập chứng cứ đến thi hành phán quyết đều phụ thuộc hoàn toàn vào nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia.[11] 1.2. Cơ sở pháp lý của cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế 1.2.1. Quy chế Rome ICL được xây dựng trên nền tảng của Điều 38(1) Quy chế Toà án Công lý Quốc tế (ICJ), bao gồm các điều ước quốc tế đa phương, tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung.[12] Trong đó, Quy chế Rome năm 1998 về Tòa án Hình sự Quốc tế (International Criminal Court - ICC) đóng vai trò là văn kiện trung tâm, không chỉ định nghĩa các tội phạm mà còn thiết lập khung khổ cho quá trình tố tụng và hợp tác quốc tế.[13] Theo Điều 1 và Điều 17 của Quy chế Rome, thẩm quyền của ICC mang tính chất bổ sung.[14] Đặc biệt theo Điều 17, Tòa ICC sẽ chỉ thụ lý vụ việc khi hệ thống tư pháp quốc gia “không sẵn lòng” (unwillingness)[15] hoặc “không đủ khả năng” (inability)[16] thực hiện tố tụng một cách thực thụ, và tòa cũng không thụ lý vụ việc nếu xét thấy vụ việc không đủ mức nghiêm trọng để tiến hành các bước tố tụng tiếp theo.[17] Mặc dù có thẩm quyền quốc tế rộng lớn nhưng ICC không có lực lượng cưỡng chế độc lập, thay vào đó mọi hoạt động từ bắt giữ, thu thập chứng cứ đến thi hành án đều phụ thuộc vào các điều khoản về Nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia thành viên.[18] Như vậy, Quy chế Rome đóng vai trò như nền tảng pháp lý cho sự ra đời của Tòa ICC và các thiết chế thực thi trong ICL. 1.2.2. Các công ước Geneva năm 1949 và Nghị định thư bổ sung Mặc dù hệ thống các Công ước Geneva năm 1949 và các Nghị định thư bổ sung năm 1977 thuộc nhánh Luật Nhân đạo quốc tế (International Humanitarian Law - IHL), nhưng việc xem xét các Công ước này trong cơ chế thực thi của ICL là cần thiết, bởi chúng là nền tảng xác định nội dung của tội ác chiến tranh và thiêt lập nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự cấp quốc gia.[19] Thông qua cơ chế “vi phạm nghiêm trọng” (grave breaches)[20] được quy định cụ thể tại các Điều 49 (Công ước I), Điều 50 (Công ước II), Điều 129 (Công ước III) và Điều 146 (Công ước IV), đã thiết lập nghĩa vụ pháp lý cốt lõi: Mỗi quốc gia có trách nhiệm tìm kiếm những người bị cáo buộc đã thực hiện hoặc ra lệnh thực hiện các hành vi vi phạm nghiên trọng và phải đưa họ ra xét xử trước tòa án của chính mình, bất kể quốc tịch của họ là gì.[21] Ngoài ra, các điều khoản trên cũng tạo ra một dạng tài phán phổ quát cho phép và bắt buộc các quốc gia thực thi quyền tư pháp đối với tội phạm chiến tranh ngay cả khi tội phạm đó không xảy ra trên lãnh thổ của họ hoặc không do công dân của họ thực hiện, thông qua nghĩa vụ truy tố hoặc dẫn độ (aut dedere aut judicare).[22] Ngoài ra, Nghị định thư bổ sung I (AP I) và II (AP II) năm 1977 cũng đã củng cố nghĩa vụ quốc gia trong việc truy cứu tội phạm và phối hợp quốc tế, đồng thời làm rõ trách nhiệm cá nhân của người chỉ huy và các tác nhân tham gia xung đột.[23] Có thể thấy, Quy chế Rome ra đời không thay thế các Công ước Geneva năm 1949 mà kế thừa trách nhiệm hình sự đã được hình thành trong IHL.[24] Ví dụ, trong trường hợp xét xử tội ác chiến tranh, Quy chế Rome điều chỉnh thẩm quyền và thủ tục của Tòa ICC, trong khi nội dung cấu thành tội phạm vẫn dựa trên các quy phạm của IHL. Do đó, không tồn tại quan hệ “ưu tiên loại trừ” giữa hai hệ thống này. 1.2.3. Hiến chương Liên Hợp Quốc và vai trò của Hội Đồng Bảo An Vai trò của Hội đồng Bảo an (HĐBA) trong cơ chế thực thi ICL bắt nguồn trực tiếp từ thẩm quyền được trao theo Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc.[25] Theo các nghị quyết 827 (2003) và 955 (2004) của HĐBA, thì HĐBA có quyền thiết lập các tòa án đặc thời (như ICTY và ICTR) hoặc chuyển hồ sơ vụ việc sang ICC theo Điều 13(b) của Quy chế Rome, ngay cả khi quốc gia liên quan chưa phê chuẩn Quy chế.[26] Điều này không đồng nghĩa với việc Quy chế Rome tự mở rộng hiệu lực ràng buộc của mình đối với các quốc gia không là thành viên, thay vào đó, nghĩa vụ phát sinh từ nghị quyết của HĐBA vốn có giá trị ràng buộc đối với tất cả quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc theo Điều 25 Hiến chương.[27] Hơn nữa, Điều 103 Hiến chương quy định rằng trong trường hợp có xung đột giữa nghĩa vụ theo Hiến chương và nghĩa vụ theo bất kỳ thỏa thuận nào khác, nghĩa vụ theo Hiến chương được ưu tiên áp dụng.[28] Thực tiễn thực thi đã chứng minh điều này qua các các vụ việc tại Darfur (Sudan) theo Nghị quyết 1593 và tình hình tại Libya theo Nghị quyết 1970, khi mà Tòa ICC khẳng định thẩm quyền ngay cả khi các quốc gia này chưa phê chuẩn Quy chế Rome.[28] 1.2.4. Pháp luật quốc gia Việc thực thi ICL về bản chất là một quá trình gián tiếp, đòi hỏi các quốc gia phải nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế. Các đạo luật thực thi (implementing legislation) của quốc gia chính là cơ sở pháp lý trực tiếp để các cơ quan cảnh sát và tòa án trong nước tiến hành bắt giữ và xét xử tội phạm quốc tế.[30] Nếu thiếu các văn bản pháp luật nội địa cụ thể, nhiều quốc gia theo truyền thống nhị nguyên không thể trực tiếp áp dụng các điều ước quốc tế như Quy chế Rome để quy trách nhiệm hình sự cho cá nhân.[31] Tóm lại, cơ sở pháp lý của cơ chế thực thi trong ICL là một cấu trúc đa tầng, bao gồm (1) Quy chế Rome trong việc thiết lập thẩm quyền, định nghĩa các tội phạm quốc tế và quy trình tố tụng của Tòa ICC; (2) Công ước Geneva 1949, các Nghị định thư bổ sung năm 1977; Và (3) Hệ thống pháp luật quốc gia - thực hiện bắt giữ, truy tố và thi hành án. Bên cạnh đó, Hiến chương Liên Hợp Quốc và HĐBA đóng vai trò bổ trợ, cho phép thiết lập tòa án đặc biệt hoặc chuyển vụ việc sang Tòa ICC trong các tình huống cần thiết. 2. Các cơ chế thực thi trong thực tiễn 2.1 Thực thi thông qua Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) 2.1.1 Cơ chế thực thi của ICC a) Ban hành lệnh bắt giữ và trát triệu tập Theo Điều 58 Quy chế Rome, ICC có thẩm quyền ban hành lệnh bắt giữ hoặc trát triệu tập đối với cá nhân bị cáo buộc đã thực hiện các tội phạm thuộc thẩm quyền của Toà án. Việc ban hành lệnh bắt giữ được thực hiện khi Phòng Tiền xét xử xác định có căn cứ hợp lý cho rằng cá nhân đó đã phạm tội và việc bắt giữ là cần thiết nhằm đảm bảo sự hiện diện của người đó trước Toà, ngăn chặn hành vi cản trở điều tra hoặc ngăn ngừa việc tiếp tục phạm tội.[32] Trong trường hợp các điều kiện nghiêm ngặt của lệnh bắt giữ không cần thiết, Quy chế Rome cho phép Phòng Tiền xét xử ban hành trát triệu tập khi có căn cứ hợp lý cho rằng người bị cáo buộc đã thực hiện hành vi phạm tội và việc ra hầu có thể được bảo đảm trên cơ sở tự nguyện.[33] Biện pháp này phản ánh nỗ lực của ICC trong việc giảm thiểu sự can thiệp cưỡng chế không cần thiết vào quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, thẩm quyền lựa chọn giữa lệnh bắt giữ và trát triệu tập của Phòng Tiền xét xử không mang tính tuyệt đối, mà bị giới hạn bởi phạm vi yêu cầu của Công tố viên. Theo án lệ của Phòng Phúc thẩm ICC trong vụ Prosecutor v. Germain Katanga, Phòng Tiền xét xử không có thẩm quyền tự ý thay thế yêu cầu ban hành lệnh bắt giữ bằng trát triệu tập khi Công tố viên không đề nghị biện pháp này.[34] Ngược lại, vụ Abu Garda lại minh hoạ trường hợp Công tố viên chủ động điều chỉnh yêu cầu từ lệnh bắt giữ sang trát triệu tập do người bị cáo buộc cam kết tự nguyện ra trình diện, qua đó mở ra cơ sở để Phòng Tiền xét xử xem xét áp dụng ít biện pháp cưỡng chế hơn.[34] Trong bối cảnh đó, Phòng Tiền xét xử cho rằng trát triệu tập là đủ để bảo đảm sự có mặt của người bị triệu tập trước Tòa, đồng thời vẫn bảo lưu quyền xem xét lại quyết định này nếu các nghĩa vụ theo trát triệu tập không được tuân thủ.[35] b) Yêu cầu quốc gia thành viên hợp tác Cơ chế thực thi của ICC được xây dựng trên nền tảng nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia thành viên theo Phần IX Quy chế Rome.[36] Khi gia nhập Quy chế, các quốc gia thành viên đã chấp nhận nghĩa vụ hợp tác đầy đủ với ICC trong việc điều tra và truy tố các tội phạm thuộc thẩm quyền của Toà án.[37] Nghĩa vụ hợp tác này mang tính chung và bắt buộc, áp dụng đối với tất cả các quốc gia thành viên và không phụ thuộc vào việc quốc gia đó có trực tiếp liên quan đến vụ việc hay không.[38] Quy chế Rome yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện nghĩa vụ này một cách kịp thời và thiện chí, đồng thời không được viện dẫn pháp luật quốc gia để biện minh cho việc không thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã cam kết.[39] Ngoài ra, các quốc gia thành viên còn có nghĩa vụ hỗ trợ ICC trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ, bao gồm tài liệu, lời khai và các hình thức hỗ trợ điều tra khác trên lãnh thổ quốc gia. Các quốc gia cũng phải hỗ trợ xác định, phong tỏa và tịch thu tài sản liên quan đến tội phạm nhằm phục vụ cho hoạt động xét xử và cơ chế bồi thường cho nạn nhân.[40] Bảo vệ nhân chứng và nạn nhân là một cấu phần quan trọng khác của nghĩa vụ hợp tác.[41] Các quốc gia thành viên có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho nhân chứng, đặc biệt trong các vụ án liên quan đến tội ác chiến tranh và tội ác chống loài người. Nghĩa vụ này thể hiện xu hướng lấy nạn nhân làm trung tâm trong công lý hình sự quốc tế hiện đại. Mặc dù nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia thành viên được quy định tương đối chi tiết và chặt chẽ trong Quy chế Rome, cơ chế thực thi của ICC vẫn mang tính phi tập trung và phụ thuộc gần như hoàn toàn vào hành vi của các quốc gia.[42] Việc thiếu một cơ chế cưỡng chế độc lập khiến ICC sở hữu quyền lực pháp lý đáng kể trên phương diện danh nghĩa, nhưng lại gặp nhiều giới hạn nghiêm trọng trong việc chuyển hóa quyền lực đó thành hiệu quả thực thi trong thực tiễn.[43] c) Tuyên hình phạt Quy chế Rome của ICC về nguyên tắc không loại trừ thủ tục tuyên hình phạt một giai đoạn, khi quy định rằng sau khi có kết án, Hội đồng xét xử phải xem xét hình phạt thích đáng trên cơ sở chứng cứ và lập luận liên quan đã được trình bày trong quá trình xét xử.[44] Tuy nhiên, Quy chế cũng cho phép trong một số trường hợp bắt buộc, Hội đồng xét xử tổ chức phiên điều trần bổ sung về hình phạt để nghe thêm chứng cứ và lập luận của các bên, bao gồm cả ý kiến của nạn nhân theo Điều 75 và Quy tắc 93 Quy tắc Tố tụng và Chứng cứ của Tòa án Hình sự Quốc tế (Rules of Procedure and Evidence - RPE). Thời điểm tổ chức các phiên điều trần này do thẩm phán chủ toạ ấn định.[45] Trên thực tế, trong tất cả các vụ án đã tuyên hình phạt, ICC đều áp dụng quy trình hai giai đoạn, gồm bản án xác định trách nhiệm hình sự và một quyết định riêng về hình phạt.[46] Điều này phù hợp khi bị cáo bị kết án về nhiều tội danh, Tòa sẽ tuyên hình phạt riêng cho từng tội, đồng thời tuyên một hình phạt chung xác định tổng thời hạn chấp hành hình phạt tù.[47] Trong vụ Bemba, ngày 21 tháng 3 năm 2016, bị cáo bị tuyên có tội về hại tội ác chống loài người và ba tội ác chiến tranh. Với tư cách là chỉ huy quân sự có quyền lực và quyền kiểm soát hiệu quả, Bemba đã bị tuyên 18 năm tù; các mức hình phạt riêng cho từng tội dao động từ 16 đến 18 năm tù.[48] Ngoài ra, khi quyết định hình phạt, ICC còn xem xét đến một số yếu tố quan trọng khác. Trước hết, các tình tiết tăng nặng phải được chứng minh vượt quá nghi ngờ hợp lý và phải liên quan trực tiếp đến tội phạm cũng như cá nhân bị kết án.[49] Bên cạnh đó, Toà áp dụng nguyên tắc không trùng lặp, theo đó những yếu tố đã được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của tội phạm sẽ không tiếp tục được coi là tình tiết tăng nặng.[50] Đặc biệt, ICC cũng cân nhắc đến hoàn cảnh cá nhân của người bị kết án, bao gồm tuổi tác, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế - xã hội, nhằm bảo đảm việc tuyên hình phạt phù hợp với từng bị cáo cụ thể.[51] Đối với các tình tiết giảm nhẹ, Tòa trao cho Hội đồng xét xử quyền đánh giá rộng trong việc xác định các yếu tố này, miễn là chúng có mối liên hệ trực tiếp với bị cáo.[52] 2.1.2 Vụ việc Sudan (Darfur): Lệnh bắt của ICC và những hạn chế trong việc thi hành Ngọn lửa châm ngòi cho bạo lực ở Darfur xảy ra vào tháng 4 năm 2003 khi phiến quân tấn công sân bay al-Fashir, phá huỷ thiết bị quân sự và áp đảo quân đội Sudan.[53] Chính phủ Sudan, dưới thời Tổng thống độc tài Omar al-Bashir, đã phối hợp với các lực lượng dân quân Ả Rập tiến hành các chiến dịch đàn áp, tàn phá làng mạc và người Zaghawa, Masalit và Fur, những tộc người bị cho là ủng hộ phiến quân. Từ năm 2003 đến năm 2005, hàng ngàn ngôi làng đã bị phá huỷ, cư dân bị cưỡng hiếp, tấn công và sát hại.[54] Trước tình trạng bạo lực leo thang và các vi phạm nghiêm trọng trong luật nhân đạo quốc tế, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã can thiệp bằng cách thông qua Nghị quyết 1593 (2005), theo đó chuyển tình hình tại Darfur cho ICC. Trên cơ sở đó, Công tố viên ICC đã tiến hành điều tra và kết luận rằng có căn cứ hợp lý để tin rằng các tội ác nghiêm trọng, bao gồm tội ác chiến tranh, tội ác chống loài người và tội diệt chủng.[55] Mặc dù Sudan không phải là quốc gia thành viên của Quy chế Rome, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) vẫn có thẩm quyền tài phán đối với tình hình tại Darfur trên cơ sở Nghị quyết 1593 (2005) của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.[56] Trong khi đã có những nhận định mang tính pháp lý quan trọng, tiến trình thực thi công lý trong vụ án này vẫn gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng. Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) đã ban hành hai lệnh bắt giữ đối với Tổng thống Sudan Omar al-Bashir vào các năm 2009 và 2010 với cáo buộc diệt chủng, tội ác chống loài người và tội ác chiến tranh, tiến trình thực thi công lý trong vụ án này vẫn gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng.[57] Việc thi hành lệnh bắt giữ gần như bất khả thi, khi Al-Bashir vẫn tự do công du tới nhiều quốc gia thành viên của ICC như Nam Phi, Kenya, Uganda, Chad và Jordan, mà không bị bắt giữ hay dẫn độ, dù đã có yêu cầu hợp tác chính thức từ Toà án.[58] Điều này cho thấy sự mâu thuẫn giữa Điều 27 và Điều 98 của Quy chế Rome, cũng như với các quy tắc miễn trừ trong tập quán quốc tế. Theo Điều 27, tư cách chính thức (kể cả nguyên thủ) không miễn trừ trách nhiệm hình sự trước ICC.[59] Tuy nhiên, Điều 98(1) lại quy định rằng ICC không thể yêu cầu dẫn độ hoặc hỗ trợ nếu việc đó khiến quốc gia được yêu cầu vi phạm nghĩa vụ quốc tế về miễn trừ ngoại giao, trừ khi có sự đồng ý của quốc gia liên quan.[60] Kết quả là, dù ICC đã khẳng định có căn cứ hợp lý truy tố tội diệt chủng, vụ án vẫn bị đình trệ trên bình diện thủ tục. Điều này phản ánh mâu thuẫn cố hữu giữa lý tưởng công lý toàn cầu và thực tế chính trị quốc tế, đồng thời cho thấy Quy chế Rome, dù mang tính đột phá về pháp quyền, vẫn phụ thuộc nặng nề vào ý chí hợp tác của các quốc gia. 2.1.2 Thực thi thẩm quyền của tòa ICC trước sự thiếu hiệu quả của hệ thống tư pháp quốc gia Theo Điều 17 Quy chế Rome, Toà án Hình sự Quốc tế chỉ can thiệp khi quốc gia không sẵn sàng hoặc không có khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quốc tế. Quốc gia bị coi là không sẵn sàng truy tố khi quá trình điều tra, truy tố và xét xử chỉ mang tính hình thức, thể hiện qua việc bao che người phạm tội, né tránh trách nhiệm hình sự quốc tế hoặc đưa ra các phán quyết thiếu khách quan, không tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi.[61] Bên cạnh đó, quốc gia bị coi là không có khả năng truy tố khi hệ thống tư pháp của họ không đủ điều kiện để hoạt động hiệu quả, chẳng hạn như bị sụp đổ, thiếu cơ quan tố tụng độc lập hoặc thiếu cơ sở pháp lý. Trong hai trường hợp đó, toà ICC có thể thực hiện thẩm quyền nhằm bảo đảm việc thực thi luật hình sự quốc tế.[62] Kết luận phần 1: Từ những phân tích trên, có thể thấy cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế được xây dựng trên nền tảng pháp lý đa tầng, kết hợp giữa thẩm quyền của các thiết chế tài phán quốc tế, nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia và việc áp dụng pháp luật quốc gia. Trong cấu trúc đó, ICC giữ vai trò trung tâm trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền, nhưng nguyên tắc bổ sung và sự phụ thuộc vào hợp tác quốc gia cũng đặt ra những giới hạn đáng kể đối với khả năng thực thi của Tòa. Trường hợp Darfur cho thấy khoảng cách giữa việc ban hành các quyết định tư pháp và khả năng bảo đảm thi hành trên thực tế, đặc biệt khi các nghĩa vụ pháp lý đan xen với lợi ích chính trị và những tranh luận về quyền miễn trừ. Vì vậy, việc xác lập cơ sở pháp lý và thẩm quyền tài phán mới chỉ là điều kiện ban đầu để bảo đảm công lý hình sự quốc tế. Để đánh giá đầy đủ hiệu quả của cơ chế này, cần tiếp tục xem xét vai trò của các tổ chức quốc tế, sự phối hợp giữa các quốc gia và việc vận dụng thẩm quyền tài phán quốc gia trong thực tiễn thực thi. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1][2][3][4] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003) tr 1-2; xem thêm Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 3-21. [5][6] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010) tr. 4-5. [7][8][9] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 8. [10] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 50-62. [11] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 8. [12] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 9-12. [13] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 144. [14] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 153-155. [15] Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế năm 1998 (Quy chế Rome), Điều 17(1), “unless the decision resulted from the unwillingness or inability of the State genuinely to prosecute”; xem thêm Mohamed M El Zeidy, ‘The Principle of Complementarity: A New Machinery to Implement International Criminal Law’ (2002) 23 Michigan Journal of International Law 869, tr. 900 . Theo Mohamed M. El Zeidy, “không sẵn lòng” tập trung vào việc đánh giá thiện chí (good faith) của cơ quan quốc gia và Tòa án sẽ phải xem xét các yếu tố tại Điều 17(2) để xác định tính “thực sự” (genuinely) của sự “không sẵn lòng”. [16] Quy chế Rome Điều 17(3), “In order to determine inability in a particular case, the Court shall consider whether, due to a total or substantial collapse or unavailability of its national judicial system, the State is unable to obtain the accused or the necessary evidence and testimony or otherwise unable to carry out its proceedings.” Điều 17(3) quy định việc xác định “không đủ khả năng” sẽ được Tòa án xem xét trên cơ sở có hay không sự sụp đổ hoàn toàn, đáng kể hoặc tình trạng không sẵn có (unavailability) của hệ thống tư pháp quốc gia; xem thêm El Zeidy, ‘The Principle of Complementarity’ tr. 903. [17] Quy chế Rome Điều 17(1). Hai giới hạn bổ sung tính hợp lệ về thẩm quyền của Tòa ICC bao gồm (c) “The person has already been tried for the conduct”; và (d) “The case is not of sufficient gravity to justify further action by the Court.” [18] Quy chế Rome Điều 86 và Điều 88. [19] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 13, “Thus the modern law of human rights and a considerable part of international criminal law have a common base” trích trong William A. Schabas, ‘Criminal Responsibility for Violations of Human Rights’ in Janusz Symonides (ed.), Human Rights, International Protection, Monitoring, Enforcement (Aldershot, 2003), tr. 281. [20] Xem Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 348-350. Tại các tòa án đặc thời như ICTY, “vi phạm nghiêm trọng” là một phần quan trọng trong thẩm quyền vật chất (Điều 2 Quy Chế ICTY), và những hành vi thuộc “vi phạm nghiên trọng” phản ánh luật tập quán quốc tế và rằng buộc toàn thể cộng đồng. [21][22] Công ước Geneva (I) năm 1949 về cải thiện tình trạng của thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang trên bộ, Điều 49; Công ước Geneva (II) năm 1949 về cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển, Điều 50; Công ước Geneva (III) năm 1949 về đối xử với tù binh chiến tranh, Điều 129; Công ước Geneva (IV) năm 1949 về bảo hộ thường dân trong thời chiến, Điều 146. [23] Nghị định thư bổ sung I năm 1977 đối với các Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 về bảo hộ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang quốc tế (Nghị định thư I), Điều 85-87. [24] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 9-10. [25] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 9, “Security Council resolutions 827(2003) and 955(2004), which set up the ICTY and ICTR respectively, were adopted by the Security Council pursuant to its powers under Chapter VII of the UN Charter, and thus find their binding force in Article 25 of the Charter.” Tạm dịch “Các nghị quyết 827(2003) và 955(2004) của Hội đồng Bảo an, lần lượt thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ (ICTY) và Tòa án Hình sự Quốc tế về Rwanda (ICTR), đã được Hội đồng Bảo an thông qua theo quyền hạn của mình theo Chương VII của Hiến chương Liên hợp quốc, và do đó có hiệu lực ràng buộc theo Điều 25 của Hiến chương.” [26] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 163-164. [27] Hiến chương Liên Hợp Quốc, Điều 25; xem Mohamed M. El Zeidy, ‘The Principle of Complementarity: A New Machinery to Implement International Criminal Law’ (2002) 23 Michigan Journal of International Law 869, tr. 958, . [28] Hiến chương Liên Hợp Quốc, Điều 130 [29] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 166. [30] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr.1-2; xem thêm Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 6-7. [31] Nguyễn Thị Xuân Sơn, ‘Vấn đề gia nhập và thực thi Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quốc tế - Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia’ (2012) 28 Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học 228, tr. 228-239. [32] Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (được thông qua ngày 17 tháng 7 năm 1998, có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2002) Điều 58. [33] Tòa án Hình sự Quốc tế, ‘How the Court Works’ (Tòa án Hình sự Quốc tế, truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026) https://www.icc-cpi.int/about/how-the-court-works. [34] Quy chế Rome Điều 58(7). [35] The Prosecutor v Germain Katanga and Mathieu Ngudjolo Chui, ICC-01/04-01/07 OA 8, Tòa án Hình sự Quốc tế, Kháng án thẩm, 25 tháng 9 năm 2009, refworld.org/caselaw/icc/2009/en/70161 (truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026). [36] Prosecutor v Abu Garda (Phân khoa Sơ thẩm I, Decision on the Prosecutor’s Application under Article 58, 7 tháng 5 năm 2009) ICC-02/05-02/09-1, đoạn 37 https://www.legal-tools.org/doc/126792 [37] Prosecutor v Abu Garda (Phân khoa Sơ thẩm I, Decision on the Prosecutor’s application under art 58, 7 tháng 5 năm 2009) ICC-02/05-02/09-1, đoạn 38 https://www.legal-tools.org/doc/126792/ [38] Quy chế Rome Chương IX. [39] Quy chế Rome Điều 86. [40] Parliamentarians for Global Action, ‘Cooperation — Rome Statute of the International Criminal Court’ (Parliamentarians for Global Action, truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026), https://www.pgaction.org/rome-statute/cooperation.htm l. [41] Quy chế Rome Điều 27(2). [42] Quy chế Rome Điều 93. [43] Quy chế Rome Điều 68. [44] Như [40]. [45] William A Schabas, An Introduction to the International Criminal Court (NXB Đại học Cambridge, xuất bản lần thứ 5, 2017) 381–384. [46] Quy chế Rome Điều 76(1). [47] Lubanga Sentencing Judgment đoạn 20. Xem thêm William A Schabas, ‘Article 76’ trong Otto Triffterer (chủ biên), Commentary on the Rome Statute of the International Criminal Court (NXB C H Beck/Hart/Nomos, xuất bản lần thứ 2, 2008) 1413. [48] Oliver Windridge, Anja Bossow và Julinda Beqiraj, Sentencing Criteria in International Criminal Law: Towards Consistency, Certainty and Fairness (Bingham Centre for the Rule of Law, 2018), https://www.biicl.org/documents/2070_sentencing_report_final.pdf, truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026 [49] Quy chế Rome Phần 7. [50] Bemba Sentencing Decision đoạn 94. Cần lưu ý rằng bị cáo sau đó đã được trắng án khi kháng án; xem Prosecutor v Jean-Pierre Bemba Gombo (Judgment). [51] Prosecutor v Lubanga (Decision on Sentence) đoạn 33. [52] Prosecutor v Lubanga (Decision on Sentence) đoạn 35. [53] Prosecutor v Lubanga (Decision on Sentence) đoạn 56. [54] Prosecutor v Bemba (Decision on Sentence) đoạn 19. [55] Ahmad Sikainga, “The World’s Worst Humanitarian Crisis”: Understanding the Darfur Conflict’ Origins: Current Events in Historical Perspective (Tháng 2 năm 2009) https://origins.osu.edu/article/worlds-worst-humanitarian-crisis-understanding-darfur-conflict truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025 [56] SBS Vietnamese, Công lý cho các nạn nhân ở Darfur: ICC kết án chỉ huy quân đội phạm tội diệt chủng (podcast, SBS Vietnamese, truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025) https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/vi/podcast-episode/cong-ly-cho-cac-nan-nhan-o-dafur-icc-ket-an-chi-huy-dan-quan-pham-toi-diet-chung/1sfr4r09v. [57] Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Nghị quyết 1593 (2005), thông qua ngày 31 tháng 3 năm 2005 https://digitallibrary.un.org/record/544817 truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025 [58] Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Nghị quyết 1593 (2005), S/RES/1593 (2005) (thông qua ngày 31 tháng 3 năm 2005); Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế, 17 tháng 7 năm 1998, 2187 U.N.T.S. 90, Điều 13(b). [59] “Darfur Genocide,” World Without Genocide (không ngày tháng) https://worldwithoutgenocide.org/genocides-and-conflicts/darfur-genocide truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025. [60] Coalition for the International Criminal Court, ‘Omar Al-Bashir’ (Coalition for the International Criminal Court, truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025) https://www.coalitionfortheicc.org/cases/omar-albashir. [61] Quy chế Rome Điều 17(2). [62] Quy chế Rome Điều 17(3).

  • [90] DI DỜI CÓ KẾ HOẠCH TRƯỚC RỦI RO KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: BẢO ĐẢM VỀ NHÀ Ở VÀ PHỤC HỒI SINH KẾ TRONG TÁI ĐỊNH CƯ

    Tác giả: Nguyễn Văn Hiền Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn bảo đảm nhà ở, phục hồi sinh kế trong di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở các quy định pháp luật quốc tế về quyền có nhà ở thích đáng, quyền làm việc và các nguyên tắc liên quan đến di dời trong nước, bài viết xây dựng khung đánh giá gồm ba phương diện: an toàn và tính thích đáng của nhà ở; khả năng duy trì, phục hồi sinh kế; và sự tham gia, giám sát sau di dời. Thông qua việc xem xét các chính sách bố trí dân cư và một số trường hợp tái định cư tại khu vực, bài viết chỉ ra những khó khăn về hạ tầng thiết yếu, khả năng tiếp cận việc làm, thu nhập và sự phù hợp giữa phương án tái định cư với nhu cầu của người dân. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện tiêu chí lựa chọn địa điểm, cơ chế hỗ trợ sinh kế và giám sát dài hạn nhằm hướng tới quá trình di dời an toàn, công bằng và bền vững. Mở đầu: Ngày 13/10/2026, Ngày Quốc tế Giảm nhẹ rủi ro thiên tai với chủ đề “Resilience Starts at Home” nhấn mạnh vai trò của nhà ở trong việc bảo vệ con người trước các rủi ro thiên tai. Thông điệp này gợi mở rằng, khả năng chống chịu không chỉ nằm ở việc bảo đảm một nơi ở an toàn, mà còn ở khả năng duy trì cuộc sống và phục hồi sau khi rủi ro xảy ra. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng sạt lở, ngập lụt và xâm nhập mặn đặt ra yêu cầu di dời người dân khỏi những khu vực có nguy cơ cao. Tuy nhiên, di dời không đơn thuần là chuyển người dân đến nơi ở mới. Nếu thiếu hạ tầng thiết yếu hoặc không có điều kiện phục hồi hoạt động sản xuất, việc tái định cư có thể làm phát sinh những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Từ thực tiễn đó, bài viết “Di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long: Bảo đảm về nhà ở và phục hồi sinh kế trong tái định cư” tập trung phân tích thực tiễn triển khai và những hạn chế trong việc bảo đảm nhà ở, phục hồi sinh kế cho người dân. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng đảm bảo nhà ở và phục hồi sinh kế trong tái định cư và cơ chế thực hiện, hướng tới quá trình di dời không chỉ bảo vệ người dân trước rủi ro khí hậu mà còn bảo đảm điều kiện sống ổn định và bền vững tại nơi ở mới. 1. Cơ sở lý luận và khung pháp lý về di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu 1.1. Khái niệm và đặc điểm của di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu Biến đổi khí hậu và các nguy cơ thiên tai đặt ra yêu cầu xem xét lại những phương án bảo vệ cộng đồng không chỉ tại nơi cư trú hiện tại mà còn thông qua việc tổ chức di chuyển đến địa điểm an toàn hơn.[1] Trong nghiên cứu về thích ứng khí hậu, di dời có kế hoạch được xem là một phương án có thể được cân nhắc khi rủi ro tại nơi cư trú trở nên nghiêm trọng và việc tiếp tục sinh sống tại chỗ khó được bảo đảm an toàn trong dài hạn.[2] Theo tài liệu chính sách của Liên Hợp Quốc về di dời có kế hoạch trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hình thức di dời này có các đặc trưng cơ bản gồm tính tập thể, sự phối hợp của các chủ thể hỗ trợ, việc chuyển đến nơi ở mới có định hướng lâu dài và mối liên hệ với các nguy cơ khí hậu hiện hữu hoặc dự kiến trong tương lai.[3] Trên cơ sở đó, trong phạm vi bài viết, “di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu” được sử dụng như một khái niệm làm việc để chỉ quá trình được chuẩn bị và tổ chức nhằm chuyển cá nhân hoặc cộng đồng khỏi địa bàn có nguy cơ khí hậu đáng kể đến nơi cư trú an toàn hơn, đồng thời xem xét các điều kiện cần thiết để ổn định cuộc sống sau di dời.[4] Cần phân biệt di dời có kế hoạch với sơ tán khẩn cấp, di cư tự phát và tái định cư do Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích phát triển. Sơ tán khẩn cấp thường nhằm đưa người dân ra khỏi tình huống nguy hiểm trước mắt, trong khi di dời có kế hoạch hướng đến việc chuyển nơi cư trú có tính lâu dài và đòi hỏi xem xét những hệ quả phát sinh sau khi di chuyển.[5] Tương tự, không thể mặc nhiên áp dụng toàn bộ cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho mọi chương trình di dời do rủi ro khí hậu, bởi phạm vi áp dụng của pháp luật đất đai phụ thuộc vào căn cứ và hoàn cảnh pháp lý cụ thể của từng trường hợp.[6] Đặc điểm thứ nhất của di dời có kế hoạch là tính phòng ngừa, thể hiện ở việc xem xét rủi ro hiện tại và dự kiến để lựa chọn phương án bảo vệ người dân trước khi thiệt hại trở nên nghiêm trọng hơn.[7] Tuy nhiên, quyết định di dời không nên chỉ dựa trên sự hiện diện của nguy cơ thiên tai mà cần cân nhắc cả khả năng giảm thiểu rủi ro tại chỗ, mức độ ảnh hưởng đến cộng đồng và tính khả thi của địa điểm tiếp nhận. Theo đó, các phương án khả thi nhằm tránh hoặc giảm thiểu việc di dời cần được xem xét trước khi quyết định di chuyển người dân.[8] Đặc điểm thứ hai là tính dài hạn và đa chiều, bởi hiệu quả của di dời phụ thuộc không chỉ vào chất lượng nhà ở mà còn vào khả năng tiếp cận việc làm, dịch vụ thiết yếu và các nguồn lực cần thiết để duy trì cuộc sống.[9] Đặc điểm thứ ba là yêu cầu tham gia và tôn trọng nhu cầu của người bị ảnh hưởng, bởi người dân có thể chịu những tác động khác nhau tùy theo nghề nghiệp, nguồn thu nhập và mức độ phụ thuộc vào địa điểm cư trú cũ.[10] Vì vậy, việc di dời chỉ có thể được đánh giá đầy đủ khi xem xét đồng thời mức độ an toàn tại nơi ở mới, điều kiện phục hồi cuộc sống và vai trò của người dân trong các quyết định có ảnh hưởng trực tiếp đến họ. 1.2. Cơ sở pháp lý quốc tế về bảo đảm nhà ở và phục hồi sinh kế trong di dời có kế hoạch Pháp luật quốc tế về di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu không tập trung trong một điều ước riêng biệt, mà cần được xem xét từ các quy định về quyền con người kết hợp với những văn kiện hướng dẫn chuyên biệt về di dời. Trước hết, Điều 11(1) Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) ghi nhận quyền được hưởng mức sống thích đáng, bao gồm nhà ở thích đáng.[11] Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa xác định những yếu tố đánh giá nhà ở thích đáng, gồm tính bảo đảm pháp lý của việc cư trú, khả năng chi trả, điều kiện có thể ở được và vị trí phù hợp với việc làm, dịch vụ thiết yếu.[12] Đây là cơ sở để đánh giá liệu nơi ở sau di dời có thực sự đáp ứng nhu cầu sinh sống của người dân, thay vì chỉ bảo đảm việc bố trí một công trình nhà ở.[13] Bên cạnh đó, Các Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về Di dời Trong nước năm 1998 (Guiding Principles on Internal Displacement) đưa ra những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến quá trình di dời.[14] Nguyên tắc 7 yêu cầu xem xét các phương án khả thi nhằm tránh di dời và, khi không thể tránh khỏi, giảm thiểu phạm vi cũng như tác động bất lợi; văn kiện cũng đề cập đến điều kiện an toàn, thông tin, tham vấn và sự tham gia của người bị ảnh hưởng.[15] Nguyên tắc 18 quy định về mức sống thích đáng của người di dời, bao gồm khả năng tiếp cận chỗ ở cơ bản, nước uống an toàn, thực phẩm và dịch vụ vệ sinh.[16] Tuy nhiên, đây là bộ nguyên tắc hướng dẫn, không phải điều ước quốc tế độc lập có tính ràng buộc tự thân. Về chính sách khí hậu, Quyết định 1/CP.16 của Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu kêu gọi tăng cường hiểu biết, phối hợp và hợp tác liên quan đến di cư, di dời và tái định cư có kế hoạch do biến đổi khí hậu gây ra.[17] Dù vậy, văn kiện này không thiết lập một chế độ pháp lý toàn diện về nhà ở và phục hồi sinh kế sau di dời. Đối với sinh kế, Điều 6 và Điều 11 ICESCR lần lượt ghi nhận quyền làm việc và quyền được hưởng mức sống thích đáng, tạo cơ sở xem xét những ảnh hưởng của di dời đối với việc làm, thu nhập và điều kiện sống.[18] Nghiên cứu 14 trường hợp di dời do lũ lụt cho thấy kết quả sinh kế của người dân phụ thuộc vào cách thức tổ chức di dời và mức độ tham gia của cộng đồng. Không có một yếu tố riêng lẻ nào có thể bảo đảm thành công trong mọi trường hợp.[19] Kết quả này có thể được sử dụng làm cơ sở tham khảo khi xây dựng tiêu chí đánh giá, nhưng không thể được xem là căn cứ trực tiếp để xác định nghĩa vụ pháp lý quốc tế.[20] Từ các nguồn trên, bài viết sử dụng ba phương diện đối chiếu: (i) tính an toàn và thích đáng của nhà ở; (ii) khả năng duy trì việc làm, thu nhập và sinh kế; và (iii) sự tham gia, tiếp cận thông tin và bảo vệ người bị di dời.[21] Đây là khung phân tích do người viết tổng hợp từ các quy phạm và tài liệu nghiên cứu, không phải bộ tiêu chí thống nhất đã được pháp luật quốc tế chính thức ban hành.[22] 1.3. Các tiêu chí đánh giá việc bảo đảm nhà ở và sinh kế trong di dời có kế hoạch Thứ nhất, tiêu chí về an toàn và tính thích đáng của nhà ở gồm mức độ giảm thiểu nguy cơ tại địa điểm mới, chất lượng nhà ở, khả năng tiếp cận nước sạch và các dịch vụ thiết yếu, tính phù hợp của vị trí cư trú và khả năng chi trả của hộ gia đình.[23] Khi đánh giá điều kiện nhà ở sau di dời, cần xem xét không chỉ việc căn nhà có đáp ứng các tiêu chuẩn xây dựng an toàn hay không, mà còn cả việc nơi ở mới có bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cần thiết và giúp hộ gia đình ổn định cuộc sống lâu dài hay không.[24] Thứ hai, tiêu chí về duy trì và phục hồi sinh kế gồm khả năng tiếp tục nghề nghiệp, mức độ tiếp cận đất sản xuất và nguồn lực kinh tế, thay đổi thu nhập, chi phí phát sinh sau di dời và khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến nhà ở mới.[25] Việc đánh giá cần đặt các yếu tố này trong tương quan với điều kiện trước khi di dời, qua đó xác định liệu hộ gia đình có thể duy trì nguồn thu nhập [26];và từng bước ổn định đời sống tại nơi ở mới hay không. [27] Thứ ba, tiêu chí về sự tham gia và khả năng thực thi của khung pháp lý gồm việc người dân được cung cấp thông tin, có cơ hội tham gia vào quá trình lựa chọn phương án di dời, và được xác định rõ quyền lợi, cơ quan chịu trách nhiệm cùng cơ chế hỗ trợ có thể tiếp cận.[28]. Đồng thời, cần phân biệt giữa khoảng trống trong quy định pháp luật, sự thiếu liên kết giữa các nhóm quy định và khó khăn trong tổ chức thực hiện, bởi mỗi dạng vấn đề đòi hỏi cách giải quyết khác nhau.[29] 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn di dời có kế hoạch tại Đồng bằng sông Cửu Long 2.1. Khung chính sách về tái định cư trước rủi ro khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chịu tác động đan xen của lũ, sạt lở bờ sông, xâm nhập mặn, sụt lún và biến đổi chế độ dòng chảy; mức độ tổn thương còn chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thác tài nguyên, công trình kiểm soát lũ và sự phụ thuộc của sinh kế địa phương vào điều kiện tự nhiên.[30] Do đó, không nên quy mọi thiệt hại tại khu vực cho biến đổi khí hậu đơn thuần, mà cần xem xét tương tác giữa yếu tố khí hậu, điều kiện kinh tế – xã hội và hoạt động quản lý tài nguyên. Về chính sách, Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 đặt nền tảng cho định hướng phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Tiếp đó, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18/5/2022 phê duyệt Chương trình bố trí dân cư giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030. Đáng chú ý, Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 và Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26/6/2026 tiếp tục cụ thể hóa định hướng xử lý các rủi ro khí hậu tại khu vực này, trong đó đề cập đến việc sắp xếp, di dời dân cư khỏi những khu vực thường xuyên ngập úng hoặc có nguy cơ cao sụt lún, sạt lở, đồng thời ưu tiên đầu tư hạ tầng phục vụ di dời.[31] Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức di chuyển dân cư khỏi nơi có nguy cơ cao và ổn định đời sống tại nơi đến.[32] Chương trình Sống chung với lũ được triển khai từ năm 1996, hướng đến bố trí nơi ở cho người dân sống trong vùng thường xuyên ngập lũ. Một nghiên cứu ghi nhận chương trình đã hình thành hơn 1.000 cụm tái định cư cho khoảng 200.000 hộ.[33] Quy mô này cho thấy tái định cư không phải biện pháp mới ở ĐBSCL, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về khả năng duy trì sinh kế khi người dân chuyển khỏi không gian sản xuất quen thuộc. Một nghiên cứu khác tại xã Vĩnh Trí, tỉnh Long An và xã Long Thuận, tỉnh Đồng Tháp ghi nhận rằng chương trình có thể giúp các hộ có nhà ở an toàn hơn, song nhiều hộ được khảo sát gặp khó khăn về thu nhập, nợ vay và sự tham gia vào quyết định di dời.[34] Vì nghiên cứu này chỉ khảo sát hai địa bàn, các kết quả này nên được sử dụng như bằng chứng điển hình về rủi ro chính sách, không phải kết luận đại diện cho toàn bộ các khu tái định cư trong vùng.[35] Bên cạnh đó, di dời có tổ chức cần được phân biệt với di cư tự phát hoặc di cư để tìm việc làm.[36] Báo cáo của UNDP về di cư, tái định cư và biến đổi khí hậu tại Việt Nam cho thấy cần xem xét cả khu vực nơi đi và nơi đến khi xây dựng chính sách, bởi dịch chuyển dân cư có thể làm giảm ảnh hưởng trước thiên tai nhưng đồng thời tạo ra những thách thức mới về sinh kế và khả năng hòa nhập.[37] Vì vậy, phạm vi nghiên cứu này tập trung vào các chương trình bố trí dân cư có tổ chức tại ĐBSCL, thay vì mặc nhiên coi mọi trường hợp di cư trong vùng là hệ quả trực tiếp của biến đổi khí hậu. 2.2. Thực trạng bảo đảm nhà ở trong tái định cư Các chương trình bố trí dân cư đã tạo cơ sở để di chuyển hộ dân khỏi một số khu vực có nguy cơ thiên tai và hình thành các cụm dân cư có hạ tầng thiết yếu. Tuy nhiên, có nơi ở mới không đồng nghĩa với đã bảo đảm nhà ở thích đáng. Theo đó, đánh giá khu tái định cư cần vượt ra ngoài chỉ tiêu số hộ đã chuyển đến hoặc số căn nhà đã xây dựng.[38] Tại Long An và Đồng Tháp cho thấy việc bố trí nhà ở an toàn có thể đi kèm gánh nặng tài chính khi các hộ nghèo phải vay vốn để có đất hoặc xây dựng nhà. Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng vào quyết định về đối tượng và địa điểm tái định cư còn hạn chế trong các trường hợp được khảo sát.[39] Một nơi ở giảm nguy cơ sạt lở nhưng khiến hộ dân gánh nợ vượt khả năng trả nợ có thể tạo ra một dạng dễ bị tổn thương khác.[40] Một ví dụ cụ thể được Đài Truyền hình Việt Nam phản ánh năm 2017 là các khu tái định cư tại Cà Mau được xây dựng dở dang hoặc thiếu hạ tầng cơ bản.[41] Tại khu tái định cư Hương Mai, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tại thời điểm bài báo ghi nhận, chỉ gần 30 trong tổng số 261 hộ được cấp đất đã chuyển đến ở; một số nơi chưa có nước sinh hoạt, trong khi khoảng cách đến trường học gây khó khăn cho việc học của trẻ em.[42] Tình trạng hạ tầng xuống cấp hoặc không được khai thác hiệu quả còn xuất hiện trong những phản ánh sau đó tại Cà Mau. Theo Báo Cà Mau năm 2023, khu dân cư Hương Mai được đầu tư hạ tầng và bố trí 240 nền, nhưng sau hơn mười năm chỉ có 121 hộ xây nhà; hệ thống cấp nước đã ngừng hoạt động trong ba năm tính đến thời điểm bài báo, còn hệ thống thoát nước có nơi bị hư hỏng và tắc nghẽn.[43] Bài báo cũng ghi nhận người dân đã có nơi ở ổn định hơn trước thiên tai nhưng vẫn thiếu đất sản xuất, khó tìm việc làm và có thu nhập thấp.[44] Mặc dù Quyết định số 590/QĐ-TTg năm 2022 đặt ra khuôn khổ chương trình bố trí dân cư tại các vùng thiên tai và địa bàn đặc thù, trong khi Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26/6/2026 cập nhật định hướng hành động của Chính phủ nhằm ứng phó với tình trạng sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026–2035. Tuy nhiên, việc có các chương trình và định hướng này chưa đủ để kết luận rằng các khu tái định cư trên thực tế đều bảo đảm quyền có nhà ở thích đáng. Cần tiếp tục đánh giá việc thực hiện chính sách thông qua các tiêu chí cụ thể như chất lượng và độ an toàn của nhà ở, khả năng tiếp cận nước sạch và dịch vụ thiết yếu, mức chi phí phù hợp với thu nhập, cũng như khả năng duy trì và phục hồi sinh kế sau di dời. Theo đó, cần kiểm tra liệu việc lựa chọn địa điểm có tính đến nhu cầu của từng nhóm hộ, liệu người dân có cơ hội tham gia thực chất, và liệu cơ chế hỗ trợ có đủ linh hoạt để xử lý những khó khăn phát sinh sau khi chuyển đến hay không.[45] 2.3. Thực trạng bảo đảm phục hồi sinh kế sau tái định cư Sinh kế là một tiêu chí độc lập để đánh giá kết quả tái định cư, bởi nhiều hộ dân ĐBSCL phụ thuộc vào đất canh tác, đánh bắt thủy sản, chăn nuôi và các hoạt động kinh tế gắn với sông nước.[46] Khi chuyển đến nơi ở mới, khoảng cách tới đất sản xuất hoặc nguồn thu nhập có thể làm tăng chi phí sinh hoạt, buộc hộ dân thay đổi nghề nghiệp hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào việc làm phi nông nghiệp. Báo cáo của UNDP nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét sinh kế và điều kiện tại cả nơi đi lẫn nơi đến, thay vì chỉ tập trung vào việc bố trí chỗ ở.[47] Ghi nhận một số hộ tại khu tái định cư Cái Cám đã rời địa phương để tìm việc làm ngoài tỉnh vì khó duy trì cuộc sống bằng nghề biển; những hộ không có đủ vốn mua sắm ngư cụ càng khó tiếp tục nghề truyền thống.[48] Điều này cho thấy khả năng phục hồi sinh kế phụ thuộc không chỉ vào việc người dân có nhà ở mà còn vào khả năng tiếp cận vốn, công cụ sản xuất, việc làm và thị trường. Đáng chú ý, người dân phản ánh rằng diện tích sân phơi thủy hải sản dự kiến phục vụ khu dân cư bờ Bắc có thể chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của các hộ làm nghề biển.[49] Trường hợp này đặt ra câu hỏi liệu việc lập quy hoạch tái định cư đã tính đầy đủ đến đặc điểm sinh kế tại địa phương hay chưa, thay vì chỉ đánh giá nhu cầu về nền đất và nhà ở. Những khó khăn tương tự đã được phản ánh tại các khu tái định cư khác ở Cà Mau. Trong năm 2020, Báo Cà Mau ghi nhận một số hộ sau khi chuyển đến nơi ở mới không có đất sản xuất, khó tìm việc làm ổn định và phải đi làm thuê hoặc rời địa phương để kiếm sống.[50] Một người dân tại khu tái định cư ở thị xã Giá Rai cho biết gia đình kỳ vọng có thêm điều kiện sản xuất sau khi chuyển đến nơi mới, nhưng thực tế không có đất canh tác và phải tìm việc tại các cơ sở chế biến tôm hoặc đi làm xa. Đây là minh chứng thực tế cho khoảng cách giữa mục tiêu an cư, lạc nghiệp và kết quả sau tái định cư trong những trường hợp được báo chí ghi nhận.[51] Tại Long An và Đồng Tháp ghi nhận phần lớn hộ được khảo sát có thu nhập giảm sau tái định cư và gặp khó khăn trong việc hoàn trả các khoản nợ liên quan đến việc chuyển đến nơi ở mới.[52] Kết quả này cho thấy mô hình hỗ trợ dựa đáng kể vào khoản vay có thể không phù hợp với những hộ nghèo có thu nhập bấp bênh.[53] Từ các trường hợp nêu trên, có thể nhận diện một hạn chế cần tiếp tục kiểm chứng trong thực hiện chính sách: việc bố trí dân cư đôi khi chưa được gắn kết đầy đủ với kế hoạch duy trì hoặc phục hồi sinh kế của từng nhóm hộ.[79] Quyết định số 590/QĐ-TTg năm 2022 đặt việc bố trí dân cư trong một chương trình có liên quan đến ổn định đời sống và điều kiện sản xuất, nhưng hiệu quả thực tế cần được đánh giá qua việc các hộ có tiếp cận được việc làm, đất sản xuất hoặc phương án tạo thu nhập phù hợp hay không.[54] Vì vậy, đánh giá hậu tái định cư cần xem xét không chỉ số hộ đã chuyển đến mà còn cả tình trạng việc làm, thu nhập, khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất và việc duy trì hoạt động kinh tế tại nơi ở mới. 3. Định hướng hoàn thiện cơ chế bảo đảm nhà ở và phục hồi sinh kế trong di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long 3.1. Bảo đảm nhà ở an toàn, thích đáng sau di dời Thứ nhất, cần cụ thể hóa tiêu chí lựa chọn địa điểm tái định cư theo đặc điểm rủi ro khí hậu của từng khu vực. Việc đánh giá không nên chỉ căn cứ vào mức độ an toàn tại thời điểm xây dựng mà cần xem xét nguy cơ sạt lở, ngập lụt, sụt lún và các rủi ro có thể gia tăng trong tương lai. Bên cạnh đó, địa điểm mới cần có khả năng tiếp cận đường giao thông, nước sạch, điện, trường học, cơ sở y tế và các điều kiện thiết yếu khác. Đây là cơ sở để hạn chế tình trạng người dân được bố trí nhà ở nhưng vẫn gặp khó khăn trong sinh hoạt hoặc tiếp cận dịch vụ cơ bản. Thứ hai, cần đánh giá chất lượng nhà ở theo cách tiếp cận quyền có nhà ở thích đáng. Theo Ủy ban Liên hợp quốc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, tính thích đáng của nhà ở bao gồm nhiều yếu tố như an toàn pháp lý về chỗ ở, khả năng chi trả, khả năng tiếp cận dịch vụ, khả năng sinh sống an toàn, vị trí và sự phù hợp văn hóa. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật không nên chỉ tập trung vào tiêu chuẩn xây dựng hoặc số lượng căn nhà được bàn giao, mà cần xem xét liệu người dân có thể duy trì chỗ ở ổn định mà không phải hy sinh những nhu cầu thiết yếu khác hay không. Thứ ba, cần làm rõ trách nhiệm kiểm tra và khắc phục bất cập tại khu tái định cư. Trước khi bố trí dân cư, cơ quan có thẩm quyền cần đánh giá mức độ đáp ứng của nhà ở và hạ tầng thiết yếu; sau khi người dân chuyển đến, cần có cơ chế tiếp nhận phản ánh và xử lý những thiếu hụt phát sinh. Đối với các trường hợp chưa đáp ứng điều kiện thiết yếu, cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm khắc phục, thời hạn thực hiện và nguồn kinh phí. Các yêu cầu này nên được xây dựng trên cơ sở rà soát quy định hiện hành, nhằm xác định chính xác nội dung cần bổ sung thay vì tạo ra các thủ tục trùng lặp. 3.2. Bảo đảm phục hồi sinh kế sau di dời Trước hết, cần nghiên cứu bổ sung yêu cầu đánh giá tác động sinh kế trước khi phê duyệt phương án di dời. Nội dung đánh giá nên bao gồm nghề nghiệp, nguồn thu nhập chính, tài sản sản xuất, mức độ phụ thuộc vào đất đai và tài nguyên tự nhiên, khả năng tiếp cận thị trường cũng như nghĩa vụ nợ hiện có. Kết quả này cần được sử dụng để xây dựng phương án hỗ trợ phù hợp với từng nhóm hộ, thay vì áp dụng đồng loạt một gói chính sách. Chẳng hạn, nhu cầu của hộ làm nông nghiệp có thể khác đáng kể với hộ sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản hoặc lao động phi chính thức. Tiếp theo, cần kết nối các biện pháp hỗ trợ tài chính với khả năng phục hồi thu nhập trên thực tế. Đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm và tín dụng có thể hữu ích, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào nhu cầu thị trường, năng lực của người dân và khả năng tiếp cận việc làm sau đào tạo. Vì vậy, phương án phục hồi sinh kế cần xác định mục tiêu, biện pháp hỗ trợ, nguồn kinh phí và cơ quan chịu trách nhiệm. Đối với hỗ trợ bằng khoản vay, cần xem xét khả năng trả nợ và nguy cơ khiến hộ gia đình rơi vào khó khăn tài chính kéo dài. Về phương diện pháp lý, Luật Đất đai 2024 quy định các hình thức hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; Nghị định 88/2024/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện các chính sách liên quan. Tuy nhiên, đây là cơ chế gắn với trường hợp Nhà nước thu hồi đất, không đương nhiên điều chỉnh mọi trường hợp bố trí dân cư do thiên tai.[55] Do đó, cần rà soát sự tương thích giữa cơ chế này với chương trình bố trí dân cư theo Quyết định 590/QĐ-TTg và các văn bản hướng dẫn, qua đó xác định những nhóm đối tượng còn thiếu hỗ trợ hoặc chưa được quy định rõ về trách nhiệm thực hiện.[56] Cuối cùng, cần đánh giá kết quả phục hồi sinh kế sau di dời bằng các chỉ số có thể kiểm chứng như thay đổi thu nhập, tình trạng việc làm, khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất và gánh nặng nợ. Những chỉ số này cần được so sánh với tình trạng của hộ trước khi di dời và được xem xét trong bối cảnh biến động kinh tế, môi trường. Mục tiêu không nhất thiết là cam kết mọi hộ đều khôi phục ngay mức thu nhập cũ, mà là bảo đảm có cơ chế hỗ trợ phù hợp, phát hiện kịp thời những hộ gặp khó khăn và điều chỉnh chính sách khi cần thiết. 3.3. Bảo đảm sự tham gia của người dân và giám sát sau di dời Trước tiên, cần thiết lập cơ chế giám sát sau di dời, không giới hạn việc đánh giá ở thời điểm hoàn thành công trình. Nội dung giám sát cần bao gồm chất lượng nhà ở, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu, tình trạng việc làm, thu nhập và những khó khăn phát sinh trong quá trình ổn định cuộc sống. Cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi, phương thức tiếp nhận phản ánh và trách nhiệm xử lý khi các điều kiện đã cam kết không được đáp ứng. Việc công khai kết quả giám sát sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình và tạo cơ sở điều chỉnh chính sách. Đặc biệt, cần chú ý đến các hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và những hộ phụ thuộc nhiều vào tài nguyên tại nơi ở cũ, bởi họ có thể gặp nhiều trở ngại hơn trong quá trình thích nghi. Việc tham vấn cần bảo đảm các nhóm này có khả năng tiếp cận thông tin và bày tỏ nhu cầu thực tế. Qua đó, sự tham gia của cộng đồng không chỉ là thủ tục hành chính mà còn là cơ chế giúp phương án di dời phù hợp hơn với điều kiện sống và khả năng phục hồi của từng hộ gia đình. Kết luận: Trước những rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng tại Đồng bằng sông Cửu Long, di dời có kế hoạch không chỉ đặt ra yêu cầu bảo đảm nơi ở an toàn mà còn phải giúp người dân ổn định cuộc sống lâu dài. Vì vậy, Việt Nam cần gắn tái định cư với nhu cầu nhà ở, việc làm và sinh kế của từng nhóm hộ; đồng thời tăng cường sự tham gia của người dân và giám sát sau di dời. Về lâu dài, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp chính sách và hỗ trợ linh hoạt sẽ góp phần hạn chế những khó khăn phát sinh tại nơi ở mới. Qua đó, di dời có kế hoạch không chỉ là giải pháp giảm thiểu rủi ro trước mắt mà còn tạo nền tảng để cộng đồng thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution, 11 June 2015) accessed 11 October 2026. [2] The Brookings Institution, “Guidance on Protecting People from Disasters and Environmental Change through Planned Relocation” (7 October 2015) https://www.brookings.edu/articles/guidance-on-protecting-people-from-disasters-and-environmental-change-through-planned-relocation/ accessed 12 October 2026. [3] ibid. [4] ibid. [5] ibid. [6] Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18 tháng 1 năm 2024, Điều 78–80, 91; Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ, Điều 1–2. [7] The Brookings Institution (n 2). [8] ibid. [9] Erica Bower and others, “Enabling Pathways for Sustainable Livelihoods in Planned Relocation” (2023) 13 Nature Climate Change 920 https://doi.org/10.1038/s41558-023-01753-x accessed 12 October 2026. [10] UN Commission on Human Rights, “Guiding Principles on Internal Displacement” (11 February 1998) UN Doc E/CN.4/1998/53/Add.2, principle 7. [11] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 3 January 1976) 993 UNTS 3, art 11(1). [12] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights, “General Comment No 4: The Right to Adequate Housing (Art 11(1) of the Covenant)” (13 December 1991) UN Doc E/1992/23, para 8. [13] ibid. [14] UN Commission on Human Rights (n 10). [15] ibid, principle 7. [16] ibid, principle 18. [17] UNFCCC, “The Cancun Agreements: Outcome of the Work of the Ad Hoc Working Group on Long-term Cooperative Action under the Convention”, Decision 1/CP.16, UN Doc FCCC/CP/2010/7/Add.1 (15 March 2011) para 14(f). [18] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (n 12) arts 6 and 11(1). [19] Bower and others (n 9). [20] ibid. [21] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (n 12) arts 6 and 11(1); UN Commission on Human Rights (n 13) principles 7 and 18. [22] Haomiao Du and others, “A Framework for Reviewing Laws and Policies for Climate Resilience: The Case of the Vietnamese Mekong Delta” (2023) 66(6) Journal of Environmental Planning and Management 1280–1304 https://doi.org/10.1080/09640568.2022.2026308. [23] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights (n 12) para 8. [24] The Brookings Institution (n 2). [25] Bower and others (n 19). [26] ibid. [27] ibid. [28] UN Commission on Human Rights (n 10) principle 7. [29] Du and others (n 22). [30] Eek Leng Syvitski and others, ‘Linking Rapid Erosion of the Mekong River Delta to Human Activities’ (2015) 5 Scientific Reports 14745 https://doi.org/10.1038/srep14745. [31] Chính phủ, Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu https://vanban.chinhphu.vn/?docid=192249&pageid=27160; Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2022 phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030 https://vanban.chinhphu.vn/?docid=205794&pageid=27160; Bộ Chính trị, Kết luận số 26-KL/TW ngày 24 tháng 4 năm 2026 về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026–2035 https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ket-luan-so-26-kl-tw-ve-phong-chong-sut-lun-sat-lo-ngap-ung-han-han-xam-nhap-man-vung-dong-bang-song-cuu-long-giai-doan-2026-2035-119260429121512556.htm; Chính phủ, Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ Chính trị https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/nghi-quyet-so-166-nq-cp-469891.htm. [32] Du and others (n 22). [33] Vo Thanh Danh and Shahbaz Mushtaq, “Living with Floods: An Evaluation of the Resettlement Program of the Mekong Delta of Vietnam” in Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta (Springer 2011) 181 https://doi.org/10.1007/978-94-007-0934-8_11. [34] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution 2015) https://www.brookings.edu/articles/planned-relocations-in-the-mekong-delta-vietnam-a-successful-model-for-climate-change-adaptation-a-cautionary-tale-or-both/. [35] Jane M Chun (n 34). [36] United Nations Development Programme, Migration, Resettlement and Climate Change in Viet Nam: Reducing Exposure and Vulnerabilities to Climatic Extremes and Stresses through Spontaneous and Guided Migration (UNDP 2014) https://www.undp.org/vietnam/publications/migration-resettlement-and-climate-change-viet-nam. [37] United Nations Development Programme (n 36). [38] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights, “General Comment No 4: The Right to Adequate Housing (Art 11(1) of the Covenant)” (13 December 1991) UN Doc E/1992/23, para 8 https://www.refworld.org/legal/general/cescr/1991/en/53157. [39] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution, 11 June 2015) https://www.brookings.edu/articles/planned-relocations-in-the-mekong-delta-vietnam-a-successful-model-for-climate-change-adaptation-a-cautionary-tale-or-both/ accessed 12 October 2026. [40] Jane M Chun (n 39); UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights (n 38) para 8. [41] Tuyết Mai, ‘Cà Mau: Nhiều khu tái định cư cho người dân vùng sạt lở thiếu hạ tầng’ (VTV.vn, 10 December 2017) https://vtv.vn/trong-nuoc/ca-mau-nhieu-khu-tai-dinh-cu-cho-nguoi-dan-vung-sat-lo-thieu-ha-tang-20171210220502361.htm accessed 12 October 2026. [42] Tuyết Mai (n 41). [43] Nguyễn Phú, ‘Tái định cư không chỉ là ổn định nơi ở’ (Báo Cà Mau, 16 February 2023) https://baocamau.vn/tai-dinh-cu-khong-chi-la-on-dinh-noi-o-a22846.html accessed 12 October 2026. [44] Nguyễn Phú (n 43). [45] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights (n 38) para 8; Elizabeth Ferris, Sanjula Weerasinghe and Dan Chazalnoel, ‘Guidance on Protecting People from Disasters and Environmental Change through Planned Relocation’ (Brookings Institution, Georgetown University and UNHCR, 7 October 2015) https://www.brookings.edu/articles/guidance-on-protecting-people-from-disasters-and-environmental-change-through-planned-relocation/ accessed 12 October 2026. [46] United Nations Development Programme, Migration, Resettlement and Climate Change in Viet Nam: Reducing Exposure and Vulnerabilities to Climatic Extremes and Stresses through Spontaneous and Guided Migration (UNDP 2014) https://www.undp.org/vietnam/publications/migration-resettlement-and-climate-change-viet-nam. [47] United Nations Development Programme (n 46). [48] “Trăn trở sinh kế tái định cư” (Báo Cà Mau, 31 October 2022) https://baocamau.vn/tran-tro-sinh-ke-tai-dinh-cu-a22253.html accessed 12 October 2026. [49] “Trăn trở sinh kế tái định cư” (n 48). [50] “Nan giải bài toán định canh - định cư - Bài 1: Cung chưa đủ cầu’ (Báo Cà Mau, 20 March 2023) https://baocamau.vn/nan-giai-bai-toan-dinh-canh-dinh-cu-bai-1-cung-chua-du-cau-a12952.html accessed 12 October 2026. [51] ‘Nan giải bài toán định canh - định cư - Bài 1: Cung chưa đủ cầu’ (n 50). [52] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution, 11 June 2015) https://www.brookings.edu/articles/planned-relocations-in-the-mekong-delta-vietnam-a-successful-model-for-climate-change-adaptation-a-cautionary-tale-or-both/ accessed 12 October 2026. [53] Jane M Chun (n 52). [54] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2022 phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030 https://vanban.chinhphu.vn/?classid=2&docid=205794&pageid=27160. [55] Quốc hội, Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18 tháng 1 năm 2024, các điều 108–109; Chính phủ, Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, đặc biệt các điều 22–23 https://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=171513. [56] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2022 phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030, mục I và mục IV https://vanban.chinhphu.vn/?classid=2&docid=205794&pageid=27160.

  • [89] TỔNG QUAN VỀ LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ

    Tác giả: Cao Ngọc Khánh Linh, Bùi Gia Nguyên Phúc Tóm tắt: Sau chiến tranh Thế giới thứ II, quyền con người chính thức được công nhận bởi Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên ngôn toàn cầu về quyền con người 1948. Qua đó, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn khác của luật quốc tế dần được hình thành nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Bài viết cung cấp các nguồn cơ bản của Luật Nhân quyền quốc tế cũng như thực tế các đặc tính các văn bản quyền con người trong các khu vực; đồng thời, diễn giải các thế hệ quyền con người khác nhau. Từ khóa: Quyền con người, Luật Nhân quyền quốc tế, Liên Hợp Quốc, nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế 1. Tổng quan về luật Nhân quyền quốc tế (International Human Rights Law - IHRL) 1.1. Khái niệm Luật Nhân quyền quốc tế Luật Nhân quyền quốc tế (IHRL) là hệ thống các quy phạm pháp lý được xác lập thông qua các hình thức điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc chung và các nguồn khác của luật quốc tế nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền cơ bản của con người. Luật Nhân quyền quốc tế và Luật Nhân đạo quốc tế thường bị nhầm lẫn với nhau, song sự khác biệt giữa hai luật này nằm ở phạm vi áp dụng. Cụ thể, Luật Nhân đạo quốc tế áp dụng trong xung đột vũ trang và không có ngoại lệ; Luật Nhân quyền quốc tế lại bảo vệ quyền con người trong mọi hoàn cảnh dù là thời bình hay trong xung đột, và trong một số tình trạng khẩn cấp các quốc gia có thể được miễn trừ một số nghĩa vụ.[1] 1.2. Nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế Giống như nguồn cơ bản của Luật quốc tế nói chung, nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế bao gồm các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn bổ trợ như án lệ hay ý kiến của các học giả có uy tín cao.[2] Trong các điều ước quốc tế về quyền con người, Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc là nguồn đầu tiên công nhận sự tồn tại và nghĩa vụ bảo vệ quyền con người.[3] Hiến chương được ký kết sau Thế chiến thứ II vào năm 1948 với mục đích duy trì hòa bình. Sự kiện đánh dấu lần đầu tiên việc đảm bảo quyền con người trở thành một mục tiêu của một tổ chức quốc tế. Một trong những nền tảng cơ bản cho việc pháp điển hóa Quyền con người trong luật quốc tế là Tuyên ngôn Toàn cầu về Quyền con người (UDHR), được thông qua ngày 10/12/1948 theo Nghị quyết 217 A (III).[4] Bản Tuyên ngôn là định hướng cho rất nhiều các quy định pháp luật nội địa và quốc tế nhằm đảm bảo các quyền con người về dân sự và chính trị.[5] Song, cần lưu ý rằng dù là nền tảng cho nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý sau này, Tuyên ngôn Toàn cầu về Quyền con người không phải một văn bản có hiệu lực pháp lý mà chỉ đóng vai trò định hướng. Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966) là một nguồn quan trọng về các quyền dân sự và chính trị. Văn bản quy định các quyền tiêu biểu như Quyền được sống, quyền không bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo, quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng và lập hội, quyền xét xử công bằng, quyền tham gia quản lý nhà nước và bầu cử. Đây là các quyền chủ động. Các quyền này không cần các quá trình thiết lập quyền thông qua sự can thiệp của chính phủ như ra chính sách hay các dịch vụ công. Vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ các quyền được quy định ở công ước này là không được xâm phạm hay can thiệp trái pháp luật, đồng thời có các chế tài để đảm bảo quyền của các cá nhân Nếu như ICCPR 1966 là công ước quy định các quyền chủ động thì các quy định về các quyền bị động được quy định tại Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR 1966). Được thông qua vào năm 1976, Công ước ghi nhận các quyền như Quyền làm việc và hưởng điều kiện lao động công bằng, Quyền an sinh xã hội, quyền được chăm sóc sức khỏe, Quyền được giáo dục, Quyền tham gia đời sống văn hóa. Đây là các quyền cần phải có sự can thiệp của nhà nước để có thể đảm bảo. Sự can thiệp này có thể thể hiện thông qua việc ban hành các chính sách về các lĩnh vực liên quan như giáo dục hay y tế; hay thành lập và cung cấp các dịch vụ công như bệnh viện công hay các cơ sở giáo dục công với chi phí thấp. Ngoài ra, còn rất nhiều điều ước quốc tế khác về các quyền cụ thể thuộc quyền con người. Có thể kể đến Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1965 (ICERD), Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (CEDAW), Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác năm 1984 (CAT), Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (CRC), Công ước Quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ 1990 (ICRMW) … Quyền con người cũng được quy định trong các điều ước quốc tế khu vực. Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR) là một nguồn quan trọng của quyền con người trong nỗ lực xác lập một trật tự pháp lý tập thể tại châu Âu sau Thế chiến thứ II.[6] ECHR pháp điển hóa cá quyền tự do trừu tượng từ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) 1948 thành những nghĩa vụ pháp lý ràng buộc, tập trung bảo hộ các quyền dân sự và chính trị cốt lõi như quyền sống (Điều 2), cấm tra tấn (Điều 3), quyền tự do và an ninh (Điều 5) và quyền được xét xử công bằng (Điều 6).[7] Hệ thống bảo hộ này không chỉ giới hạn ở các nghĩa vụ tiêu cực (negative obligations) yêu cầu quốc gia kiềm chế sự can thiệp bất hợp pháp, mà còn mở rộng sang các nghĩa vụ tích cực (positive obligations) buộc quốc gia phải thiết lập cơ chế bảo vệ quyền lợi cá nhân trước các hành vi xâm phạm từ bên thứ ba.[8] Công ước vận hành dựa trên nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), trao quyền ưu tiên cho các hệ thống pháp luật trong nước và cho phép các quốc gia một “biên độ tự do định đoạt” (margin of appreciation) nhất định trước khi cơ chế tài phán khu vực can thiệp.[9] Sau Nghị định thư số 11 (Protocol 11) năm 1998, Hội đồng Châu Âu thành lập tòa án thường trực Tòa án Nhân quyền Châu Âu (ECHR), cho phép cá nhân trực tiếp khởi kiện quốc gia vi phạm sau khi đã sử dụng hết các biện pháp trong nước. Cơ chế này được các học giả nhận định là cơ chế khiến cho hệ thống bảo vệ Nhân quyền tại Châu Âu là hệ thống hiệu quả nhất.[10] Công ước Mỹ về Nhân quyền 1969, hay còn gọi là “Pact of San José” là điều ước quốc tế quan trọng được pháp điển hóa để bảo vệ quyền con người tại khu vực châu Mỹ. Công ước tập trung thiết lập các quyền dân sự và chính trị căn bản, tiêu biểu như quyền sống tại Điều 4 và quyền toàn vẹn thân thể tại Điều 5 với Ủy ban Nhân quyền Mỹ đóng vai trò là cơ quan điều tra và sàng lọc khiếu nại, Tòa án Nhân quyền liên Mỹ đóng vai trò là cơ quan tài phán, đưa ra các phán quyết ràng buộc và các ý kiến tư vấn. Công ước làm phát sinh nghĩa vụ áp dụng các cơ chế nội luật hóa để đảm bảo thực thi quyền, bao gồm nguyên tắc “đạt được dần dần” (achieving progressively) thông qua các nguồn lực sẵn có (available resources) để thực thi đầy đủ các quyền được công nhận.[11] Đồng thời, việc pháp điển hóa Công ước cho phép Tòa án Liên Mỹ thực hiện quyền “giải thích rộng rãi” (broad interpretation) không chỉ đối với Công ước mà còn với “các điều ước quốc tế khác” liên quan đến việc bảo vệ nhân quyền tại các quốc gia châu Mỹ.[12] Hiến chương Châu Phi về Quyền con người và Quyền các dân tộc 1981 (Hiến chương Banjul), là nền tảng pháp lý quan trọng pháp điển hóa và hình thành các quy định bảo vệ quyền con người ở châu Phi. Hiến chương quy định các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng thời tiên phong tích hợp các quyền đoàn kết (rights of solidarity) - hay quyền thế hệ thứ ba - như quyền phát triển và quyền hòa bình vào hệ thống quy phạm quốc tế. Trong đó, thay vì tiếp cận luật pháp như một sự đối trọng giữa cá nhân và nhà nước theo quan điểm phương Tây, Hiến chương nhìn nhận luật pháp là công cụ bảo vệ cá nhân ở trong cộng đồng (within the community).[13] Nếu như Hiến chương Liên Hợp Quốc chỉ quy định quyền dân tộc tự quyết là một nguyên tắc erga omnes (nguyên tắc có hiệu lực với tất cả nhưng không có giá trị pháp lý cao nhất), hệ thống pháp luật châu Phi điều chỉnh quyền của các cá nhân gắn với lợi ích cộng đồng bằng việc cho phép các hành vi pháp lý nhằm bảo vệ các lợi ích cao hơn lợi ích cá nhân theo nguyên tắc actio popularis, khiến nguyên tắc gần với tính chất của một nguyên tắc jus cogens hơn (nguyên tắc có hiệu lực pháp lý tối cao.[14] Lập luận này, vốn bắt nguồn từ lịch sử chống thực dân và nhu cầu tự quyết sâu sắc, đã tạo nên một cơ chế bảo vệ quyền lợi tập thể song hành cùng quyền tự do cá nhân, khẳng định rằng quyền dân tộc là tiền đề không thể thiếu cho phẩm giá con người.[15] Trong khu vực Đông Nam Á, Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN (AHRD) là nguồn quan trọng điều chỉnh và bảo vệ các vấn đề nhân quyền trong khu vực. Văn kiện này quy định các nhóm quyền cốt lõi bao gồm: các nguyên tắc chung, quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, cùng các quyền phản ánh đậm nét tính đặc thù khu vực như quyền phát triển và quyền hòa bình. Tuy nhiên, các quyền được pháp điển hóa trong Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN sẽ được xem xét dựa trên bối cảnh chứ không phải mọi thực thể đều được hưởng quyền như nhau.[16] Điều này là hệ quả của việc Công ước cần tuân theo các nguyên tắc về chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và nguyên tắc jus de non-interventio (không can thiệp vào công việc nội bộ, dẫn đến các cơ chế bảo vệ mang tính ràng buộc hay chế tài tài phán trong AHRD bị hạn chế.[17] Do vậy, Phương cách ASEAN (The ASEAN Way) đã ưu tiên cơ chế đồng thuận và tham vấn kín nhằm mục đích bảo toàn sự tồn tại của các thể chế nhà nước (regime survival) thay vì bảo vệ các quyền con người một cách cá nhân.[18] 2. Các thế hệ quyền con người theo Luật Nhân quyền quốc tế Khái niệm thế hệ quyền con người phân loại các quyền cơ bản theo tiến trình lịch sử thành ba nhóm chính: thế hệ thứ nhất tập trung vào các quyền dân sự và chính trị nhằm bảo vệ tự do cá nhân trước sự can thiệp của nhà nước; thế hệ thứ hai mở rộng sang các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa để đảm bảo bình đẳng và an sinh; thế hệ thứ ba hướng tới các quyền tập thể mang tính toàn cầu như hòa bình, tự quyết và môi trường trong lành. 2.1. Thế hệ thứ nhất: Các quyền về dân sự và chính trị Sự hình thành của thế hệ quyền con người thứ nhất đánh dấu sự thay đổi từ việc ưu tiên tuyệt đối quyền lực nhà nước sang sự bảo vệ và đề cao vị thế cá nhân. Trong thời kỳ cổ đại và trung cổ, quyền lực trong mối quan hệ giữa cá nhân và các thực thể công luôn nghiêng hẳn về phía nhà nước. Các học thuyết triết học tiến bộ của John Locke, Montesquieu, Hobbes và Rousseau đã thúc đẩy cuộc đấu tranh chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, thực hiện sứ mệnh lịch sử là hoàn trả lại các nghĩa vụ và quyền lợi vốn bị thâu tóm bởi quân chủ về cho công dân và xã hội dân sự.[19] Về bản chất, sự tiến hóa của các thế hệ quyền chính là một quá trình hoàn trả những nghĩa vụ và quyền năng mà công dân từng phải ủy thác cho quân chủ về lại cho chính cá nhân và xã hội dân sự.[20] Qua đó, con người được được đảm bảo các quyền cơ bản, biến nhà nước từ một thực thể có quyền hành tuyệt đối thành một thực thể pháp lý đảm bảo sự chung sống hòa bình.[21] Dựa trên nền tảng tư duy đó, thế hệ quyền thứ nhất tập trung vào hai nhóm cốt lõi là quyền dân sự và quyền chính trị, đóng vai trò như những rào cản pháp lý ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực công. Về phương diện dân sự, các văn kiện pháp lý thời kỳ này đã xác lập quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, quyền sở hữu cá nhân và đặc biệt là quyền an ninh cá nhân trước các thủ tục tư pháp và cảnh sát, đảm bảo rằng mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị tước đoạt tự do hay tài sản mà không tuân thủ đúng trình tự tố tụng. Song song đó, nhóm quyền chính trị cho phép công dân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào bộ máy quyền lực thông qua việc tiếp cận các chức vụ công, tham gia xây dựng quá trình lập pháp, kiểm soát thuế và giám sát các hoạt động quản lý hành chính. Sự tham gia của người dân vào các hoạt động này giúp kiềm chế sự lạm quyền của nhà nước, đảm bảo việc giới hạn của quyền lực công không hạn chế quyền của các công dân quá nhiều.[22] Khác với các thế hệ quyền sau này vốn đòi hỏi sự can thiệp và hỗ trợ định chế tích cực từ chính phủ, thế hệ thứ nhất có thể được thực thi một cách độc lập và riêng rẽ bởi cá nhân. Sự khác biệt này làm rõ “trạng thái tự do” (free status) đặc trưng của thế hệ thứ nhất, đối lập với “trạng thái xã hội” (social status) của các quyền kinh tế và xã hội sau này. [23] Quá trình pháp điển hóa các giá trị này đã góp phần tạo nên một hệ thống bảo vệ đa tầng từ cấp độ quốc gia đến quốc tế thông qua các văn kiện lịch sử quan trọng. Những cột mốc pháp lý đầu tiên bao gồm Đại Hiến chương Magna Charta (1215), Thỉnh nguyện thư về Quyền lợi (Petition of Rights 1628) và Luật về các Quyền (Bill of Rights 1689) tại Anh. Các văn bản pháp lý trên đã được đề cập trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776) và đặc biệt là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789) - văn bản khẳng định rằng mục đích của mọi tổ chức chính trị là bảo toàn các quyền tự nhiên của con người.[24] Trong kỷ nguyên hiện đại, các quyền này đã được pháp điển hóa thông qua các Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Tại khu vực Châu Âu, các cơ chế bảo vệ đã được thiết lập chặt chẽ với Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR) và Tòa án Nhân quyền Châu Âu, biến các lý thuyết triết học thành các nghĩa vụ pháp lý có tính cưỡng chế. Việc chuyển hóa này đã tạo nên một hệ thống bảo vệ vững chắc, khẳng định sự tôn trọng tự do cá nhân là nghĩa vụ bắt buộc của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế.[25] 2.2. Thế hệ thứ hai: Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Thế hệ quyền con người thứ hai hình thành chủ yếu từ nhu cầu giải quyết những hệ lụy của cuộc khủng hoảng xã hội tư bản cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Trước tình cảnh bần cùng hóa của giai cấp lao động, các nhà tư tưởng tự do mới đã thúc đẩy cải cách xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Những áp lực này buộc các nhà nước tư sản phải ban hành các chính sách phúc lợi, tiêu biểu là hệ thống bảo hiểm xã hội thống nhất do Thủ tướng Đức Bismarck khởi xướng sau Tuyên ngôn Keider (1881). Các quyền về an sinh xã hội như bảo hiểm khi già yếu, bệnh tật sau đó đã chính thức được Hiến pháp Đức ghi nhận vào năm 1919.[26] Thế hệ quyền con người thứ hai tập trung vào các quyền con người liên quan đến đối xử bình đẳng, công bằng, văn minh trong xã hội, bao gồm: quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở,..[27] Các quyền này bắt nguồn từ luật thực định (positive law), tức là chúng không có cùng phạm vi như các quyền về dân sự và chính trị ở thế hệ quyền thứ nhất, cùng với đó là việc hiện thực hóa các quyền này đòi hỏi nhà nước, chính phủ phải hành động.[28] Cụ thể, các quyền con người thế hệ thứ hai đòi hỏi sự hỗ trợ về mặt thể chế từ nhà nước trong khi các quyền thế hệ thứ nhất có thể được thực hiện một cách độc lập và riêng lẻ.[29] Nhà nước phải can thiệp thông qua các hành động mang tính chất lập pháp để tạo ra một hệ thống thể chế cho phép thực thi các quyền này, ví dụ như quyền giáo dục hoặc quyền nghỉ hưu.[30] Người ta ước tính rằng nếu các quyền thế hệ thứ nhất tạo nên “trạng thái tự do” (free status), thì các quyền kinh tế - xã hội lại liên quan đến “trạng thái xã hội” (social status) của cá nhân.[31] Về mặt pháp lý, các quyền con người về kinh tế, văn hóa, xã hội chính thức được ghi nhận từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai bằng Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 (UDHR) do Liên Hợp Quốc thông qua cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR).[32] Dựa trên nội dung của Công ước, thế hệ quyền con người thứ hai được chia làm các nhóm quyền chính: quyền làm việc và các điều kiện lao động công bằng,[33] quyền được bảo đảm an sinh xã hội,[34] quyền đối với các tiêu chuẩn sống thỏa đáng,[35] quyền về sức khỏe,[36] quyền giáo dục[37] và quyền văn hóa.[38]. ICESCR đã đặt ra các quy định về trách nhiệm thực thi và nguyên tắc thực thi cho các quốc gia thành viên. Cụ thể, văn bản này quy định nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên trong việc thực hiện các bước,[39] một cách riêng lẻ hoặc thông qua hỗ trợ và hợp tác quốc tế, đặc biệt là về kinh tế và kỹ thuật, với mức tối đa các nguồn lực sẵn có của mình, nhằm đạt được dần dần việc thực hiện đầy đủ các quyền được công nhận trong Công ước bằng mọi biện pháp thích hợp, bao gồm đặc biệt là việc thông qua các biện pháp lập pháp, mà không có sự phân biệt đối xử.[40] Như vậy, vì đây là nhóm quyền không thể đạt được ngay lập tức, các quốc gia trong quá trình thực thi cần đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử để đảm bảo mọi cá nhân được bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Các quốc gia cũng cần tận dụng mọi nguồn lực để hiện thực hóa các nhóm quyền trong thế hệ quyền con người thứ hai cho công dân. 2.3. Thế hệ thứ ba: Các quyền tập thể Ý tưởng nền tảng của quyền thế hệ thứ ba là sự đoàn kết. Các quyền này bao hàm các quyền tập thể của xã hội hoặc các dân tộc. Tại nhiều nơi trên thế giới, tình trạng nghèo đói cùng cực, chiến tranh và thảm họa thiên nhiên khiến nhân quyền bị hạn chế đáng kể. Do đó, nhiều người tin rằng công nhận thế hệ thứ ba của quyền con người sẽ giúp xã hội, đặc biệt là các nước kém và đang phát triển được đảm bảo các thế hệ quyền thứ nhất và thứ hai.[41] Thế hệ này bao gồm các quyền tiêu biểu như quyền tự quyết dân tộc (right to self-determination); quyền phát triển (right to development); quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên (right to natural resources); quyền được sống trong hoà bình (right to peace); quyền được sống trong môi trường trong lành (right to a healthy environment)…Danh mục các quyền thuộc thế hệ quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đó những quyền được đề cập gần đây bao gồm: quyền được thông tin và các quyền về thông tin (right to communicate; communication rights); quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa (right to participation in cultural heritage)...[42] Có thể thấy, thế hệ quyền con người thứ ba có tính chất trung hòa hai nhóm quyền về dân sự, chính trị và quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa.[43] Trên thực tế, có những tranh cãi và lo ngại xoay quanh thế hệ quyền thứ ba này. Có chuyên gia phản đối nhóm quyền tập thể, cho rằng nhân quyền chỉ có thể thuộc về cá nhân. Cũng có những chuyên gia cho rằng các chế độ độc tài có thể phủ nhận quyền cá nhân nhân danh quyền tập thể như cắt giảm quyền dân sự để ưu tiên phát triển kinh tế, khiến cho các quyền khác của cá nhân bị kìm hãm.[44] Dù vẫn còn tồn tại một số tranh luận, cộng đồng quốc tế đều cho rằng nhóm nhân quyền thứ ba cần được chú trọng hơn nữa. Một số quyền tập thể đã được ghi nhận trong Hiến chương Châu Phi về Quyền con người (ACHPR)[45] và các Dân tộc và Tuyên ngôn về Quyền của các Dân tộc bản địa.[46] Quyền tự quyết cũng được công nhận trong cả hai công ước quan trọng là Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR)[47] và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR),[48] và quyền được phát triển đã được luật hóa trong Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1986.[49] Kết luận Qua bài viết, nhóm tác giả cơ bản giới thiệu được tổng quan về Luật Nhân quyền quốc tế (IHRL) thông qua các khía cạnh cơ bản: khái niệm, hệ thống các nguồn pháp lý đa tầng (từ cấp độ toàn cầu đến các cơ chế đặc thù khu vực) cùng sự phát triển của Luật Nhân quyền quốc tế qua ba thế hệ quyền con người. Qua đó, người đọc có cái nhìn bao quát và hệ thống hơn về cách thức pháp luật quốc tế vận hành để bảo vệ phẩm giá con người từ quyền cá nhân đến quyền tập thể. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Cordula Droege, “The Interplay Between International Humanitarian Law and International Human Rights Law in Situations of Armed Conflict” (2007) 40 Israel L Rev 310, 314-7, 320-24. [2] Statute of the International Court of Justice art 38(1). [3]. Phạm Lan Dung (ed), Giáo trình Luật Quốc tế (Học viện Ngoại giao 2022) 287. [4]. Hurst Hannum, “The Status of the Universal Declaration of Human Rights in National and International Law” (1995) 25 Georgia Journal of International and Comparative Law 289 (https://www.researchgate.net/profile/Hurst-Hannum/publication/228128060_The_Status_of_the_Universal_Declaration_of_Human_Rights_in_National_and_International_Law/links/5cd322d392851c4eab8c3c9c/The-Status-of-the-Universal-Declaration-of-Human-Rights-in-National-and-International-Law.pdf ). [5] ibid. [6] Douglas A Lea, “European Convention on Human Rights Is Signed” (EBSCO Research Starters 2023). [7] The European Convention on Human Rights 1953: Foundations, Structural Metamorphosis, and Contemporary Jurisprudential dynamics. [8] LR Kiestra, The impact of the ECHR on private international law: An analysis of Strasbourg and selected national case law (Thesis, Universiteit van Amsterdam 2013) 45. [9]. ibid 35. [10]. ibid 36. [11] Additional Protocol to the American Convention on Human Rights in the Area of Economic, Social and Cultural Rights (Protocol of San Salvador) (adopted 17 November 1988, entered into force 16 November 1999) OAS Treaty Series No 69, art 1. [12] Timothy M McCann, “The American Convention on Human Rights: Toward Uniform Interpretation of Human Rights Law” (1982) 6 Fordham Int’l LJ 612. [13] Keba Mbaye, “Keynote Address on the African Charter on Human and Peoples Rights” trong International Commission of Jurists, Human and Peoples’ Rights in Africa and the African Charter: Report of a Conference held in Nairobi from 2 to 4 December 1985 (ICJ 1986) 19, 26. [14] Patient Mpunga-Biayi, “The Assertion of a Regional Specificity of the Right of Peoples to Self-determination by the African Court on Human and Peoplesʼ Rights” (2025) 17(3) Journal of Human Rights Practice 1, 5. [15] African Charter on Human and Peoples’ Rights (adopted 27 June 1981, entered into force 21 October 1986) 21 ILM 58 (ACHPR) art 20. [16] Andreas Øien Stensland, Walter Lotze and Joel Ng, “Linking Regional Security and Human Rights in ASEAN” (Policy Brief 7, NUPI 2012) 1, 46. [17] Richard Burchill, “Regional Integration and the Promotion and Protection of Democracy in Asia: Lessons from ASEAN” (2009) 13 Asian Yearbook of International Law 51, 65. [18] ibid. [19] John Locke, Two Treatises of Government (Peter Laslett ed, CUP 1988) Second Treatise, ch 19. [20] Adrian Vasile Cornescu, “The Generations of Human’s Rights” in Dny práva - 2009 - Days of Law: the Conference Proceedings (Masaryk University 2009) 1. [21] ibid 1,2. [22] ibid 3. [23] ibid 4. [24] ibid [25] ibid 4. [26] Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2011) 59. [27] ibid. [28] Adrian Vasile Cornescu (n 70) 4. [29] ibid. [30] ibid. [31] ibid. [32] Nguyễn Đăng Dung (n 26) 60. [33] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 3 January 1976) 993 UNTS 3, art 6, 7, 8 (ICESCR). [34] ibid, art 9. [35] ibid, art 11. [36] ibid, art 12. [37] ibid, art 13, 14. [38] ibid, art 15. [39] ibid, art 2. [40] Mónica Pinto, “International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights” (United Nations Audiovisual Library of International Law) https://legal.un.org/avl/ha/icescr/icescr.html truy cập ngày 29/4/2026. [41] Council of Europe, “The Evolution of Human Rights” (Manual for Human Rights Education with Young People) https://www.coe.int/en/web/compass/the-evolution-of-human-rights truy cập ngày 30/4/2026. [42] Nguyễn Đăng Dung (n 26) 60, 61. [43] ibid 61. [44] Council of Europe (n 90). [45] African Charter on Human and Peoples’ Rights (adopted 27 June 1981, entered into force 21 October 1986) 1520 UNTS 217. [46] UNGA, United Nations Declaration on the Rights of Indigenous Peoples (2 October 2007) UN Doc A/RES/61/295. [47] Điều 1 ICCPR khẳng định quyền tự quyết là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các quyền con người cá nhân. Xem International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966) 999 UNTS 171, art 1. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc trong Bình luận chung số 12 (1984) cũng nhấn mạnh đây là quyền không thể tách rời của mọi dân tộc. [48] ICESCR (n 33) art 1. [49] UNGA Res 41/128 “Declaration on the Right to Development” (4 December 1986) UN Doc A/RES/41/128.

  • [88] TỔNG QUAN VỀ NHÂN QUYỀN

    Tác giả: Cao Ngọc Khánh Linh, Bùi Gia Nguyên Phúc Tóm tắt: Nhân quyền từ khi hình thành đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học, nhiều trường phái với nhiều quan điểm khác nhau được nghiên cứu và ghi nhận. Tuy vậy, từ những tư tưởng của trường phái quyền tự nhiên và những nhận xét của học thuyết quyền thực định, đến định nghĩa được công nhận rộng rãi trên toàn cầu hiện nay đều phản ánh rằng đây chính là quyền cơ bản của con người. Qua bài viết, nhóm tác giả cơ bản giới thiệu được những tư tưởng phổ biến về quyền này. Đồng thời, tiến trình lịch sử với nhiều biến động của nhân quyền và các đặc điểm gắn liền với nó như tính không thể tước đoạt, tính không thể phân chia, tính phụ thuộc và tính liên quan đến nhau cũng được trình bày chi tiết. Từ khóa: nhân quyền, văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Quyền con người (OHCHR), tính phổ quát, tính không thể tước đoạt, tính không thể phân chia, tính phụ thuộc và liên hệ lẫn nhau 1. Định nghĩa về nhân quyền Quyền con người hay nhân quyền (human rights) là một thuật ngữ mang tính đa diện. Cho đến hiện nay, khoảng 50 định nghĩa đã được đưa ra với nhiều góc nhìn từ các học giả,[1] nhưng chưa thực sự có một định nghĩa nào có thể bao quát thuật ngữ này một cách hoàn chỉnh.[2] Trong đó, có một số trường phái tiêu biểu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quyền này. Trường phái quyền tự nhiên (natural law), với các học giả tiêu biểu như Zeno[3] (333‐262 TCN), Thomas Hobbes[4] (1588‐1679), John Locke[5] (1632‐1704), Thomas Paine (1731‐1809), cho rằng nhân quyền là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là con người.[6] Chính vì tự nhiên nên quyền con người hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ hoàn cảnh hay văn hóa, phong tục, tập quán nào. Cũng vì vậy, quyền con người của một cá nhân là bất khả xâm phạm và không thể được ban phát hay tước đoạt đi bởi bất kỳ ai khác.[7] Trong khi đó, học thuyết quyền thực định cùng với các tác giả tiêu biểu như Edmund Burke[8] (1729‐1797), Jeremy Bentham[9] (1748‐1832) cho rằng quyền con người vốn không tự nhiên xuất hiện mà phải do nhà nước, pháp luật quy định. Vì vậy, tùy thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị cũng như văn hóa, phong tục, tập quán ở mỗi quốc gia mà quyền con người có thể bị hạn chế ở một số góc độ.[10] Cụ thể, trong tác phẩm Anarchical Fallacies (Các ngụy biện vô chính phủ) của Jeremy Bentham, ông đã phê phán mạnh mẽ học thuyết quyền tự nhiên và đưa ra những lập luận khẳng định rằng quyền con người chỉ có thể tồn tại khi có chính phủ đặt ra và bảo đảm.[11] Nhà luật gia lập luận rằng việc tuyên bố con người sinh ra có các quyền tự nhiên, tự do và bình đẳng là một sự ngụy biện nguy hiểm có thể dẫn đến bạo loạn và vô chính phủ, là “sự nhảm nhí trên đôi cà kheo”.[12] Bentham phản đối lập luận cho rằng quyền con người có tính chất bất biến hoặc không thể tước bỏ (imprescriptible). Ông cho rằng quyền lợi cá nhân luôn nằm dưới quyền định đoạt của Nhà nước và có thể bị điều chỉnh hoặc thu hồi dựa trên các điều kiện về lợi ích công cộng và cơ chế pháp lý.[13] Tuy nhiên, có thể thấy rằng định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) đã được công nhận rộng rãi trên toàn cầu và được các học giả sử dụng trong các bài nghiên cứu, bài báo viết về nhân quyền.[14] Theo đó, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.[15] 2. Nguồn gốc, lịch sử hình thành nhân quyền Trong quá trình hình thành và phát triển của nhân quyền, sự ghi nhận đối với các quyền ấy trong hệ thống pháp luật quốc tế ngày nay phản ánh một tiến trình lịch sử phức tạp. Những ý niệm sơ khai nhất về nhân quyền đã xuất hiện từ thời tiền sử. Trong cuốn “Minds and Rights: The Philosophy of Human Rights and Intentionalism” của Matthias Mahlmann, ông đã đưa ra một số luận điểm khái quát rằng con người từ cổ đại đã có ý thức phải tôn trọng, chăm sóc người già và người bị thương tật.[16] Cụ thể, những hài cốt của một cá nhân bị mất răng tại Swartkrans (Nam Phi),[17] hài cốt người bị thương đã lành từ nhiều di chỉ khảo cổ đã được các nhà khảo cổ tìm ra, cho thấy họ đã được chăm sóc, đảm bảo sức khỏe để sống sót trong thời gian dài.[18] Đây là những bằng chứng rõ ràng chứng minh được dù chưa có sự phát triển của khoa học pháp lý hay những quy định chặt chẽ của luật pháp hiện đại, con người đã ban đầu biết cách thỏa thuận để ưu tiên những người có cần được bảo vệ lợi ích. Đến những năm 3000 đến 1500 TCN, khi những nền văn minh cổ đại như nền văn minh Trung Đông phát triển rực rỡ thì những tư tưởng về quyền con người được nhà vua Hammurabi xứ Babylon tạo ra và phát triển bằng bộ luật Hammurabi nổi tiếng.[19] Vào những năm 576 - 529 TCN, các năm 272 - 231, năm 622, các văn bản pháp luật cổ đại lần lượt là Bộ luật của vua Cyrus Đại đế, Bộ luật do nhà vua Ashoka (Ashoka’s Edicts) và Hiến pháp Medina (the Constitution of Medina) của nhà tiên tri Muhammad ra đời.[20] Một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của quyền con người chính là sự ra đời của Đại Hiến chương Magna Carta năm 1215.[21] Sau khi Vua John của Anh vi phạm vô số các luật lệ và phong tục khiến đất nước rơi vào trạng thái khó khăn, các quý tộc, các lực lượng nổi dậy và phía giáo hoàng đã cùng nhau yêu cầu ông phải ký Đại Hiến chương này.[22] Magna Carta đã hạn chế đáng kể quyền lực của quân chủ và trao cho con người một số quyền cơ bản. Đây chính là văn bản có tính hiến pháp đầu tiên trên thế giới và là văn kiện quan trọng trong sự phát triển của nền dân chủ hiện đại nói chung và quyền con người nói riêng.[23] Ở những thời kỳ sau, Bill of Rights năm 1689 của Vương quốc Anh ra đời đã quy định về các quyền dân sự và quyền tự do cho con người.[24] Năm 1776, Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ do mười ba thuộc địa ở Bắc Mỹ tuyên bố với đế chế Anh vào năm 1776 đã khẳng định:“Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.[25] Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ có thể coi là sự xác nhận chính thức đầu tiên trên phương diện nhà nước về quyền con người.[26] Năm 1789, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (Declaration of the Rights of Man and of the Citizen/Déclaration des droits de l'homme et du citoyen) được Cộng hòa Pháp thông qua. Bản Tuyên ngôn tuyên bố rằng mọi công dân phải được bảo đảm các quyền về “tự do, tài sản, an ninh và chống lại sự áp bức”.[27] Nhiều văn bản pháp lý mang dấu ấn của bản Tuyên ngôn này ra đời chỉ trong vòng 35 năm (từ 1795-1830) xuyên suốt châu Âu, khẳng định sự nhận thức ngày càng rộng rãi về quyền con người.[28] Quyền con người nổi lên thành hiện tượng quốc tế khi con người bắt đầu nổi dậy đòi xóa bỏ chế độ nô lệ, đồng thời bảo vệ quyền lợi người lao động cùng với các nạn nhân trong các vụ xung đột vũ trang. Kể từ đó, nhiều sự kiện mang tính lịch sử cùng với các hội nghị và hiệp ước được diễn ra và ký kết liên tục, có thể kể đến Công ước về cải thiện điều kiện của người bị thương trong các cuộc chiến tranh trên bộ (Convention (I) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field)[29] thông qua năm 1864, một loạt văn kiện khác của luật nhân đạo quốc tế đã được thông qua trong Hội nghị La Hay, tại các Hội nghị của Hội Chữ Thập đỏ quốc tế (International Committee of the Red Cross - ICRC)[30] và của Hội Quốc liên.[31] Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cùng với sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của các tư tưởng về quyền con người, đặc biệt là các quyền tự do, dân chủ.[32] Ngành luật quốc tế về quyền con người chính thức được khai sinh sau Chiến tranh thế giới thứ II, khi Liên hợp quốc ra đời.[33] Liên hợp quốc khi đó đã thông qua Hiến chương Liên hợp quốc (24/10/1945), Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) (10/12/1948)[34] cùng hai công ước quốc tế về các quyền cơ bản (năm 1966)[35] là Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR)[36] và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR).[37] Sau thời kỳ này, Hội nghị Viên được tổ chức vào năm 1993 đã thông qua Tuyên bố Viên nhằm thúc đẩy những nỗ lực giám sát và bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới.[38] Sau hội nghị, những phát triển lớn trên lĩnh vực quyền con người ở phạm vi quốc tế bao gồm việc thành lập các tòa án hình sự quốc tế lâm thời và thường trực để xét xử các tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại, tội diệt chủng và tội xâm lược, và đặc biệt là việc thành lập Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC) (năm 2006, thay thế cho Ủy ban của Liên hợp quốc về quyền con người trước đó).[39] Không chỉ vậy, những tư tưởng và hiểu biết về nhân quyền ngày càng được củng cố và phát triển sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, tạo nền tảng vững chắc cho hành trình nghiên cứu nhân quyền của các nhà khoa học pháp lý hiện đại. 3. Đặc điểm, tính chất của nhân quyền Từ các các nguồn gốc và khái niệm nêu trên về quyền con người, có thể thấy quyền con người có bốn tính chất chính, bao gồm tính phổ quát (universality), tính không thể tước đoạt (inalienability), tính không thể phân chia (indivisibility) và tính phụ thuộc và liên hệ lẫn nhau (interdependence and interrelation). Quyền con người là một quyền mang tính mang tính phổ quát.[40] Điều này được thể hiện qua các việc: quyền con người áp dụng cho mọi thành viên của nhân loại (all member of humanity),[41] quyền con người là căn bản và “không thể nghi ngờ (beyond question),[42] là “trụ cột” (cornerstone) trong luật quốc tế.[43] Tức là mọi người từ khi sinh ra đã được hưởng quyền con người. Tính phổ quát của quyền con người chính là cơ sở cho nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử.[44] Cụ thể tất cả con người đều được sinh ra tự do và bình đẳng về nhân cách và quyền,[45] cũng như được hưởng các quyền mà không bị phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do nào, dù là chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc ý kiến khác.[46] Tính không thể tước đoạt (inalienability) thể hiện qua việc quyền con người không thể bị tước đoạt trái pháp luật hoặc tùy tiện bởi bất kỳ chủ thể nào, bao gồm cả nhà nước.[47] Trong một số trường hợp cụ thể một số quyền con người nhất định có thể bị hạn chế để đảm bảo quyền của nhiều cá nhân khác không bị xâm phạm. Tuy nhiên việc này cần tuân theo trình tự chặt chẽ, trên cơ sở vẫn tôn trọng các quyền khác mà cá nhân được hưởng theo pháp luật.[48] Một trường hợp điển hình về việc hạn chế quyền con người đó là việc hạn chế quyền sống. Mặc dù được quy định tại Tuyên ngôn toàn cầu về quyền con người năm 1948 (UDHR 1948), quyền con người có thể bị hạn chế ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ, nhà nước được phép áp dụng án tử đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào pháp luật hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện.[49] Tính không thể phân chia (indivisibility) của quyền con người thể hiện ở việc các quyền con người đều quan trọng, đều có vai trò và ý nghĩa, đều đóng góp vào việc khẳng định và giữ gìn phẩm giá của con người.[50] Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, nhà nước có thể ưu tiên bảo vệ một hoặc một số quyền cụ thể so với các quyền còn lại. Ví dụ như trong trường hợp dịch bệnh nhà nước có thể sẽ ưu tiên quyền được bảo vệ sức khỏe hơn quyền tự do đi lại.[51] Tính phụ thuộc và liên quan đến nhau (interdependence and interrelation) của quyền con người thể hiện qua các quyền con người dù là quyền dân sự, chính trị hay quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, đều liên quan, phụ thuộc, tác động lẫn nhau.[52] Do vậy, sự tiến bộ trong việc bảo đảm và thúc đẩy một quyền có thể tác động tích cực đến việc thụ hưởng một quyền khác, chẳng hạn quyền lao động có thể tác động đến quyền có mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình.[53] Kết luận Qua bài viết, nhóm tác giả cơ bản giới thiệu được nhân quyền qua các khía cạnh cơ bản: định nghĩa, lịch sử hình thành và phát triển cùng các đặc điểm, tính chất quan trọng. Đọc bài viết, người đọc có cái nhìn bao quát hơn về quyền con người. Đối với các quốc gia nói chung và các nhà làm luật nói riêng, quyền con người là cơ sở pháp lý quan trọng để hình thành, phát triển và củng cố khung pháp lý về luật Nhân quyền quốc tế, góp phần đảm bảo quyền lợi của mỗi công dân trên toàn cầu, hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng và phát triển bền vững. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] United Nations, Human Rights: Question and Answers (Geneva 1994) 4. [2][14][19][20][26][28][32][33][35][39] Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2011). [3] Zeno xứ Citium (tiếng Hy Lạp: Ζήνων ὁ Κιτιεύς, Zēnōn ho Kitieus, 334 TCN-262 TCN) là nhà triết học người Hy Lạp. Ông là người sáng lập ra chủ nghĩa khắc kỷ. Tư tưởng của ông về lý trí phổ quát và sự bình đẳng bản chất giữa con người được coi là một trong những mầm mống sơ khai nhất của học thuyết quyền con người. Xem thêm Eduard Zeller, The Stoics, Epicureans, and Sceptics (Longmans, Green, and Co 1870) 36 - 43. [4] Thomas Hobbes (5 tháng 4 năm 1588 – 4 tháng 12 năm 1679), trong một số văn bản cổ có tên là Thomas Hobbes của Malmesbury, là một nhà triết học người Anh, được coi là một trong những người sáng lập triết học chính trị hiện đại. Ông nổi tiếng với tác phẩm Leviathan (1651), nơi ông đưa ra lý thuyết về “Khế ước xã hội” để giải thích nguồn gốc của nhà nước và luật pháp, lập luận rằng con người cần một chính quyền trung ương mạnh mẽ để duy trì trật tự và an ninh. Xem thêm Thomas Hobbes, Leviathan (Richard Tuck ed, CUP 1996). [5] John Locke (1632–1704) là một bác sĩ, nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh. Ông là nhà triết học theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận. Học thuyết của ông về quyền tự nhiên (Natural Rights) khẳng định rằng mọi cá nhân sinh ra đều có quyền bẩm sinh đối với “sống, tự do và tài sản” (life, liberty, and estate). Xem John Locke, Two Treatises of Government (Peter Laslett ed, CUP 1988). [6][7][10]Nguyễn Đăng Dung, Hỏi đáp về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2018) 22, 23. [8] Edmund Burke (12 tháng 1 năm 1729 - 9 tháng 7 năm 1797) là một chính khách, nhà văn, nhà hùng biện, nhà lý thuyết học chính trị, và nhà triết học người Ireland. Ông được xem là nhà sáng lập tư tưởng của chủ nghĩa bảo thủ hiện đại, và là đại diện của chủ nghĩa tự do cổ điển. Xem Edmund Burke, Reflections on the Revolution in France (L. G. Mitchell ed, OUP 1999). [9] Jeremy Bentham (1748–1832) là một luật gia, triết gia người Anh và là người sáng lập ra Chủ nghĩa vị lợi (Utilitarianism). Bentham là một trong những học giả kịch liệt phản đối học thuyết quyền tự nhiên. Xem Jeremy Bentham, “Anarchical Fallacies” trong John Bowring (ed), The Works of Jeremy Bentham, vol 2 (William Tait 1843) 489 - 501. [11][13] Jeremy Bentham, “Anarchical Fallacies” trong John Bowring (ed), The Works of Jeremy Bentham, vol 2 (William Tait 1843) 489 - 501. [12] Nguyên văn tác giả sử dụng cụm “Nonsense upon stilts”. [15] OHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation (New York and Geneva 2006) 1. [16] Xem thêm Chương 3 trong Matthias Mahlmann, Mind and Rights: The Philosophy of Human Rights and Intentionalism (OUP 2023). [17] U Ripamonti et al, “A Suggested Intentional Extraction of a Wisdom Tooth: Implies Capacity for Prosocial Behaviour in Homo Erectus” (2020) 75(3) South African Dental Journal. [18] Anderson Trevor, “Healed Trauma in an Early Bronze Age Human Skeleton from Buckinghamshire, England” (2002) 12(3) International Journal of Osteoarchaeology. [21][22][23]United for Human Rights, “A Brief History of Human Rights” https://www.humanrights.com/what-are-human-rights/brief-history/magna-carta.html truy cập ngày 24/4/2026. [24] UK Parliament , “Bill of Rights 1689” https://www.parliament.uk/about/living-heritage/evolutionofparliament/parliamentaryauthority/revolution/collections1/collections-glorious-revolution/billofrights/ truy cập ngày 25/4/2026. [25] Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Lời nói đầu trong Tư tưởng về quyền con người - Tuyển tập tư liệu thế giới và Việt Nam (Nxb Lao động - Xã hội 2011) 114. [27] United for Human Rights, “A Brief History of Human Rights” https://www.humanrights.com/what-are-human-rights/brief-history/declaration-of-human-rights.html truy cập ngày 25/4/2024. [29] Geneva Convention (I) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 31. [30] Năm 1929, Hội nghị của tổ chức này họp tại Geneva, qua đó thông qua Công ước Geneva năm 1929 về đối xử với tù binh (tiền thân của Công ước Geneva thứ III năm 1949 về đối xử nhân đạo với tù binh (GPW)). [31] Năm 1925, tổ chức này thông qua Nghị định thư về cấm sử dụng hơi cay ngạt và hơi độc. [34][40][41][44][45][46][47] UNGA, Universal Declaration of Human Rights (10 December 1948) Res 217 A (III) (UDHR). [36][48][49] International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 23 March 1976) 999 UNTS 171 (ICCPR). [37] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 3 January 1976) 993 UNTS 3 (ICESCR). [38][42][50][52] UNGA, Vienna Declaration and Programme of Action (12 July 1993) UN Doc A/CONF.157/23 (VDPA). [43] OHCHR, “What are Human Rights?” https://www.ohchr.org/en/what-are-human-rights truy cập ngày 15/5/2026. [51][53] Phạm Lan Dung (ed.), Giáo trình Luật Quốc tế (Học viện Ngoại giao 2022) 285.

  • [81] QUY ĐỊNH NGOẠI LỆ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (WTO)

    Tác giả: Nguyễn Hoàng Trang, Phùng Đăng Khôi Dẫn nhập: Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại một cuộc họp của Uỷ ban Thương mại và Môi trường (CTE) của Tổ chức Thương mại Thế giới (“WTO”), đại diện các Thành viên WTO tham gia cuộc họp đã thực hiện tổng kết rà soát tiến độ của các nước thực hiện nỗ lực đẩy mạnh thực hiện chính sách thương mại trong mối liên hệ với môi trường, theo đó xác tầm nhìn sắp tới là tăng cường tính minh bạch trong việc áp dụng các biện pháp nội địa về môi trường. Theo đó, các Thành viên khi áp dụng chính sách thương mại cần đặc biệt lưu ý để không tạo ra các rào cản thương mại không cần thiết. Mặt khác, việc tham gia WTO không đồng nghĩa rằng các Thành viên không được phép các biện pháp hạn chế thương mại, nếu việc áp dụng biện pháp đó nhằm bảo vệ các mục tiêu chính sách của mình, đặc biệt là các mục tiêu về môi trường. 1. Mối liên hệ giữa chính sách môi trường và nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO Lời mở đầu của Hiệp định Marrakesh năm 1994 khẳng định việc thành lập WTO nhằm thực hiện mối liên hệ giữa kinh tế và thương mại "...với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ…". Thương mại quốc tế, tuy vậy, vẫn cần "bảo đảm việc sử dụng tối ưu nguồn lực [...] theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường [...]".[1] Tầm quan trọng và tính chính đáng của việc bảo vệ môi trường đã được thừa nhận như một mục tiêu của chính sách quốc gia và quốc tế; và phát triển bền vững là mục tiêu của tất cả các Hiệp định trong khuôn khổ WTO.[2] Thực tế, thương mại phụ thuộc mật thiết vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên, nguồn lực này hữu hạn và không thể tái tạo. Khi môi trường bị suy thoái, không chỉ nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất bị cạn kiệt, mà chất lượng đời sống và sức khỏe của con người cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Theo đó, năng suất lao động và sức mua suy giảm, triệt tiêu động lực của thị trường và sự phát triển của thương mại. Do vậy, chính sách thương mại và chính sách môi trường quốc gia có mối quan hệ tương trợ, bởi hệ thống thương mại đa phương hướng tới và hiện thực hóa việc phân bổ và sử dụng tài nguyên hiệu quả, thúc đẩy việc gia tăng sản xuất và cải thiện thu nhập. Đồng thời, bảo vệ môi trường là bảo vệ nguồn tài nguyên đầu vào và nền tảng thị trường cho việc mở rộng nền kinh tế và thương mại.[3] Do vậy, ngoại lệ môi trường, cùng với các ngoại lệ chung theo quy định Điều XX GATT, là cơ chế nhằm hài hoá sự mâu thuẫn tiềm tàng giữa việc tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường với các giá trị và lợi ích xã hội căn bản[4] và bảo đảm an ninh và tính dễ dự đoán của việc tiếp cận thương mại cho thương nhân và nhà đầu tư.[5] 2. Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường trong các Hiệp định WTO Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường xuất hiện trong nhiều Hiệp định WTO. Cụ thể, Điều XX Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (“GATT”) và Điều XIV Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) đều quy định việc cho phép các Thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong trường hợp “cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật.[6] Điều XX GATT có quy định thêm về ngoại lệ trong trường hợp “liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”.[7] Các Hiệp định WTO về các vấn đề chuyên biệt cũng chứa đựng các quy định tương tự cho phép áp dụng ngoại lệ về môi trường khi các chính sách thương mại được áp dụng nhằm theo đuổi các mục tiêu chính sách chính đáng.[8] Điều XX GATT về Ngoại lệ chung liệt kê một danh sách hữu hạn các trường hợp mà Thành viên được phép áp dụng các biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ GATT một cách có điều kiện.[9] Cụ thể, điều khoản có quy định như sau về các ngoại lệ về môi trường: “Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp: […] (b) cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật; […] (g) liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước; Có thể nói rằng quy định về ngoại lệ môi trường của GATT là những quy định tiêu biểu, nền tảng và mang tính chất giải thích cao, đặc biệt là đối với những nội dung tương tự tại các Hiệp định WTO khác. Trong giai đoạn từ 1947 đến 1994, vụ Tuna Dolphin I (1991) và Tuna Dolphin II (1994) đã đặt nền móng cho việc giải thích ngoại lệ về môi trường được quy định trong GATT. Hai vụ việc này xoay quanh việc Mỹ đưa ra lệnh cấm đơn phương nhập khẩu cá ngừ đuôi vàng được đánh bắt theo phương thức cũng giết cá heo.[10] Ban Hội thẩm của cả hai vụ việc cho rằng, việc một biện pháp thương mại được đưa ra hướng đến tác động quốc gia khác thay đổi chính sách môi trường không "cần thiết" theo nghĩa của Điều XX(b)[11] và không "liên quan" theo nghĩa của Điều XX(g).[12] Sau khi WTO được thành lập, Cơ quan Phúc thẩm tiếp cận theo hướng mở rộng sự công nhận các biện pháp bảo vệ môi trường chính đáng theo ngoại lệ Điều XX(b) và XX(g).[13] 2.1. Phép thử hai tầng Thoạt nhìn theo quy định của Điều XX, để một biện pháp phù hợp với các quy định về ngoại lệ cần thỏa mãn hai yếu tố: Phần Lời mở đầu ("Chapeau") và các trường hợp cụ thể trong Đoạn (a) đến (j). Trong vụ US - Gasoline và vụ US - Shrimp, Cơ quan Phúc thẩm nhấn mạnh để xem xét liệu một biện pháp có thoả mãn quy định về ngoại lệ theo Điều XX, Ban Hội thẩm phải trước hết xem xét liệu biện pháp có phù hợp với các quy định trong các đoạn từ (a) đến (j), sau đó mới đánh giá liệu biện pháp đó có thoả mãn các yêu cầu của Chapeau.[14] 2.2. Ngoại lệ tại Điều XX(b) về bảo vệ sự sống, sức khoẻ (người, động, thực vật) Nhằm thoả mãn điều kiện tại Điều XX(b), biện pháp thương mại đó (i) phải được xây dựng để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật và (ii) biện pháp cần thiết để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật. Về điều kiện thứ nhất, tính phù hợp của mục tiêu biện pháp theo Điều XX(b) được đánh giá dựa trên sự tồn tại của rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật, và rủi ro đó phải hiện hữu, rõ ràng chứ không phải nguy cơ chung chung.[15] Đồng thời, phải có mối quan hệ rõ ràng giữa biện pháp được đưa ra và việc bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[16] Ví dụ, trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, Ban Hội thẩm chấp nhận lập luận của Brazil rằng biện pháp của Brazil phù hợp với trường hợp cụ thể của Điều XX(b).[16] Theo đó, sự tích tụ lốp xe thải tạo ra môi trường sinh sôi của muỗi - là chủ thể chứa bệnh dịch nguy hiểm, và những bệnh dịch đó có thể lây truyền trong quá trình xử lý lốp thải. Đồng thời, lốp xe thải tích tụ có thể rỉ nước, gây cháy và thải ra môi trường khí độc. Trên cơ sở đó, Ban Hội thẩm cho rằng tồn tại rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật[18] và biện pháp được đưa ra nhằm thực hiện bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[119] Về điều kiện thứ hai, biện pháp có được coi là "cần thiết" được xem xét trên cơ sở sự quan trọng của lợi ích hoặc giá trị bị tổn hại, mức độ đóng góp đối với sự hoàn thành mục đích của biện pháp và tính hạn chế thương mại của biện pháp đó. Biện pháp chỉ được coi là cần thiết nếu không tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn mà có mức độ đóng góp tương đương với sự hoàn thành mục đích và biện pháp đó phải tồn tại một cách hợp lý.[20] Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh sự tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn.[21] Theo đó, biện pháp sẽ càng dễ dàng được xem là cần thiết nếu biện pháp có mục đích bảo vệ giá trị xã hội càng quan trọng và đóng góp đáng kể tới việc bảo vệ biện pháp đó. Trong vụ EC - Asbestos, Ban Hội thẩm công nhận việc loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ đe doạ đến sức khoẻ và đến sự sống của sợi amiăng là "quan trọng ở mức độ cao nhất".[22] Trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, biện pháp không được coi là tồn tại một cách hợp lý khi mà biện pháp đó chỉ phù hợp trên lý thuyết hoặc bên bị đơn không có khả năng thực hiện hoặc biện pháp cấu thành gánh nặng chi phí hoặc kỹ thuật cho bị đơn.[23] Trong vụ EC - Asbestos, Canada (Nguyên đơn) cho rằng tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn - việc sử dụng có kiểm soát amiăng.[24] Tuy nhiên, Ban Hội thẩm cho rằng biện pháp sử dụng có kiểm soát không hợp lý - bởi biện pháp sẽ không đủ để chấm dứt rủi ro từ amiăng và bảo vệ sức khoẻ con người.[25] 2.3. Ngoại lệ tại Điều XX(g) về giữ gìn nguồn tài nguyên có thể cạn kiệt Điều XX(g) GATT cho phép Thành viên áp dụng biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ nêu tại GATT trong trường hợp việc áp dụng biện pháp đó là “liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước”. Trước đây, ngoại lệ Điều XX(g) đã được các Thành viên viện dẫn nhằm biện minh cho đa dạng các biện pháp nhằm hướng tới việc bảo tồn nguyên liệu thô,[26] đất hiếm,[27] cá hồi và cá trích,[28] cá ngừ và cá heo,[29] rùa biển[30] và không khí sạch.[31] Có thể thấy rằng Điều XX(g) áp dụng việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên với nội hàm rộng. Để đáp ứng việc viện dẫn điều khoản này, một biện pháp được áp dụng phải thoả mãn 03 điều kiện: (i) biện pháp phải là về việc “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; (ii) biện pháp liên quan tới “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; và (iii) biện pháp áp dụng hạn chế đối với cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước. Về điều kiện thứ nhất. Trong vụ China – Raw Materials, cụm từ “gìn giữ” đã được giải thích là “việc bảo tồn môi trường, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên.[33] Sau đó, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth đã mở rộng nội hàm này và cho rằng gìn giữ không đơn thuần là ngăn cấm việc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà còn bao gồm cả những nỗ lực áp dụng các biện pháp nhằm điều tiết và quản lý các hoạt động khai thác này.[34] Trong đó, “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” theo nghĩa tại Điều XX(g) không chỉ bao gồm tài nguyên phi sinh vật (ví dụ: khoáng sản) mà còn bao gồm tài nguyên sinh vật, trong đó bao gồm cả động vật. Trong vụ US – Shrimp, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan và Malaysia cho rằng cụm từ “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” chỉ ám chỉ khoáng sản hay các tài nguyên phi sinh vật khác bởi tài nguyên sinh vật được xem là có khả năng tái tạo.[35] Tuy nhiên, quan điểm này đã hoàn toàn bị bác bỏ bởi Cơ quan Phúc thẩm, bởi sinh vật hoàn toàn có nguy cơ bị tuyệt chủng và giống với khoáng sản hay bất cứ tài nguyên phi sinh vật nào khác, sinh vật cũng có thể “cạn kiệt”.[36] Nhìn chung, một quan điểm đầy đủ nhất được Cơ quan Phúc thẩm đưa ra trong China – Rare Earth. Theo đó, việc “gìn giữ” khoáng sản có thể được hiểu là bảo tồn loại tài nguyên này thông qua việc giảm thiểu hoặc yêu cầu dừng đối với các hoạt động khai thác. Đối với sinh vật, “gìn giữ” không chỉ có các hoạt động nhằm giảm thiểu hoặc cho dừng các hoạt động thúc đẩy tuyệt chủng đối với các loài động vật quý hiếm, mà còn cả bao gồm việc tạo điều kiện thuận lợi nhằm tái tạo, phục hồi những loài động vật này.[37] Tuy nhiên, tới nay chưa có án lệ WTO nào chỉ ra thực vật cũng được xem là “tài nguyên cạn kiệt” cần được “gìn giữ” theo nghĩa của Điều XX(g). Về điều kiện thứ hai. Biện pháp cản trở thương mại của Thành viên chỉ được chấp nhận là thuộc vào ngoại lệ tại Điều XX(g) khi biện pháp đó “liên quan tới” việc thực hiện mục tiêu chính sách đã được xác định - “gìn giữ tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt”. Điều kiện “liên quan tới” đưa ra yêu cầu về mối quan hệ giữa biện pháp và mục tiêu chính sách ít nghiêm ngặt hơn so với điều kiện “cần thiết” tại Điều XX(b). Theo đó, khi xem xét liệu một biện pháp có “liên quan tới” mục tiêu mà Thành viên đề ra trước đó hay không thì cơ quan giải quyết tranh chấp WTO chỉ cần cân nhắc và phân tích cách thức thiết kế và cấu trúc vận hành của biện pháp thay vì phải đánh giá cả các hệ quả trên thực tế của biện pháp đó.[38] Giữa biện pháp và mục tiêu chính sách phải có một mối liên hệ gần gũi và thực chất.[39] Về điều kiện thứ ba. Điều XX(g) yêu cầu việc áp dụng biện pháp mang tính hạn chế thương mại đồng thời với cả sản xuất trong nước, hay nói cách khác yêu cầu sự đối xử công bằng, không thiên vị (nguyên gốc: even-handedness) giữa hàng hoá trong và ngoài nước.[40] Theo đó, “even-handedness” không đơn thuần là việc áp dụng biện pháp giống hệt với các đối tượng khác nhau - nhà sản xuất trong nước và nước ngoài, mà cần phải được hiểu là sự đối đãi công bằng về thực chất.[41] Như vậy, khi một biện pháp thực sự chính đáng và “liên quan tới gìn giữ tài nguyên cạn kiệt”, biện pháp phải hướng tới việc chia đều trách nhiệm “gìn giữ” này tới tất cả nhà sản xuất, bất kể trong nước hay ngoài nước.[42] 2.4. Lời mở đầu ("Chapeau") của Điều XX Bên cạnh những điều kiện gắn cụ thể với mục tiêu bảo vệ môi trường của chính sách như nêu trên. Một biện pháp cản trở thương mại chỉ được xem là hợp pháp theo Điều XX khi đạt đủ cả các điều kiện nêu tại phần lời mở đầu của điều khoản này, theo đó, một chính sách thương mạikhông thể được áp dụng trên cơ sở (i) tạo ra sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý; hoặc (ii) tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế. Nói cách khác, một biện pháp hạn chế thương mại, ngay cả khi rơi vào trường hợp ngoại lệ tại Điều XX vẫn cần phải được áp dụng một cách hợp lý, phù hợp với các nghĩa vụ pháp lý của các bên có liên quan.[43] Cơ quan Phúc thẩm trong vụ US – Shrimp cho rằng mục đích của phần lời mở đầu Điều XX là nhằm yêu cầu các Thành viên duy trì sự cân bằng giữa quyền viện dẫn ngoại lệ của bản thân và nghĩa vụ nhằm tự do hoá thương mại của chính Thành viên đó đối với các Thành viên khác.[44] Thứ nhất, biện pháp được coi là "phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý" khi việc áp dụng biện pháp đó phải dẫn đến việc phân biệt đối xử, biện pháp đó có bản chất độc đoán và phi lý, và biện pháp phân biệt giữa các quốc gia có cùng điều kiện[45] hoặc áp dụng cứng nhắc mà không tính đến sự khác biệt trong điều kiện của từng quốc gia.[46] Phân biệt đối xử không chỉ dừng lại ở việc đối xử khác nhau với các quốc gia có cùng điều kiện, mà còn thể hiện ở việc không cho phép tiến hành bất kỳ cuộc điều tra nào về tính phù hợp của chương trình quản lý đối với các điều kiện hiện hành tại các quốc gia xuất khẩu đó.[47] Việc phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc phi lý không được xem xét theo góc độ tác động của việc phân biệt đối xử, mà được xem xét dựa trên liệu lý do của biện pháp có không có mối liên hệ tới mục đích của biện pháp.[48] Thứ hai, trong vụ US – Gasoline, Cơ quan Phúc thẩm cho rằng một biện pháp hạn chế thương mại tức là biện pháp đó cấu thành sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý, tuy nhiên lại được thực hiện dưới vỏ bọc của biện pháp, trên danh nghĩa, có thể thuộc vào ngoại lệ được liệt kê tại Điều XX.[49] Trên cơ sở nhận định này, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth đã chỉ ra thêm rằng, một biện pháp phân biệt đối xử có thể cấu thành một hạn chế thương mại trá hình; tuy nhiên một hạn chế thương mại trá hình không luôn luôn là một biện pháp mang tính chất phân biệt đối xử.[50] Nội hàm của cụm từ “hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế” không nằm ở “hạn chế” mà nằm ở từ “trá hình”, có ý nghĩa là “làm biến đổi nhằm đánh lừa” nếu xét theo nghĩa thông thường.[51] Như vậy, ngay cả khi một biện pháp đáp ứng các điều kiện hình thức của Điều XX, lại nhằm che giấu một mục tiêu hạn chế thương mại khác thì không thể được miễn trừ trách nhiệm theo Điều XX.[52] 3. Kết luận Thông qua xem xét thực tiễn giải quyết tranh chấp, những quy định về ngoại lệ trong các hiệp định WTO về đa dạng các lĩnh vực đã thiết lập nên căn cứ pháp lý hỗ trợ các Thành viên điều tiết các chính sách thương mại quốc tế một cách phù hợp với mục tiêu, tầm nhìn của quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường. Như vậy, khuôn khổ pháp luật WTO đã xác lập một nguyên tắc chung về việc yêu cầu các Thành viên duy trì một cách hợp lý sự cân bằng giữa quyền tự chủ xác lập chính sách bảo vệ môi trường và các nghĩa vụ tự do hóa thương mại được xác lập khi gia nhập WTO - một hệ thống thương mại đa phương. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hiệp định Marrakesh, Lời mở đầu. [2] Appellate Body, US – Shrimp, para. 129, 130. [3] Agenda 21, § 2.19, UN Doc. A/CONF. 151/4 (1992) [4] Peter Van den Bossche and Werner Zdouc, The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases, and Materials (4th edition, CUP) p. 544-545 [5] Report by the Consultative Board to the Director-General Supachai Panitchpakdi, Report on the Future of the WTO: Addressing Institutional Challenges in the New Millennium (World Trade Organization, 2014), para. 39 [6] Điều XX(b) GATT; Điều XIV(b) GATS. [7] Điều XX(g) GATT. [8] Điều 27.2 TRIPS; Điều 8.2 SCM; Điều 2.2 SPS; Điều 2.2, Điều 2.4 TBT [9] Panel, US – Section 337 Tariff Act, para 5.9 [10] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy, (3rd edition, OUP) page 723 [11] Tuna Dolphin I, para. 5.27; Tuna Dolphin II, paras. 5.36–5.38. [12] Tuna Dolphin I, para. 5.33; Tuna Dolphin II, para. 5.26. [13] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy, (3rd edition, OUP) page 724 [14] Appellate Body, US – Shrimp, paras. 119–20; Appellate Body, US – Gasoline, p. 22 [15] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.46. [16] Appellate Body, Colombia - Textiles, para 5.68. [17] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.53, 7.84. [18] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.96 [19] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.99, 7.100 [20] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 178 [21] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 156 [22] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 172. [23] Appellate Body, Brazil – Retreaded Tyres, para. 156 [24] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 169 [25] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 174. [26] China – Raw Materials [27] China – Rare Earth [28] Canada – Herring and Salmon [29] Tuna Dolphin I và Tuna Dolphin II; US – Tuna II [30] US – Shrimp [31] US – Gasoline [32] Nguyên gốc: relating to. [33] Appellate Body, China – Raw Materials, para. 355 [34] Panel, China – Rare Earth, para 7.266. [35] Appellate Body, US – Shrimp, para. 127. [36] Appellate Body, US – Shrimp, para. 128. [37] Appellate Body, China – Rare Earth, para. 5.89. [38] Panel, China – Rare Earth, para 7.290 và 7.379 [39] US – Shrimp. See also: China – Raw Materials para 355 [40] Appellate Body, US – Gasoline, para 20-1. [41] Ibid. [42] Appellate Body. China – Rare Earth, para. 5.134. [43] Appellate Body, US – Gasoline p. 22, trích dẫn từ US – Spring Assemblies, para 56. [44] Appellate Body, US – Shrimp, para 156. See also: Appellate Body, EC – Seal Products, para 5.297. [45] Appellate Body, US - Shrimp, para 150 [46] EC – Seal Products, Appellate Body Report, para. 5.305. [47] Appellate Body, US - Shrimp, para 164, 165 [47] Indonesia – Import Licensing Regimes, Panel Report, para. 7.824 [49] Appellate Body, US – Gasoline, p.25 [50] Panel, China – Rare Earth, para. 7. 826 [51] Panel, EC – Abestos, para. 7.823 [52] Panel, EC – Abestos, para. 7.823

  • [87] TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VÀ THỎA ĐÁNG TRONG LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

    Tác giả: Đặng Quốc Dũng, Nguyễn Hàn Bách Mở đầu: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài trở thành một trong những vấn đề trung tâm của pháp luật đầu tư quốc tế. Vì thế, bài viết này khám phá nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET) trong Luật đầu tư quốc tế theo góc độ thực tế, đi từ lịch sử tới áp dụng thực tiễn và quan hệ của nguyên tắc FET với các nguyên tắc khác trong luật đầu tư quốc tế. Bài viết hướng đến làm rõ những điểm đồng thuận, những điểm còn mở mà nguyên tắc đặt ra trong bối cảnh pháp luật đầu tư quốc tế hiện đại. Từ khóa: Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng, luật đầu tư quốc tế, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu. 1. Khái quát chung về FET Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (Fair and Equitable Treatment - FET) là một nguyên tắc trong luật đầu tư quốc tế, được áp dụng bởi các quốc gia nhằm bảo vệ quyền lợi của những nhà đầu tư nước ngoài. Đây được coi là một trong những nguyên tắc phổ biến nhất trong các BIT.[1] 1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành của nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng trong Luật Đầu tư Quốc tế Sự hình thành của nguyên tắc FET đi trước cả lịch sử của các Hiệp định đầu tư Quốc tế (International Investment Agreements - IIAs), được nhắc tới trong cả những hiệp định thương mại quốc tế thời kỳ đầu như Hiến chương Havana (1948).[2] Nguồn gốc của nguyên tắc FET được sử dụng trong bối cảnh hiện đại và các IIAs là Dự thảo hội nghị Abs–Shawcross về đầu tư quốc tế (1959),[3] nhắc tới "đối xử công bằng và thỏa đáng với tài sản của công dân những quốc gia thành viên khác", ngôn ngữ này lần nữa được lặp lại tại Dự thảo hội nghị Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) sau đó.[4] Từ những năm 1960, nguyên tắc FET thường xuyên xuất hiện trong những hiệp định thương mại song phương (Bilateral Investment Treaty - BIT). Trong một số trường hợp, FET chỉ xuất hiện trong lời mở đầu[5] và trong số còn lại thì giữ vai trò là nguyên tắc điều chỉnh quan hệ thương mại song phương. Những nguyên tắc FET cũng xuất hiện trong những hiệp định thương mại tự do của những năm 2000, tiêu biểu như Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA)[6] hay Hiệp ước Hiến chương Năng lượng (ECT)[7]. 1.2. Định nghĩa của FET Cho đến nay, chưa tồn tại một định nghĩa thống nhất và được thừa nhận rộng rãi về tiêu chuẩn FET trong luật đầu tư quốc tế. Phần lớn các hiệp định đầu tư chỉ ghi nhận FET mà không giải thích nội hàm của tiêu chuẩn này, khiến việc xác định ý nghĩa của FET chủ yếu dựa trên cách diễn giải của học giả và thực tiễn trọng tài đầu tư. Thứ nhất, xét theo nghĩa thông thường của ngôn ngữ, “đối xử công bằng và thỏa đáng” được hiểu là yêu cầu quốc gia tiếp nhận đầu tư phải hành động một cách công bằng, khách quan, không thiên vị và phù hợp với các quy tắc pháp luật. Theo nghĩa thông thường của ngôn ngữ, "fair" hàm ý sự công bằng và không thiên vị, còn "equitable" nhấn mạnh tính hợp lý và công bằng theo lẽ phải. FET được hiểu là tiêu chuẩn đòi hỏi Nhà nước thực hiện quyền lực công trên cơ sở thiện chí, minh bạch và hợp lý, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích của nhà đầu tư với lợi ích công cộng của quốc gia tiếp nhận đầu tư.[8] Tuy nhiên, các ý nghĩa ngôn ngữ này không đủ để xác định nội hàm pháp lý của FET; nội dung cụ thể của tiêu chuẩn này chủ yếu được phát triển thông qua thực tiễn trọng tài đầu tư quốc tế. Thứ hai, thực tiễn trọng tài đầu tư quốc tế đã góp phần định hình nội hàm của FET thông qua việc giải thích tiêu chuẩn này trong từng vụ việc cụ thể. Trong vụ Tecmed kiện Mexico, hội đồng trọng tài nhấn mạnh rằng FET bảo vệ các kỳ vọng cơ bản của nhà đầu tư, đồng thời yêu cầu quốc gia tiếp nhận đầu tư hành động nhất quán, minh bạch và không tùy tiện.[9] Tiếp đó, trong vụ MTD kiện Chile, hội đồng trọng tài phát triển cách tiếp cận này khi cho rằng FET không chỉ yêu cầu Nhà nước tránh gây thiệt hại cho nhà đầu tư mà còn phải có những hành động tích cực nhằm tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi.[10] Tuy nhiên, sau đó, Ủy ban ad hoc trong vụ MTD kiện Chile đã chỉ trích cách tiếp cận này và lưu ý rằng nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư phải xuất phát từ các cam kết trong điều ước đầu tư, thay vì chỉ dựa trên kỳ vọng của nhà đầu tư.[11] Trong Saluka kiện Séc, hội đồng trọng tài tiếp tục cụ thể hóa FET thông qua các yêu cầu về tính nhất quán, minh bạch, hợp lý và không phân biệt đối xử, qua đó góp phần hình thành những tiêu chí được viện dẫn phổ biến trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu tư.[12] Từ các cách tiếp cận trên có thể thấy, mặc dù FET vẫn là một tiêu chuẩn có nội hàm mở và chưa có định nghĩa thống nhất, thực tiễn trọng tài đã dần hình thành một số yếu tố cốt lõi của tiêu chuẩn này. Theo đó, FET nhìn chung được hiểu là nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư trong việc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài một cách công bằng, minh bạch, nhất quán, thiện chí, tuân thủ thủ tục pháp lý và không tùy tiện, đồng thời bảo vệ các kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư trong phạm vi các cam kết được thiết lập theo điều ước đầu tư. 2. Mối quan hệ của nguyên tắc FET với luật tập quán quốc tế 2.1. Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu theo luật tập quán quốc tế Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu (minimum standard of treatment) trong luật tập quán quốc tế là tổng hợp những tiêu chuẩn tối thiểu áp dụng với các nhà nước trong cách đối xử với nhà đầu tư nước ngoài.[13] Tiêu chuẩn này thường được liên hệ từ vụ Neer kiện Mexico. Trong vụ kiện trên, Ủy ban xét xử cho rằng một hành vi chỉ cấu thành vi phạm quốc tế khi đạt đến mức độ đặc biệt nghiêm trọng như ác ý, cố ý bỏ mặc nghĩa vụ hoặc sự thiếu sót rõ ràng so với chuẩn mực quốc tế.[14] Tập quán này, sau đó, đã được nỗ lực pháp điển hóa bởi Ủy ban Luật pháp Quốc tế (ILC) và các tổ chức luật quốc tế khác thành các quy định liên quan tới quy trình tố tụng công bằng (due process), từ chối công lý và ngược đãi thân thể.[15] Vụ Neer thường được viện dẫn bởi bị đơn trong các vụ kiện về đầu tư quốc tế, song phần lớn hội đồng trọng tài đã bác bỏ ngưỡng vi phạm cao được nêu trong đó và nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế là một khái niệm tiến hóa (tức là một khái niệm phát triển dần theo thực tiễn xét xử và sự thay đổi của luật pháp quốc tế).[16] Cụ thể, trọng tài trong vụ Merrill & Ring kiện Canada thừa nhận sự tiến hóa đó với nhận định rằng tiêu chuẩn tối thiểu hiện nay rộng hơn tiêu chuẩn được xác định trong Neer.[17] 2.2. Mối quan hệ của nguyên tắc FET và tiêu chuẩn đối xử tối thiểu 2.2.1. Nguyên tắc FET đồng nhất với tiêu chuẩn đối xử tối thiểu Luật đầu tư quốc tế tồn tại một cuộc tranh luận rằng liệu nguyên tắc FET có phải chỉ đơn thuần phản ánh tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong luật tập quán quốc tế, hay là một tiêu chuẩn độc lập vượt ra ngoài luật tập quán quốc tế.[18] Để xem xét mối quan hệ của nguyên tắc FET và luật tập quán quốc tế, điều cần phân tích đầu tiên là nội dung tại các điều khoản quy định về nguyên tắc FET trong các IIAs. Trong khi một số IIAs chỉ quy định về đối xử công bằng thỏa đáng và không viện dẫn thêm tập quán quốc tế, bao gồm các BIT của Đức, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ.[19] Số khác lại viện dẫn trực tiếp luật tập quán quốc tế về tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong điều khoản quy định về nguyên tắc FET, bao gồm NAFTA hay USMCA. Cụ thể, Điều 1105 của NAFTA với tiêu đề “Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu” quy định rằng “Mỗi Bên phải dành cho các khoản đầu tư của nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử phù hợp với luật quốc tế, bao gồm đối xử công bằng và thỏa đáng và bảo hộ đầy đủ và an ninh”.[20] Điều khoản này sau đó đã được Ủy ban Thương mại Tự do NAFTA (FTC) ban hành giải thích ràng buộc và chính thức, rằng khái niệm về “đối xử công bằng thỏa đáng” không yêu cầu sự đối xử bổ sung hoặc vượt ra ngoài mức độ mà tiêu chuẩn đối xử tối thiểu của luật tập quán quốc tế.[21] Tương tự, USMCA cũng quy định tại Điều 14.6(1) rằng “sự đối xử phù hợp với luật tập quán quốc tế, bao gồm đối xử công bằng và thỏa đáng và bảo hộ đầy đủ và an ninh” và giải thích thêm ở khoản 2 rằng khái niệm “đối xử công bằng thỏa đáng” không yêu cầu sự đối xử bổ sung hay vượt ra khỏi mức độ mà luật tập quán quốc tế yêu cầu.[22] Trong thực tiễn xét xử, sự khác biệt trong cách quy định của các điều ước đã dẫn đến hai hướng tiếp cận khác nhau. Đối với các điều ước có viện dẫn trực tiếp tới luật tập quán quốc tế, nhiều hội đồng trọng tài - đặc biệt trong các tranh chấp theo NAFTA - có xu hướng đồng nhất FET với tiêu chuẩn tối thiểu.[23] Tuy nhiên, ngay cả trong khuôn khổ này, các hội đồng vẫn thừa nhận tính chất động của luật tập quán quốc tế. Điển hình là vụ Mondev kiện Hoa Kỳ, dù phải áp dụng bản giải thích ràng buộc của FTC (giới hạn FET trong luật tập quán), hội đồng trọng tài đã nhấn mạnh rằng luật tập quán quốc tế không phải là một thực thể tĩnh hay bị “đóng băng” ở quá khứ.[24] Thay vào đó, nó là một tiêu chuẩn đang tiến hóa, được định hình bởi chính mạng lưới hàng nghìn BIT hiện nay.[25] Quan điểm tương tự cũng được nêu ra trong phán quyết trọng tài của vụ ADF kiện USA.[26] 2.2.2. Nguyên tắc FET như một nguyên tắc độc lập, vượt ra khỏi tập quán quốc tế a. Trường hợp ngôn ngữ trong IIAs không liên hệ tới luật quốc tế Đối với các trường hợp mà điều khoản FET trong các IIAs có viện dẫn tới luật quốc tế nói chung hoặc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong luật tập quán quốc tế nói riêng, tồn tại nhiều quan điểm cho rằng FET nên được diễn giải như một tiêu chuẩn độc lập.[27] Theo F.A.Mann, FET vượt xa yêu cầu đối xử của tiêu chuẩn đối xử tối thiểu và được coi là một tiêu chuẩn độc lập. Các học giả khác cũng quan điểm tương tự rằng sự thiếu vắng của liên kết cụ thể tới tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong IIAs sẽ dẫn tới việc FET được giải thích như một tiêu chuẩn độc lập. Quan điểm trên cũng được ủng hộ bởi các hội đồng trọng tài trong thực tiễn xét xử. Trong vụ Urbaser kiện Argentina, hội đồng trọng tài nhận định rằng không có đủ căn cứ để tuyên bố rằng FET vốn được duy trì theo luật tập quán quốc tế.[28] Tương tự, trong vụ CME kiện Séc, nhận định của hội đồng trọng tài là FET vượt ra khỏi các yêu cầu của luật tập quán quốc tế về đối xử thiệu chí.[29] Cuối cùng, theo phán quyết trọng tài trong vụ OKO Pankki Oyj kiện Estonia, điều khoản về FET không chứa dẫn chiếu đến luật quốc tế phải được gán cho một “ý nghĩa độc lập” và “không được đồng nhất với tiêu chuẩn đối xử tối thiểu thấp hơn theo luật tập quán quốc tế”.[30] b. Trường hợp ngôn ngữ trong IIAs liên hệ tới luật quốc tế Đối với trường hợp thứ hai, các hội đồng trọng tài, trong các tranh chấp mà IIA có dẫn chiếu tới luật quốc tế, cũng cho rằng FET nên được giải thích như một tiêu chuẩn độc lập và tiêu chuẩn đối xử tối thiểu chỉ nên được xem như một mức sàn của FET thay vì là mức trần. Điển hình, trong vụ Azurix kiện Argentina, hội đồng trọng tài đã phân tích Điều II(2)(a) trong BIT Hoa Kỳ - Argentina. Điều khoản này quy định rằng “trong mọi trường hợp không được dành sự đối xử thấp hơn mức yêu cầu của luật quốc tế”.[31] Trên cơ sở đó, hội đồng nhận định rằng quy định này chỉ thiết lập một mức sàn cho tiêu chuẩn FET, thay vì đặt ra một mức trần.[32] Hội đồng trọng tài trong vụ Vivendi kiện Argentina cũng đưa ra nhận định tương tự. Theo đó, khi phân tích Điều 3 BIT Argentina - Pháp với quy định “đối xử công bằng và thỏa đáng theo các nguyên tắc của luật quốc tế”, hội đồng trọng tài đã kết luận rằng không có căn cứ nào để đồng nhất tiêu chuẩn đối xử tối thiểu với FET, và coi đó chỉ là mức sàn của FET.[33] 3. Thực tiễn các yếu tố cấu thành nên vi phạm FET 3.1. Từ chối cho hưởng công lý (Denial of justice) với quy trình tố tụng công bằng (Due process) Nghĩa vụ không được từ chối cho hưởng công lý là một trong những nghĩa vụ chính của nguyên tắc FET. Nghĩa vụ này được quy định trong nhiều IIAs hiện nay. Điển hình, theo Điều 11(2)(a) Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) có quy định rằng FET yêu cầu mỗi Quốc gia thành viên phải “không được từ chối cho hưởng công lý trong bất kỳ tố tụng pháp lý hay hành chính nào phù hợp với thủ tục pháp luật (due process)”.[34] Quy định tương tự cũng được ghi nhận trong USMCA, với quy định tại Điều 14.6(2)(a) rằng FET bao gồm “bao gồm nghĩa vụ không từ chối cho hưởng công lý trong các thủ tục xét xử hình sự, dân sự hoặc hành chính phù hợp với nguyên tắc quy trình tố tụng công bằng (due process) được thể hiện trong các hệ thống pháp luật chính trên thế giới”.[35] Theo quan điểm truyền thống, từ chối cho hưởng công lý được xác định là tình trạng quản lý tư pháp sai trái nghiêm trọng của hệ thống tòa án nội địa, phát sinh từ sự vận hành thiếu hiệu quả của hệ thống tư pháp quốc gia sở tại.[36] Tồn tại một cách hiểu chung rằng chỉ những biểu hiện bất công rõ ràng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới cấu thành hành vi này; do đó, một sai sót đơn thuần hay việc giải thích hay áp dụng sai luật nội địa tự thân (per se) không được coi là hành vi từ chối cho hưởng công lý.[37] 3.2. Không tôn trọng kỳ vọng chính đáng (Legitimate Expectation) Trong thực tiễn xét xử, các hội đồng trọng tài đã nhiều lần đề cập tới kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư như là một yếu tố then chốt của FET.[38] Cụ thể, trong vụ Alpha kiện Ukraine, hội đồng trọng tài nhận định rằng nguyên tắc FET bao gồm cả nghĩa vụ không vi phạm kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư.[39] Hội đồng trọng tài trong vụ Saluka kiện Séc cũng có cùng quan điểm rằng tiêu chuẩn FET gắn liền với khái niệm kỳ vọng chính đáng, và là yếu tố chủ đạo của tiêu chuẩn này.[40] Kỳ vọng chính đáng là kỳ vọng xuất phát từ những cam kết mà nước nhận đầu tư dành cho nhà đầu tư nước ngoài.[41] Những kỳ vọng này có thể dựa trên khung pháp lý của quốc gia sở tại hay bất kỳ cam kết, tuyên bố nào được đưa ra một cách rõ ràng hoặc ngầm định bởi quốc gia sở tại, trong các nghị định, giấy phép, văn bản hành chính, cũng như hợp đồng.[42] Do vậy, nếu quốc gia sở tại tùy tiện hủy bỏ các cam kết cụ thể với nhà đầu tư bằng những biện pháp, chính sách hay pháp luật, thì quốc gia đó đã phá vỡ kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư và vi phạm nghĩa vụ FET. Dẫu vậy, kỳ vọng chính đáng không yêu cầu nhà nước nhận đầu tư tạo ra một môi trường ổn định tuyệt đối hay ngăn cản sự thay đổi về pháp luật của quốc gia sở tại. Điều này đã được hội đồng trọng tài trong vụ EDF kiện Romania nhấn mạnh trong phán quyết của mình.[43] Theo đó, hội đồng trọng tài nhận định rằng kỳ vọng của nhà đầu tư vào một môi trường pháp lý và kinh doanh đóng băng là không phù hợp và không chính đáng. Hiện nay, có thể quan sát rõ xu hướng thu hẹp và tái cấu trúc vai trò của kỳ vọng chính đáng trong các hiệp định đầu tư thế hệ mới.[44] Theo đó, các hiệp định đầu tư thế hệ mới như Hiệp định Thương mại và Kinh tế Toàn diện Canada - EU (CETA), Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU - Singapore (EUSIPA), hay Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU - Việt Nam (EVIPA) đã đưa ra những danh sách đóng về những hành vi vi phạm nghĩa vụ FET trong đó “kỳ vọng chính đáng” chỉ có thể được xem xét như một yếu tố bổ trợ trong việc đánh giá các hành vi đã được liệt kê, chẳng hạn như vi phạm nghĩa vụ minh bạch, thủ tục tố tụng công bằng hoặc hành vi đối xử tùy tiện. Cụ thể, Điều 8.10(4) CETA đã nhấn mạnh tính bổ trợ của kỳ vọng chính đáng, với quy định rằng, khi xem xét nghĩa vụ FET trong quy định đã nêu, hội đồng trọng tài có thể cân nhắc tới yếu tố kỳ vọng chính đáng.[45] Điều tương tự cũng được ghi nhận trong Điều 2.4(3) của EUSIPA.[46] 3.3. Đối xử tùy tiện (Arbitrary treatment) Trong khuôn khổ luật đầu tư quốc tế, đối xử tùy tiện được xem là một trong những biểu hiện điển hình vi phạm tiêu chuẩn FET. Các hội đồng trọng tài đã thừa nhận một cách hợp lý rằng tiêu chuẩn FET không cho phép hành vi tùy tiện trong quan hệ giữa quốc gia tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư.[47] Trên thực tế, một số IIAs bao gồm cả quy định chung về FET và quy định cụ thể về cấm các biện pháp đối xử tùy tiện.[48] Điều này có thể dẫn đến sự trùng lặp khi giải thích các IIAs, dẫu vậy FET được cho là tạo ra sự bảo hộ rộng hơn khi không yêu cầu phải có tổn hại mới cấu thành vi phạm.[49] Trong vụ LG&E kiện Argentina, hội đồng đã kết luận rằng các biện pháp của Argentina tuy không vi phạm điều khoản về đối xử tùy tiện, song lại vi phạm yêu cầu về đối xử công bằng và thỏa đáng.[50] 3.4. Ý đồ xấu (Bad faith) Nguyên tắc thiện chí (good faith) được nhắc tới như một tiêu chuẩn trung tâm của nghĩa vụ đối xử công bằng và thỏa đáng, đồng thời đóng vai trò như một kim chỉ nam trong các vụ kiện về FET.[51] Theo đó, những hành vi có ý đồ xấu (bad faith) được cho là đi ngược lại với cam kết về FET.[52] Trong vụ Frontier kiện Séc, hội đồng trọng tài đã đưa ra những phân tích cụ thể về hành vi ý đồ xấu của nước nhận đầu tư. Theo đó, hành vi có ý đồ xấu của quốc gia tiếp nhận đầu tư bao gồm: lạm dụng công cụ pháp lý sai mục đích; thông đồng giữa các cơ quan nhà nước để gây thiệt hại cho khoản đầu tư; chấm dứt hoặc trục xuất đầu tư vì lý do không chính đáng hoặc mang tính thiên vị; và viện dẫn cơ cấu nội bộ để né tránh nghĩa vụ.[53] 3.5. Ép buộc, đe dọa nhà đầu tư Ép buộc và đe dọa là những dạng hành vi không phù hợp trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nước nhận đầu tư, những hành vi này được coi là dẫn tới vi phạm nghĩa vụ FET của quốc gia.[54] Các quốc gia đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để đối xử bất lợi một cách đặc thù, thường được ngụy trang dưới vỏ bọc của các cuộc điều tra hợp pháp, những lựa chọn không thể chấp nhận được, hoặc hành vi mang tính ép buộc.[55] Trong thực tiễn xét xử, các vụ việc về các biện pháp ép buộc hoặc đe dọa nhà đầu tư cũng đã được ghi nhận. Cụ thể, trong vụ Saluka kiện Séc, hội đồng trọng tài khẳng định rằng FET đòi hỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư phải bảo đảm nhà đầu tư không bị cưỡng ép hay quấy rối bởi chính các cơ quan quản lý của mình.[56] 4. Mối quan hệ của FET với các nguyên tắc khác trong luật đầu tư quốc tế FET được các hội đồng trọng tài và học giả cho rằng là một nguyên tắc mang định nghĩa riêng và có thể được áp dụng độc lập với những nguyên tắc khác.[57] Mặc dù FET hay đi kèm với nhiều những nguyên tắc khác như Bảo vệ và an ninh đầy đủ (FPS), Đối xử quốc gia (NT) và Tối huệ quốc (MFN), nhiều hội đồng trọng tài coi FET và những nguyên tắc này là độc lập và những hành vi vi phạm tới các nguyên tắc ấy cũng được xem xét độc lập.[58] 4.1. Nguyên tắc FET và Bảo vệ an ninh đầy đủ (FPS - Full Protection and Security) Một tắc thường xuyên đi kèm với FET chính là nguyên tắc Bảo vệ và an ninh đầy đủ.[59] Một số hội đồng trọng tài cho rằng FPS đã được bao trùm bởi nguyên tắc FET[60] và một số khác thì cho rằng hai nguyên tắc này có sự khác biệt và cần phải được suy xét độc lập[61]. FPS cũng là nguyên tắc bao gồm những nghĩa vụ của quốc gia phải có hành động (đối xử) bảo vệ với những nhà đầu tư nước ngoài, giống với FET. Tuy nhiên nội hàm của những nguyên tắc này có một số những khác biệt, chẳng hạn như tòa xét xử trong vụ án Frontier Petroleum kiện Séc nhận xét:[62] “Nguyên tắc FPS yêu cầu hệ thống pháp luật của các quốc gia phải có các biện pháp bảo vệ khoản đầu tư của người nước ngoài khỏi các hành động tiêu cực đến từ các chủ thể tư nhân cũng như các cơ quan nhà nước, trong khi đó nguyên tắc FET chỉ chủ yếu yêu cầu các quốc gia không thực hiện những hành vi được coi là không công bằng và bình đẳng.” Hơn nữa, vi phạm đối với nguyên tắc FPS có thể đến từ hành động hoặc sự không hành động của các quốc gia,[63] bao gồm cả bảo vệ vật lý, thương mại và pháp lý với các khoản đầu tư nước ngoài. Từ đó có một số hội đồng trọng tài đưa ra sự phân biệt giữa FPS và FET chỉ ra việc nghĩa vụ “bảo vệ và an ninh” (protection and security) không nằm trong những xem xét về sự “công bằng và thỏa đáng” (fair and equitable) trong cách đối xử” () của các quốc gia đối với các nhà đầu tư quốc tế.[64] Một số hội đồng trọng tài đặc biệt nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai nguyên tắc này nhằm áp dụng FPS với những trường hợp tài sản và khoản đầu tư nước ngoài không được bảo vệ khỏi bạo loạn dân sự.[65] 4.2. Nguyên tắc FET và Đối xử quốc gia (NT - National Treatment), Tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation) Nguyên tắc FET thường được định nghĩa là một nguyên tắc có tiêu chuẩn riêng với cơ sở tham chiếu có thể xác định được trong luật quốc tế.[66] Vì thế, khác với nguyên tắc Đối xử quốc gia khi và nguyên tắc Tối huệ quốc, FET là một tiêu chí không dựa vào các yếu tố này mà vi phạm được xác định dựa trên duy nhất là các tiêu chí về công bằng và thỏa đáng.[67] Do vậy, hành vi đối xử của quốc gia với nhà đầu tư có thể vi phạm FET kể cả khi nó không vi phạm NT hay MFN, khi sự đối xử thiếu công bằng này được áp dụng bình đẳng với cả các nhà đầu tư từ tất cả các quốc gia khác và từ nội địa.[68] Các nguyên tắc này có nhiều điểm chồng chéo, thường sự thiên vị một quốc gia hay các nhà đầu tư trong nước có thể được coi là không công bằng và thỏa đáng, trên thực tế, những tiêu chuẩn này trong xét xử đang dựa vào những cột mốc khác nhau để xác định vi phạm. Các hội đồng trọng tài cũng nhấn mạnh sự khác biệt trong những nguyên tắc này và cũng áp dụng chúng là những nguyên tắc độc lập trong xét xử.[69] DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Markus Burgstaller, 'Fair and Equitable Treatment in International Investment Law' (Practical Law, 2026) https://uk.practicallaw.thomsonreuters.com/5-385-7129?transitionType=Default&contextData=(sc.Default)&firstPage=true. [2] Havana Charter for an International Trade Organization (United Nations Conference on Trade and Employment, 24 March 1948) UN Doc E/CONF.2/78, art 29. [3] Draft Convention on Investments Abroad (1959) art 1. [4] OECD Draft Convention on the Protection of Foreign Property (1967) (1968) 7 ILM 117, 119. [5] Rudolf Dolzer, Ursula Kriebaum and Christoph Schreuer, Principles of International Investment Law (3rd edn, OUP 2022). [6] North American Free Trade Agreement (signed 17 December 1992, entered into force 1 January 1994) (1993) 32 ILM 289 ('NAFTA') arts 1105, 1714. [7] Energy Charter Treaty (opened for signature 17 December 1994, entered into force 16 April 1998) 2080 UNTS 95 ('ECT') art 10. [8] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (UNCTAD Series on Issues in International Investment Agreements II, UN 2012) 6. [9] Técnicas Medioambientales Tecmed SA v United Mexican States (Award) ICSID Case No ARB(AF)/00/2 (29 May 2003) [154]. [10] MTD Equity Sdn Bhd and MTD Chile SA v Republic of Chile (Award) ICSID Case No ARB/01/7 (25 May 2004) [113]. [11] MTD Equity Sdn Bhd and MTD Chile SA v Republic of Chile (Decision on Annulment) ICSID Case No ARB/01/7 (21 March 2007) [67]. [12] Saluka Investments BV v Czech Republic (Partial Award) UNCITRAL (17 March 2006) [309]. [13] Borja Alvarez Sanz, 'Minimum Standard of Treatment (MST)' (Jus Mundi, 2022) https://jusmundi.com/en/document/publication/en-minimum-standard-of-treatment-mst. [14] LFA Neer and Pauline Neer (USA) v United Mexican States (Opinion) United States–Mexico General Claims Commission (15 October 1926) 4 RIAA 60. [15] August Reinisch and Christoph Schreuer, International Protection of Investments: The Substantive Standards (CUP 2020) 308. [16] Rudolf Dolzer, Ursula Kriebaum and Christoph Schreuer, Principles of International Investment Law (3rd edn, OUP 2022) 204. [17] Merrill & Ring Forestry LP v Government of Canada (Award) ICSID Case No UNCT/07/1 (31 March 2010) [213]. [18] Stephan W Schill, The Multilateralization of International Investment Law (CUP 2009) 152. [19] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16) 200. [20] NAFTA (n 6) art 1105. [21] NAFTA Free Trade Commission, Notes of Interpretation of Certain Chapter 11 Provisions (31 July 2001). [22] Agreement between the United States of America, the United Mexican States, and Canada (signed 30 November 2018, entered into force 1 July 2020) ('USMCA') art 14.6. [23] Katia Yannaca-Small (ed), Arbitration under International Investment Agreements: A Guide to the Key Issues (OUP 2010) 389. [24] Mondev International Ltd v United States of America (Award) ICSID Case No ARB(AF)/99/2 (11 October 2002) [125]. [25] Mondev (n 24) [125]. [26] ADF Group Inc v United States of America (Award) ICSID Case No ARB(AF)/00/1 (9 January 2003) [121]. [27] Reinisch and Schreuer (n 15) 325. [28] Urbaser SA and Consorcio de Aguas del Bilbao Bizkaia, Bilbao Biskaia Ur Kontsortzioa v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/07/26 (8 December 2016) [604]. [29] CME Czech Republic BV v Czech Republic (Partial Award) UNCITRAL (13 September 2001) [156]. [30] OKO Pankki Oyj v Republic of Estonia (Award) ICSID Case No ARB/04/6 (19 November 2007) [236]. [31] Treaty between the United States of America and the Argentine Republic concerning the Reciprocal Encouragement and Protection of Investment (signed 14 November 1991, entered into force 20 October 1994) ('US–Argentina BIT') art II. [32] Azurix Corp v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/01/12 (14 July 2006) [361]. [33] Compañía de Aguas del Aconquija SA and Vivendi Universal SA v Argentine Republic (Resubmitted Case: Award) ICSID Case No ARB/97/3 (20 August 2007) [7.4.7]. [34] ASEAN Comprehensive Investment Agreement (signed 26 February 2009, entered into force 29 March 2012) ('ACIA') art 11. [35] USMCA (n 22) art 14.6. [36] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (UNCTAD Series on Issues in International Investment Agreements II, UN 2012) 80. [37] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (n 36) 80. [38] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (n 36) 63. [39] Alpha Projektholding GmbH v Ukraine (Award) ICSID Case No ARB/07/16 (8 November 2010) [402]. [40] Saluka Investments BV v Czech Republic (Partial Award) UNCITRAL (17 March 2006) [302]. [41] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16) 208. [42] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16) 208. [43] EDF (Services) Limited v Romania (Award) ICSID Case No ARB/05/13 (8 October 2009) [217]. [44] OECD Secretariat, 'Fair and Equitable Treatment Provisions in Investment Treaties: A Large-Sample Survey of Treaty Provisions' (OECD Secretariat Research Note, 12 April 2023) 19. [45] Comprehensive Economic and Trade Agreement between Canada and the European Union (signed 30 October 2016, provisionally entered into force 21 September 2017) ('CETA') art 8.10. [46] EU-Singapore Investment Protection Agreement (signed 19 October 2018) ('EUSIPA') art 2.4(3). [47] Rudolf Dolzer, 'Fair and Equitable Treatment: Today's Contours' (2014) 12 Santa Clara J Int'l L 7, 31. [48] Treaty between the Government of the United States of America and the Government of Romania concerning the Reciprocal Encouragement and Protection of Investment (signed 28 May 1992, entered into force 15 January 1994) ('US–Romania BIT') art II. [49] Trần Anh Tuấn và Trịnh Hải Yến, Pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong thời kỳ đổi mới (NXB Chính trị quốc gia Sự thật 2019) 146. [50] LG&E Energy Corp, LG&E Capital Corp, and LG&E International, Inc v Argentine Republic (Decision on Liability) ICSID Case No ARB/02/1 (3 October 2006) [162]. [51] Sempra Energy International v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/02/16 (28 September 2007) [299]. [52] Trần Anh Tuấn và Trịnh Hải Yến (n 49) 146. [53] Frontier Petroleum Services Ltd v Czech Republic (Final Award) UNCITRAL (12 November 2010) [300]. [54] Trần Anh Tuấn và Trịnh Hải Yến (n 49) 147. [55] Dolzer, 'Fair and Equitable Treatment: Today's Contours' (n 47) 31. [56] Saluka (n 40) [308]. [57] Rudolf Dolzer and Margrete Stevens, Bilateral Investment Treaties (Nijhoff 1995) 60; Peter T Muchlinski, Multinational Enterprises and the Law (Blackwell 1999) 626; UNCTAD, Fair and Equitable Treatment (UNCTAD Series on Issues in International Investment Agreements, UN 1999) 13, 17, 37–40, 53, 61; Stephen Vasciannie, 'The Fair and Equitable Treatment Standard in International Investment Law and Practice' (1999) 70 BYIL 99, 104–05, 139; Ioana Tudor, The Fair and Equitable Treatment Standard in the International Law of Foreign Investment (OUP 2008) 54; FA Mann, 'British Treaties for the Promotion and Protection of Investments' (1981) 52 BYIL 241. [58] Nations Energy Inc, Electricidad de Chiriquí 2 SA and Hydrox SA v Republic of Panama (Award) ICSID Case No ARB/06/19 (24 November 2010) [682] ff; Tidewater Inc and others v Bolivarian Republic of Venezuela (Decision on Jurisdiction) ICSID Case No ARB/10/5 (23 December 2012). [59] Agreement between the Government of the People's Republic of China and the Swiss Federal Council on the Promotion and Reciprocal Protection of Investments (signed 27 January 2009, entered into force 13 April 2010) ('China–Switzerland BIT') art 4. [60] Occidental Exploration and Production Co v Republic of Ecuador (Final Award) LCIA Case No UN3467 (1 July 2004) [187]; Azurix (n 32). [61] El Paso Energy International Co v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/03/15 (31 October 2011) [228]–[231]; Jan Oostergetel and Theodora Laurentius v Slovak Republic (Final Award) UNCITRAL (23 April 2012). [62] Frontier Petroleum (n 53). [63] Arne Fuchs and Maximilian Pika, 'Full Protection and Security (FPS)' (Jus Mundi, 2020) https://jusmundi.com/en/document/publication/en-full-protection-and-security-fps accessed 26 March 2026. [64] Saluka (n 40). [65] OECD, 'Fair and Equitable Treatment Standard in International Investment Law' (2004) OECD Working Papers on International Investment 2004/03 https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2004/09/fair-and-equitable-treatment-standard-in-international-investment-law_g17a166b/675702255435.pdf accessed 26 March 2026. [66] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16). [67] Garanti Koza MJA v Turkmenistan (Award) ICSID Case No ARB/11/20 (19 December 2016) [380]; CME (n 29) [611]; ADF (n 26) [178]. [68] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16). [69] Azurix (n 32) [408].

  • [86] NGHĨA VỤ KHÔNG GÂY TỔN HẠI BẰNG BIỆN PHÁP TÙY TIỆN HOẶC/VÀ PHÂN BIỆT

    Tác giả: Đỗ Kim Ngân, Lê Thuỳ Dung Mở đầu Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hệ thống bảo hộ đầu tư quốc tế đã phát triển mạnh mẽ thông qua các hiệp định đầu tư song phương (BITs) và hiệp định thương mại tự do (FTAs), nhằm tạo dựng môi trường đầu tư ổn định và có thể dự đoán. Sự gia tăng dòng vốn đầu tư xuyên biên giới kéo theo yêu cầu cấp thiết về việc cân bằng giữa quyền điều chỉnh của quốc gia tiếp nhận đầu tư và quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài. Trong tiến trình này, nghĩa vụ không gây tổn hại bằng các biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử dần trở thành một tiêu chuẩn pháp lý quan trọng. Nghĩa vụ này thường được quy định trong các điều khoản bảo hộ đầu tư, nhằm hạn chế việc quốc gia áp dụng các biện pháp thiếu hợp lý hoặc mang tính thiên vị đối với nhà đầu tư. Bài viết dưới đây trung làm rõ cơ sở pháp lý, nội dung và vai trò của nghĩa vụ này trong luật đầu tư quốc tế hiện đại. Từ khóa: Luật Đầu tư Quốc tế, Tiêu chuẩn đối xử công bằng và thỏa đáng, Tối huệ quốc, Đối xử quốc gia, Bảo hộ đầu tư 1. Khái quát về nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt là một nghĩa vụ quan trọng trong hệ thống quy phạm của luật đầu tư quốc tế (LĐTQT). Nghĩa vụ này yêu cầu các bên ký kết không được bằng các biện pháp “tùy tiện, vô lý và/hoặc phân biệt” (unreasonable or discriminatory measures) gây tổn hại đến hoạt động, quản lý, duy trì, sử dụng, thu lợi, mua, mở rộng hoặc một hình thức chuyển nhượng đầu tư.[1] Nghĩa vụ này ra đời sau Thế chiến II trong bối cảnh rủi ro chính trị đe dọa đến các nhà đầu tư nước ngoài khiến cho họ cần đảm bảo rằng vốn đầu tư của mình không bị phân biệt đối xử so với các nhà đầu tư nội địa hay nhà đầu tư đến từ quốc gia khác.[2] 2. Nguồn của nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt 2.1. Khái quát về các nguồn của nghĩa vụ LĐTQT vẫn là một nhánh của luật quốc tế, do vậy, các nguồn của LĐTQT vẫn thường được tìm thấy trong các nguồn của luật quốc tế nói chung theo Quy chế của Tòa án Công lý Quốc tế, Điều 38(1) bao gồm: điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, các phán quyết của tòa án. Dựa trên chủ thể tham gia, các hợp đồng đầu tư hoặc thỏa thuận đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư cũng giữ vai trò quan trọng trong luật đầu tư quốc tế. Mặc dù không được coi là nguồn chính thức của luật đầu tư quốc tế theo nghĩa hình thức, các văn bản này là căn cứ trực tiếp xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đầu tư, đồng thời thường được hội đồng trọng tài viện dẫn như một bộ phận của luật áp dụng để giải quyết tranh chấp đầu tư. Tuy nhiên, quy định về nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt lại thường được tìm thấy trong phạm vi các Hiệp định đầu tư hay tập quán quốc tế mà không rộng rãi như các nguyên tắc khác của LĐTQT. 2.2. Điều ước quốc tế về đầu tư nước ngoài Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt có thể được tìm thấy trong các hiệp định đầu tư quốc tế (International Investment Agreement, gọi tắt là IIA). Trong Hiệp định Năng lượng 1994 (Energy Charter Treaty, ECT) - một hiệp định đầu tư quốc tế đa phương, Điều 10(1) quy định “Các khoản đầu tư đó cũng được hưởng sự bảo hộ và an ninh thường xuyên nhất, và không Bên ký kết nào được bằng bất kỳ cách nào làm suy giảm việc quản lý, bảo trì, sử dụng, hưởng thụ hoặc định đoạt các khoản đầu tư đó bởi các biện pháp vô lý hoặc phân biệt đối xử.”[3] Không chỉ được quy định trong các hiệp định đầu tư đa phương, nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt cũng xuất hiện trong các hiệp định chứa điều khoản đầu tư quốc tế (TIPs), các hiệp định thương mại tự do (foreign free-trade agreement - FTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPAs). Trong FTA giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, Điều 12.7(2) quy định “Không Bên nào được, trong lãnh thổ của mình, áp đặt các biện pháp vô lý hoặc phân biệt đối xử đối với khoản đầu tư được bảo hộ của nhà đầu tư của Bên kia liên quan đến các yêu cầu về hiệu suất xuất khẩu hoặc chuyển giao công nghệ.” 2.3. Tập quán quốc tế về đầu tư nước ngoài Trong các nguồn của LĐTQT, tập quán quốc tế thường không được áp dụng nhiều trong thực tiễn xét xử do có ít quy tắc về đầu tư quốc tế cũng như có nhiều nội dung gây tranh cãi, chưa được thừa nhận rộng rãi. Một trong những tập quán nổi bật của luật đầu tư quốc tế và cũng chứa đựng nghĩa vụ cấm gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt là tiêu chuẩn đối xử tối thiểu (international minimum standard of treatment - MST)[4]. MST là tiêu chuẩn đối xử tối thiểu mà mọi quốc gia phải dành cho nhà đầu tư nước ngoài và tài sản của họ. Trong vụ Waste Management kiện Mexico, Tòa trọng tài đã khẳng định “Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu [...] bị vi phạm bởi các hành vi có thể quy trách nhiệm cho Nhà nước [...] nếu các hành vi đó tùy tiện, cực kỳ bất công, bất công hoặc lập dị, phân biệt đối xử và khiến người khiếu nại phải chịu thành kiến cục bộ hoặc phân biệt chủng tộc, hoặc liên quan đến việc thiếu quy trình tố tụng dẫn đến kết quả xúc phạm đến tính chính đáng tư pháp.”[5] Như vậy, các biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt đối với nhà đầu tư được coi là cấu thành vi phạm tiêu chuẩn tối thiểu, hay nói cách khác, chính tập quán về MST đã gián tiếp đặt ra nghĩa vụ không gây hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt. 3. Nội hàm của nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng các biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt đối xử là một tiêu chuẩn quan trọng trong luật đầu tư quốc tế, thường được ghi nhận trong các hiệp định bảo hộ đầu tư (BITs) như Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư Song phương Argentina - Hoa Kỳ (1991) tại Điều II(2)(b) và được phát triển thông qua thực tiễn xét xử của các hội đồng trọng tài. Nội hàm của nghĩa vụ này được hình thành qua hai trụ cột chính: (i) cấm các biện pháp tùy tiện (arbitrary measures)[6] và (ii) cấm các biện pháp phân biệt đối xử (discriminatory measures)[7]. 3.1. Biện pháp tùy tiện (arbitrary or unreasonable measures) Khái niệm “tùy tiện” không được định nghĩa một cách thống nhất trong các hiệp định đầu tư mà chủ yếu được làm rõ qua thực tiễn án lệ.[8] Định nghĩa có ảnh hưởng nhất xuất phát từ Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trong vụ Elettronica Sicula S.p.A (ELSI), theo đó tính tùy tiện là “sự coi thường có chủ ý đối với thủ tục pháp lý công bằng, một hành vi gây sốc, hoặc ít nhất gây ngạc nhiên, đối với cảm nhận về sự đúng đắn trong tư pháp”.[9] Điều này có nghĩa là, tiêu chuẩn ELSI khẳng định hành vi tùy tiện không chỉ đơn thuần là sự vi phạm pháp luật nội địa hay sai sót hành chính thông thường. Yếu tố này thể hiện qua sự xâm phạm nghiêm trọng đến thủ tục pháp lý công bằng, như việc tước bỏ quyền được giải trình hay phớt lờ quy trình tối thiểu của nhà đầu tư. Nhiều hội đồng trọng tài đầu tư sau này đã kế thừa định nghĩa này khi giải thích tính tùy tiện trong khuôn khổ các BIT.[10] Trên cơ sở đó, các hội đồng trọng tài dần phát triển một cách tiếp gắn với nguyên tắc thủ tục hợp lý (due process). Theo nguyên tắc này, một biện pháp bị coi là tùy tiện nếu nó thiếu cơ sở hợp lý, được đưa ra vì những lý do khác với lý do mà cơ quan ra quyết định viện dẫn hoặc thể hiện sự coi thường có chủ ý đối với thủ tục và trình tự đúng đắn.[11] Trong vụ Saluka Investments BV v. Cộng hòa Czech, khi xem xét khiếu nại về phân biệt đối xử liên quan đến việc hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng, hội đồng trọng tài đã áp dụng tiêu chí: để không bị coi là tùy tiện hoặc phân biệt đối xử thì nhà nước phải đưa ra sự giải thích hợp lý cho việc đối xử khác biệt. Hội đồng đã kết luận rằng không có lý do nào trong số các lý do mà chính quyền Czech đưa ra cấu thành một sự biện minh hợp lý cho việc hỗ trợ nhà nước không đồng đều.[12] Trong vụ LG&E Energy Corp. và các bên khác v. Argentina, hội đồng trọng tài cũng xem xét riêng biệt hai yếu tố “tùy tiện” và “phân biệt đối xử” theo Điều II(2)(b) của BIT Hoa Kỳ - Argentina. Kết luận cuối cùng của hội đồng là các biện pháp của Argentina tuy không cấu thành hành vi tùy tiện nhưng có tính chất phân biệt đối xử và do đó vẫn vi phạm hiệp định.[13] 3.2. Biện pháp phân biệt đối xử (discriminatory measures) Bên cạnh việc cấm các biện pháp tùy tiện, nhiều hiệp định đầu tư song phương còn quy định riêng việc cấm các biện pháp mang tính phân biệt đối xử như Điều 3(1) Hiệp định đầu tư Argentina - Hà Lan quy định mỗi bên ký kết “sẽ bảo đảm đối xử công bằng và thỏa đáng đối với các khoản đầu tư [....] và sẽ không gây tổn hại bằng các biện pháp bất hợp lý hoặc phân biệt đối xử đến việc vận hành, quản lý, duy trì, sử dụng, hưởng lợi hoặc định đoạt các khoản đầu tư đó.”[14] Một biện pháp mang tính phân biệt đối xử là biện pháp phân biệt đối xử với nhà đầu tư hoặc gây bất lợi cho nhà đầu tư đó mà không có lý do chính đáng, thường nhưng không nhất thiết trên cơ sở quốc tịch.[15] Điều này có nghĩa là biện pháp bị coi là phân biệt đối xử khi nó khiến nhà đầu tư chịu thiệt thòi hoặc đối mặt với quy định khắt khe hơn những người khác mà nhà nước không đưa ra được lý do chính đáng như vì môi trường hay sức khỏe cộng đồng. Trong vụ Occidental Exploration and Production Co. v. Cộng hòa Ecuador (I), hội đồng trọng tài đã áp dụng tiêu chí: để không bị coi là phân biệt đối xử thì nhà nước phải đưa ra sự biện minh hợp lý cho việc đối xử khác biệt giữa các nhà xuất khẩu. Sau khi áp dụng tiêu chí này, hội đồng kết luận không có lý do nào trong số các lý do mà cơ quan thuế Ecuador (SRI) đưa ra cấu thành biện minh hợp lý cho việc từ chối hoàn thuế VAT cho Occidental trong khi vẫn tiếp tục hoàn thuế cho các nhà xuất khẩu khác.[16] Về nguyên tắc, việc xác định một biện pháp có mang tính phân biệt đối xử hay không đòi hỏi phải xác định được một đối tượng so sánh phù hợp và đánh giá xem chủ thể bị khiếu nại có bị đối xử khác biệt so với đối tượng đó trong hoàn cảnh tương tự hay không.[17] Tuy nhiên, nếu nguyên tắc đối xử quốc gia (national treatment) và nguyên tắc tối huệ quốc (most favoured nation) vốn giới hạn phép so sánh ở tiêu chí quốc tịch thì phạm vi so sánh trong điều khoản không gây tổn hại có thể rộng hơn và không nhất thiết đòi hỏi so sánh giữa nhà đầu tư nước ngoài và trong nước hay giữa các nhà đầu tư mang các quốc tịch khác nhau.[18] Đồng thời, phạm vi của yếu tố phân biệt đối xử bao trùm cả phân biệt đối xử trên văn bản (de jure) và phân biệt đối xử trên thực tế (de facto).[19] Phân biệt đối xử trên văn bản là trường hợp một quy định trực tiếp phân biệt dựa trên quốc tịch hay nguồn gốc. Phân biệt đối xử trên thực tế là trường hợp một biện pháp trung lập về hình thức nhưng khi áp dụng trên thực tế lại gây hệ quả bất lợi hơn cho nhà đầu tư hoặc hàng hóa nước ngoài. Vụ Corn Products International kiện Mexico là một ví dụ minh họa cho dạng phân biệt đối xử trên thực tế. Trong vụ này, Mexico áp một loại thuế lên đồ uống có sử dụng si-rô ngô hàm lượng fructose cao (HFCS). Về hình thức, loại thuế này trung lập và không nêu đích danh yếu tố quốc tịch. Tuy nhiên, hội đồng trọng tài kết luận rằng loại thuế này trên thực tế đã gây hệ quả bất lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài vốn là những chủ thể chủ yếu sử dụng HFCS so với nhà đầu tư trong nước sử dụng đường mía.[20] Về vấn đề “ý định phân biệt đối xử” (intent to discriminate) và “hệ quả phân biệt đối xử” (discriminatory effect), đây vẫn là một điểm còn có nhiều quan điểm khác nhau trong thực tiễn trọng tài. Theo tổng hợp của Aceris Law, thực tiễn án lệ cho thấy chứng minh ý định phân biệt đối xử không phải là điều kiện bắt buộc để xác lập vi phạm tiêu chuẩn đối xử quốc gia.[21] Trong vụ S.D. Myers, Inc. v. Canada (NAFTA/UNCITRAL), hội đồng trọng tài nhận định rằng: “ dù ý định là quan trọng nhưng ý định bảo hộ (protection intent) không nhất thiết mang tính quyết định khi đứng riêng lẻ”.[22] Điều này có nghĩa là để kết luận nhà nước vi phạm tiêu chuẩn đối xử quốc gia, trọng tài nhìn vào hậu quả thực tế mà biện pháp gây ra chứ không bắt buộc phải truy tìm ý định ban đầu của chính quyền. Cụ thể hơn, ngay cả khi nhà nước hoàn toàn không có ý định gây khó dễ nhà đầu tư nước ngoài nhưng chính sách đưa ra lại thực sự gây thiệt hại và bất bình đẳng cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài so với các doanh nghiệp nội địa thì vẫn bị coi là vi phạm. Do đó, trọng tâm của việc đánh giá không nằm ở động cơ của nhà nước, mà ở việc liệu các chủ thể trong hoàn cảnh tương tự có bị đối xử khác biệt một cách không hợp lý hay không. 3.3. Phạm vi hành vi của nhà nước bị kiểm soát Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử có phạm vi áp dụng rộng vì thuật ngữ “biện pháp” (measure) bao gồm tất cả các hành vi, thủ tục, quy định của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.[23] Trước hết, các quy định pháp luật (legislative measures) có thể bị xem xét nếu chúng tạo ra sự phân biệt hoặc thiếu hợp lý trong việc điều chỉnh hoạt động đầu tư. Mặc dù quyền lập pháp là một biểu hiện của chủ quyền quốc gia, song việc thực thi chủ quyền này không được dẫn đến sự vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế về đầu tư.[24] Tiếp theo, các quyết định và hành vi mang tính hành chính (administrative measures) - bao gồm quyết định của cơ quan hành pháp, việc cấp hoặc thu hồi giấy phép hay hành vi của cơ quan quản lý chuyên ngành - thường là đối tượng bị khiếu kiện trong thực tiễn trọng tài đầu tư. Ví dụ, trong vụ Genin v. Estonia, khiếu nại xuất phát từ việc Ngân hàng Trung ương Estonia thu hồi giấy phép hoạt động của ngân hàng của nhà đầu tư.[25] Ngoài ra, các biện pháp thuế (tax measures) cũng có thể bị xem xét, đặc biệt khi chúng được sử dụng như một công cụ nhằm phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi không hợp lý cho nhà đầu tư nước ngoài, dù lĩnh vực này thường có mức độ bảo lưu nhất định trong các hiệp định.[26] Như vậy, nghĩa vụ này không chỉ giới hạn ở một loại hành vi cụ thể mà áp dụng rộng rãi đối với toàn bộ hoạt động thực thi quyền lực công của nhà nước. 3.4. Mức độ kiểm tra của hội đồng trọng tài Trong quá trình áp dụng nghĩa vụ này, mức độ rà soát mà hội đồng trọng tài áp dụng đối với biện pháp của nhà nước được gọi là “tiêu chuẩn rà soát” (standard of review) vẫn là một vấn đề chưa được giải quyết thống nhất và gây ra nhiều tranh luận trong học thuật cũng như trong thực tiễn trọng tài.[27] Về cơ bản, tiêu chuẩn rà soát được hiểu là mức độ chặt chẽ mà một hội đồng trọng tài quốc tế áp dụng khi xem xét lại các phán đoán về sự kiện hay pháp lý mà quốc gia tại sở tại đã đưa ra trước đó.[28] Một xu hướng trong thực tiễn trọng tài là áp dụng sự tôn trọng nhất định (deference) đối với các quyết định điều tiết mang tính phức tạp của nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật hoặc liên quan đến chính sách công.[29] Ví dụ, trong vụ Glamis Gold Ltd. v. Hoa Kỳ (NAFTA/ UNCITRAL), hội đồng trọng tài chấp nhận lập luận rằng không phải nhiệm vụ của mình là tự mình trở thành nhà khảo cổ học hay dân tộc học để đưa ra phán đoán riêng về một quy trình rà soát văn hóa mà chỉ cần xác định liệu quy trình đó có thể hiện “sự từ chối công lý nghiêm trọng, tính tùy tiện rõ ràng, sự bất công lộ liễu, sự thiếu hoàn toàn thủ tục đúng đắn, sự phân biệt đối xử rõ ràng hoặc sự thiếu vắng lý do một cách rõ ràng” hay không.[30] Ngược lại, trong vụ Philip Morris v. Uruguay liên quan đến các biện pháp kiểm soát thuốc lá vì mục tiêu y tế cộng đồng, đa số hội đồng trọng tài đồng ý rằng khái niệm “biên độ đánh giá” (margin of appreciation) cũng có thể áp dụng cho tranh chấp BIT. Khái niệm “biên độ đánh giá” (margin of appreciation) vốn quen thuộc trong luật nhân quyền nhưng thay vì viện dẫn án lệ của Tòa án Nhân quyền Châu Âu, hội đồng dựa vào các phán quyết trọng tài đầu tư khác để ủng hộ việc dành một mức tôn trọng nhất định cho nhà nước khi điều tiết các vấn đề phức tạp.[31] Về mặt học thuật, có quan điểm cho rằng học thuyết “biên độ đánh giá” (margin of appreciation) theo đúng nghĩa kỹ thuật mà Tòa án Nhân quyền Châu Âu phát triển khó có chỗ đứng trong tranh chấp giữa nhà đầu tư với nhà nước do sự khác biệt căn bản về khung thể chế vận hành nhưng nguyên tắc cân xứng (proportionality) có thể là công cụ pháp lý hữu ích hơn để trọng tài viên cân nhắc lợi ích nhà nước.[32] Nhìn chung, việc lựa chọn mức độ rà soát phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể của từng vụ việc và phản ánh nỗ lực cân bằng giữa quyền điều tiết của nhà nước (right to regulate) và nghĩa vụ bảo hộ nhà đầu tư.[33] 4. Mối quan hệ giữa nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt với một số nguyên tắc quan trọng trong luật đầu tư quốc tế 4.1. Quan hệ giữa nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt với nguyên tắc không phân biệt (non-discrimination). Nghĩa vụ không áp dụng các biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc không phân biệt (non-discrimination) trong luật đầu tư quốc tế, nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Theo cách phân loại được trình bày trong Investor-State Arbitration, các hiệp định đầu tư bảo đảm chống lại sự phân biệt đối xử theo ba cơ chế khác nhau: đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc và điều khoản cấm gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện và phân biệt đối xử.[34] Nguyên tắc không phân biệt đối xử được thể hiện qua hai tiêu chuẩn: đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc . Cả hai đều yêu cầu so sánh: nhà đầu tư nước ngoài phải được đối xử ít nhất là tốt bằng nhà đầu tư trong nước (NT) hoặc nhà đầu tư nước thứ ba (MFN) trong hoàn cảnh tương tự.[35] Điều này có nghĩa là để xác định hành vi vi phạm NT hay MFN thì cần tìm một đối tượng để so sánh. Nghĩa vụ không gây tổn hại thì có phạm vi rộng hơn và không nhất thiết cần so sánh. Nicolas F. Diebold gọi đây là “một tiêu chuẩn độc lập được quy định thường xuyên trong các hiệp định đầu tư”.[36] Cụ thể, yếu tố tùy tiện hoàn toàn không cần so sánh với ai cả bởi vì một biện pháp có thể bị coi là vi phạm chỉ vì bản thân nó vô lý, thiếu cơ sở, dù áp dụng như nhau cho mọi nhà đầu tư, không phân biệt quốc tịch.[37] Nhưng đối với yếu tố phân biệt đối xử, hai chuẩn mực này có sự giao thoa đáng kể vì cùng xoay quanh việc so sánh đối xử giữa các chủ thể trong hoàn cảnh tương tự. Tuy nhiên, điểm khác biệt là yếu tố phân biệt đối xử trong điều khoản không gây tổn hại không nhất thiết phải gắn với khuôn khổ so sánh dựa trên quốc tịch như NT hay MFN mà có thể được áp dụng như một căn cứ đánh giá độc lập.[38] 4.2. Quan hệ giữa nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt với các quy định về tước quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Tước quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có thể được coi là thuộc chủ quyền của quốc gia nhận đầu tư trong việc áp dụng các biện pháp điều chỉnh việc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ của nước nhận đầu tư. LĐTQT luôn thừa nhận quyền này khiến nó trở thành mối lo ngại lớn nhất đối với các nhà đầu tư quốc tế.[39] Trong bối cảnh đó, nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt trở thành một công cụ mạnh mẽ bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài khỏi sự quốc hữu hóa hoặc trưng thu tài sản của quốc gia nhận đầu tư một cách vô lý và gây thiệt hại lớn. Cụ thể, các hiệp định đầu tư thường không hạn chế chủ quyền của quốc gia nhận đầu tư trong việc điều chỉnh tài sản của nhà đầu tư trên lãnh thổ song phải đáp ứng được điều kiện rằng các biện pháp đó không mang tính tùy tiện và phân biệt đối xử.[40] Trong vụ Fireman kiện Mexico, phán quyết của hội đồng trọng tài có chứa nội dung “Trừ các hoàn cảnh đặc biệt, các biện pháp quản lý không mang tính phân biệt đối xử của một bên được đưa ra và áp dụng và nhằm bảo vệ các mục tiêu phúc lợi xã hội chính đáng, ví dụ như sức khỏe cộng đồng, an toàn và môi trường, không cấu thành việc tước quyền sở hữu gián tiếp”[41]. Như vậy, nghĩa vụ trên đã đặt ra một căn cứ vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của quốc gia nhận đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong các trường hợp nhà đầu tư yêu cầu bồi thường. Vẫn trong vụ Fireman kiện với Mexico, tòa trọng tài khẳng định “để phân biệt giữa tước quyền sở hữu được bồi thường với một biện pháp không phải bồi thường của nước nhận đầu tư, các biện pháp sau có thể được xem xét [...] liệu biện pháp có mang tính chất phân biệt đối xử”.[42] Kết luận Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng các biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát quyền lực nhà nước trong luật đầu tư quốc tế. Thông qua các hiệp định đầu tư và án lệ trọng tài, nghĩa vụ này đã được phát triển với nội hàm bao gồm việc cấm các biện pháp thiếu cơ sở hợp lý, vi phạm quy trình pháp lý, hoặc tạo ra sự đối xử bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong hoàn cảnh tương tự. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn tồn tại sự không thống nhất trong cách diễn giải, đặc biệt về tiêu chí xác định tính tùy tiện, vai trò của ý định phân biệt đối xử, và mức độ kiểm tra của hội đồng trọng tài. Đồng thời, nghĩa vụ này có mối liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác như FET hay đối xử quốc gia, đặt ra yêu cầu phân định rõ ranh giới giữa các tiêu chuẩn. Trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động, nghĩa vụ này tiếp tục là công cụ quan trọng để cân bằng giữa bảo hộ đầu tư và không gian chính sách quốc gia. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Trịnh Hải Yến, Giáo trình “Luật đầu tư quốc tế”, Học viện Ngoại giao [2] Sarah M. Alshahrani, What Should We Know About the Origins of International Investment Law?, International Journal of Legal Information, Vol. 48, No. 3, 2020, tr. 122–131. [3] Hiệp định Năng lượng 1994 (Energy Charter Treaty, ECT), Điều 10(1) [4] Trịnh Hải Yến, Giáo trình Luật Đầu tư Quốc tế, Học viện Ngoại giao [5] Waste Management, Inc v United Mexican States, ICSID Case No ARB(AF)/00/3, Award (30 April 2004) para 98. [6] Elettronica Sicula S.p.A. (ELSI) (United States of America v. Italy), ICJ Reports 1989, p. 15, para. 128. [7] Joseph Charles Lemire v. Ukraine, ICSID Case No. ARB/06/18, Decision on Jurisdiction and Liability (14 January 2010) para. 261. [8] ‘Protection from Arbitrary or Discriminatory Treatment’, Jus Mundi Wiki Note https://jusmundi.com/en/document/publication/en-protection-from-arbitrary-or-discriminatory-treatment, truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2026. [9] Elettronica Sicula S.p.A. (ELSI) (United States of America v. Italy), ICJ Reports 1989, p. 15, para. 128. [10] Alex Genin, Eastern Credit Limited, Inc. and A.S. Baltoil v. Republic of Estonia, ICSID Case No. ARB/99/2, Award (25 June 2001) para. 371. [11] EDF (Services) Limited v. Romania, ICSID Case No. ARB/05/13, Award (8 October 2009) para. 303. [12] Saluka Investments B.V. v. The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award (17 March 2006) paras. 344 - 347, 460. [13] LG&E Energy Corp., LG&E Capital Corp., and LG&E International, Inc. v. Argentine Republic, ICSID Case No. ARB/02/1, Decision on Liability (3 October 2006) paras. 158 - 163. [14] Article 3(1), Argentina - Netherlands Agreement on Encouragement and Reciprocal Protection of Investments (1992). [15] Ronald S. Lauder v. The Czech Republic, UNCITRAL, Final Award (3 September 2001) para. 219. [16] Occidental Exploration and Production Company v. The Republic of Ecuador (I), LCIA Case No. UN3467, Final Award (1 July 2004) para. 173. [17] Jus Mundi, Wiki Note: National Treatment, section “Like Circumstances”. [18] Jus Mundi, Wiki Note: Discrimination in FET, section “Interpretation of the standard by arbitral tribunals”. [19] Jus Mundi, Wiki Note: National Treatment, section “De Jure and De Facto Discrimination”. [20] Corn Products International, Inc. v. United Mexican States, ICSID Case No. ARB(AF)/04/1, Decision on Responsibility (15 January 2008). [21] Aceris Law, “The National Treatment Standard - Investment Arbitration” (1 November 2018), https://www.acerislaw.com/the-national-treatment-standard-investment-arbitration/ , truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2026. [22] S.D. Myers, Inc. v. Government of Canada, UNCITRAL, Partial Award (13 November 2000) para. 254. [23] Fisheries Jurisdiction (Spain v. Canada), Jurisdiction of the Court, ICJ Reports 1998, p.460, para.66. [24] Dolzer, R. & Schreuer, C., Principles of International Investment Law, 3rd ed., Oxford University Press, 2022. [25] Alex Genin, Eastern Credit Limited, Inc. and A.S. Baltoil v. Republic of Estonia, ICSID Case No. ARB/99/2, Award (25 June 2001). [26] UNCTAD, Taxation and Investment Policy, 2015. [27] Anne Peters and Hélène Ruiz Fabri (eds), “Standard of Review: Investment Arbitration”, Max Planck Encyclopedias of International Law (MPEiPro). [28] Caroline Henckels, Proportionality and Deference in Investor-State Arbitration, Cambridge University Press, 2015, pp. 29 - 30. [29] Philip Morris Brands Sàrl, Philip Morris Products S.A. and Abal Hermanos S.A. v. Oriental Republic of Uruguay, ICSID Case No. ARB/10/7, Award (8 July 2016) para. 399. [30] Glamis Gold, Ltd. v. The United States of America, UNCITRAL, Award (8 June 2009) para. 779. [31] Philip Morris Brands Sàrl, Philip Morris Products S.A. and Abal Hermanos S.A. v. Oriental Republic of Uruguay, ICSID Case No. ARB/10/7, Award (8 July 2016) para. 399. [32] Gustavo Zarra, “Right to Regulate, Margin of Appreciation and Proportionality: Current Status in Investment Arbitration in Light of Philip Morris v. Uruguay”, Revista de Direito Internacional, 2017, pp. 95 - 120. [33] Caroline Henckels, Proportionality and Deference in Investor-State Arbitration: Balancing Investment Protection and Regulatory Autonomy, Cambridge University Press, 2015. [34] Borzu Sabahi, Noah Rubins and Don Wallace Jr, Investor-State Arbitration (2nd edn, OUP 2019) para. 17.01. [35] Andrea K. Bjorklund, “The National Treatment Obligation”, in Katia Yannaca-Small (ed.), Arbitration under International Investment Agreements: A Guide to the Key Issues, OUP, para. 21.01, p. 532. [36] Nicolas F. Diebold, “Protection Against Arbitrary or Discriminatory Measures in International Investment Law”. [37] Jus Mundi, Wiki Note: Discrimination in FET, section “Interpretation of the standard by arbitral tribunals”. [38] Ursula Kriebaum, “Arbitrary/Unreasonable or Discriminatory Measures” in Marc Bungenberg and others (eds), International Investment Law, Hart/Nomos 2015, pp. 790 - 817. [39] Rudolf Dolzer and Christoph Schreuer, Principles of International Investment Law (2nd edn, OUP 2012) chapter “Expropriation”. [40] Trịnh Hải Yến, Giáo trình Luật đầu tư quốc tế, Học viện Ngoại giao. [41] Fireman’s Fund Insurance Company v. The United Mexican States, ICSID Case No. ARB(AF)/02/1, Phán quyết ngày 17-7-2006, đoạn 176. [42] Như trên.

  • [85] TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO HỘ VÀ AN NINH ĐẦY ĐỦ TRONG LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

    Tác giả: Ngô Ngọc Tú Linh, Phạm Diệp Anh Mở đầu: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài trở thành một trong những vấn đề trung tâm của pháp luật đầu tư quốc tế. Trên cơ sở đó, bài viết này tiếp cận nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ (FPS) từ góc độ thực tiễn trọng tài đầu tư quốc tế, qua đó phân tích các khía cạnh từ nguồn gốc lịch sử, bản chất pháp lý và phạm vi áp dụng, đến tiêu chuẩn xác định trách nhiệm của nhà nước và mối quan hệ giữa FPS với nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET). Thông qua việc hệ thống các phán quyết nền tảng của Trung tâm Quốc tế Giải quyết Tranh chấp Đầu tư (ICSID) và các cơ quan tài phán đầu tư khác, bài viết hướng đến làm rõ những điểm đồng thuận, những điểm còn mở mà nguyên tắc đặt ra trong bối cảnh pháp luật đầu tư quốc tế hiện đại. Từ khóa: Nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ, trọng tài đầu tư quốc tế, sự cẩn trọng thích đáng. 1. Nguồn gốc và lịch sử của nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ Nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ có lịch sử hình thành lâu dài trong luật quốc tế. Một trong những văn kiện điều ước đầu tiên ghi nhận nghĩa vụ bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài là Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải năm 1833 giữa Hoa Kỳ và Chile.[1] Sau đó, Hiệp định đầu tư song phương (BIT) giữa Đức và Pakistan năm 1959 được coi là BIT hiện đại đầu tiên và cũng đã bao gồm điều khoản FPS, phản ánh nhận thức sớm của cộng đồng quốc tế về nhu cầu bảo vệ nhà đầu tư trước các rủi ro phát sinh tại quốc gia tiếp nhận đầu tư.[2] Ban đầu, FPS được hiểu theo nghĩa hẹp, gắn chặt với nghĩa vụ bảo vệ an ninh vật chất đối với nhà đầu tư và tài sản đầu tư. Trong vụ Asian Agricultural Products Limited (AAPL) v. Sri Lanka[3], trang trại nuôi tôm của nhà đầu tư Hồng Kông này đã bị phá hủy hoàn toàn trong chiến dịch quân sự chống phiến quân LTTE của lực lượng an ninh Sri Lanka vào năm 1987. Thay vì xem xét liệu Chính phủ có chủ động gây thiệt hại hay không, Hội đồng trọng tài tập trung làm rõ liệu Nhà nước đã thực hiện sự cẩn trọng thích đáng để ngăn ngừa thiệt hại đó hay chưa.[4] Tòa xác định rằng Sri Lanka biết hoặc đáng lẽ phải biết về nguy cơ đối với tài sản đầu tư trong khu vực xung đột, nhưng đã không áp dụng các biện pháp phòng ngừa hợp lý, và do đó phải chịu trách nhiệm bồi thường. [5]Phán quyết này phản ánh nhận thức truyền thống của luật đầu tư quốc tế rằng FPS trước hết là nghĩa vụ bảo vệ nhà đầu tư trước các hành vi bạo lực và bất ổn dân sự.[6] Trong giai đoạn phát triển gần đây, thực tiễn trọng tài tiếp tục mở rộng nội hàm của FPS theo hướng bao gồm cả nghĩa vụ duy trì một khuôn khổ pháp lý hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài,[7] tức là Nhà nước phải đảm bảo rằng hệ thống pháp lý và hành chính của mình không gây bất lợi cho nhà đầu tư. Bước ngoặt trong xu hướng này được đánh dấu bởi vụ CME v. Czech Republic (2001), cụ thể là Nhà đầu tư Hà Lan CME đầu tư vào lĩnh vực truyền thông tại Séc thông qua một đối tác nội địa, nhưng sau đó cơ quan quản lý phát thanh truyền hình Séc đã ban hành một loạt quyết định hành chính buộc CME tái cơ cấu thỏa thuận cấp phép theo hướng làm suy yếu nghiêm trọng quyền kinh doanh của nhà đầu tư.[8] Tóm lại, “khuôn khổ pháp lý hữu hiệu” trong ngữ cảnh FPS bao gồm sự ổn định của các quy định điều chỉnh hoạt động đầu tư, tính nhất quán trong hành vi của cơ quan nhà nước, và khả năng tiếp cận hệ thống tư pháp để bảo vệ quyền lợi, từ đó tạo thành môi trường mà nhà đầu tư có thể hoạt động mà không bị cản trở hay bất ngờ bởi sự thay đổi tùy tiện từ phía Nhà nước.[9] 1.2. Định nghĩa Về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “bảo hộ và an ninh đầy đủ” bao gồm hai yếu tố tạo thành một chỉnh thể thống nhất, không được giải thích và áp dụng một cách tách biệt.[10] Trong đó, “bảo hộ” chỉ nghĩa vụ hành động của Nhà nước, tức là nghĩa vụ chủ động thực hiện các biện pháp cần thiết và hợp lý để bảo vệ nhà đầu tư; còn “an ninh” chỉ trạng thái, điều kiện mà nhà đầu tư có quyền được hưởng một môi trường ổn định, không bị đe dọa bởi bạo lực hay can thiệp tùy tiện.[11] Nói cách khác, “bảo hộ” là phương tiện, còn “an ninh” là mục tiêu mà tiêu chuẩn FPS hướng tới. Đáng chú ý, trong thực tiễn ký kết điều ước hiện đại, nhiều hiệp định đã lược bỏ từ “đầy đủ” (full), chỉ còn giữ lại cụm “protection and security”. Dù thực tiễn trọng tài nhìn chung không coi đây là sự khác biệt đáng kể về nghĩa vụ thực chất,[12] xu hướng này vẫn phản ánh mong muốn của các quốc gia trong việc thu hẹp phạm vi cam kết, tránh để trọng tài diễn giải mở rộng tiêu chuẩn này. Xu hướng này xuất phát từ lo ngại rằng thuật ngữ ‘đầy đủ’ (full) có thể bị diễn giải theo hướng mở rộng phạm vi của tiêu chuẩn FPS sang các nghĩa vụ bảo vệ pháp lý, hành chính hoặc thương mại, vốn thuộc phạm vi của tiêu chuẩn FET, qua đó làm gia tăng nguy cơ quốc gia tiếp nhận đầu tư bị khởi kiện và phải bồi thường. Về định nghĩa, nguyên tắc FPS không có một định nghĩa thống nhất trong cả thực tiễn điều ước lẫn thực tiễn trọng tài.[13] Hầu hết các BIT chỉ ghi nhận nghĩa vụ FPS dưới dạng một cụm từ ngắn gọn mà không kèm theo định nghĩa hay giải thích cụ thể, để ngỏ việc xác định nội hàm cho các hội đồng trọng tài trong từng vụ tranh chấp.[14] Trong khi đó, các Tòa trọng tài có những diễn giải khác nhau về việc liệu nghĩa vụ FPS chỉ dừng lại ở bảo hộ an ninh vật chất hay mở rộng nội hàm ra cả bảo hộ an ninh pháp lý.[15] Tóm lại, mặc dù chưa có định nghĩa pháp lý thống nhất, nguyên tắc FPS được hiểu là nghĩa vụ tích cực của quốc gia tiếp nhận đầu tư, theo đó quốc gia này phải thực hiện các biện pháp hợp lý nhằm bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài và tài sản đầu tư khỏi các hành vi gây thiệt hại, bất kể các hành vi đó xuất phát từ cơ quan nhà nước hay từ các chủ thể tư nhân.[16] 2. Nội dung của nguyên tắc FPS 2.1. Nghĩa vụ bảo hộ và an ninh vật chất Tiêu chuẩn áp dụng của FPS được một số hội đồng trọng tài giới hạn trong phạm vi bảo hộ an ninh vật chất. Cụ thể, dựa vào định nghĩa nêu trên, hội đồng trọng tài trong Vụ Crystallex v. Venezuela cho rằng việc giới hạn phạm vi áp dụng của FPS vào bảo hộ và an ninh vật chất là cách diễn giải mang tính truyền thống hơn và phù hợp với ý nghĩa thông thường của các thuật ngữ.[17] Một ví dụ điển hình khác là phán quyết trong vụ Saluka v. Cộng hòa Séc, trong đó ghi nhận tiêu chuẩn FPS áp dụng khi khoản đầu tư nước ngoài đã bị ảnh hưởng bởi xung đột dân sự hoặc tấn công vật lý và giới hạn việc áp dụng FPS đối với tính toàn vẹn vật chất của khoản đầu tư.[18] Trong một số phán quyết của ICSID, phạm vi áp dụng của nguyên tắc này còn gắn liền với nguồn gốc lịch sử của tiêu chuẩn FPS: “tiêu chuẩn này đã được hình thành trong bối cảnh lãnh đạo, nhân viên công ty và cơ sở vật chất của nhà đầu tư cần phải được bảo đảm an toàn về mặt vật chất”.[19] Ở cấp độ điều ước, các hiệp định đầu tư thế hệ mới có xu hướng giới hạn rõ phạm vi của FPS trong bảo hộ và an ninh vật chất. Căn cứ theo Điều 9.6(2) của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Điều 14.6(2) của Hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ, Mexico và Canada (USMCA) 2020 đều quy định rằng “bảo hộ và an ninh đầy đủ” chỉ yêu cầu mỗi bên cung cấp mức độ bảo vệ của cảnh sát theo yêu cầu của luật tập quán quốc tế.[20] Điều 8.10(5) của CETA bổ sung rằng “bảo hộ và an ninh đầy đủ” đề cập đến nghĩa vụ của mỗi bên liên quan đến an ninh vật chất của nhà đầu tư và các khoản đầu tư được bảo hộ”. 2.2. Nghĩa vụ bảo hộ và an ninh pháp lý Thực tiễn trọng tài cho thấy nhiều hội đồng đã diễn giải FPS theo hướng mở rộng, theo đó quốc gia tiếp nhận đầu tư không chỉ có nghĩa vụ bảo vệ nhà đầu tư khỏi các hành vi bạo lực hay can thiệp vật chất, mà còn phải duy trì một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và an toàn cho hoạt động đầu tư.[21] Nghĩa vụ này thường được suy luận từ các điều khoản FPS trong các BIT, đặc biệt khi hiệp định sử dụng thuật ngữ “full protection and security” mà không kèm theo bất kì tính từ hay giải thích bổ sung, thì về mặt ngôn ngữ, nội hàm của tiêu chuẩn này có thể giải thích vượt ra ngoài an ninh vật chất,[22] vì nếu FPS chỉ giới hạn ở bảo hộ và an ninh vật chất, thì từ "full" gần như không có giá trị bổ sung đáng kể. Các hành vi thuộc phạm vi bảo hộ và an ninh pháp lý thường bao gồm: (i) không thông qua sửa đổi pháp luật hoặc hành vi của các cơ quan hành chính mà làm suy giảm giá trị hay khiến sự bảo hộ và an ninh đã được thỏa thuận và chấp thuận đối với khoản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài bị rút lại;[23] (ii) yêu cầu về sự ổn định của môi trường đầu tư an toàn;[24] hoặc (iii) sự bảo đảm của Nhà nước về tính ổn định trong một môi trường an toàn, cả về vật chất, thương mại và pháp lý.[25] Trong vụ Azurix v. Argentina, Hội đồng Trọng tài khẳng định rằng: “tiêu chuẩn bảo hộ và an ninh đầy đủ có thể bị vi phạm ngay cả khi không có bạo lực hay thiệt hại về mặt vật chất”. Hội đồng nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn này không chỉ giới hạn ở bảo vệ vật chất, mà còn bao gồm sự ổn định của môi trường đầu tư.[26] Hay trong vụ Vivendi v. Argentina, Hội đồng bác bỏ lập luận rằng FPS chỉ áp dụng đối với can thiệp vật chất, và cho rằng nếu các bên muốn giới hạn như vậy thì họ đã có thể quy định rõ trong hiệp định.[27] Ngoài ra, một số Hội đồng trọng tài đã dựa vào việc hiệp định đầu tư áp dụng không chỉ với tài sản hữu hình mà còn với các loại tài sản khác để chứng minh cho việc mở rộng FPS sang bảo hộ pháp lý. Cụ thể, trong vụ Siemens v. Argentina, dựa trên định nghĩa “đầu tư” trong BIT áp dụng với cả tài sản hữu hình và vô hình, Hội đồng trọng tài nhận định nghĩa vụ bảo hộ và an ninh đầy đủ rộng hơn bảo vệ tài sản vật lý, vì tài sản vô hình không có khả năng được bảo hộ vật chất.[28] Có thể thấy, mức độ mở rộng này vẫn phụ thuộc đáng kể vào ngôn ngữ của điều ước đầu tư và cách tiếp cận của từng Hội đồng trọng tài. 3. Tiêu chuẩn xác định trách nhiệm của Nhà nước - Nguyên tắc Due diligence 3.1. Bản chất của “Due diligence” Về bản chất pháp lý, nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ đặt ra một nghĩa vụ chung buộc quốc gia tiếp nhận đầu tư phải thực hiện việc “xem xét cẩn trọng” (due diligence) trong việc bảo hộ khoản đầu tư nước ngoài, nhưng nghĩa vụ này không tạo ra trách nhiệm tuyệt đối.[29] Điều này có nghĩa là quốc gia tiếp nhận đầu tư không bị yêu cầu phải tuyệt đối ngăn chặn mọi thiệt hại phát sinh đối với nhà đầu tư, mà chỉ phải chứng minh rằng mình đã áp dụng các biện pháp hợp lý trong phạm vi quyền hạn và khả năng thực tế để phòng ngừa hoặc xử lý thiệt hại đó.[30] Đặc biệt, trong trường hợp thiệt hại phát sinh từ các hành vi của bên thứ ba, quốc gia tiếp nhận phải thực hiện các hành động hợp lý trong phạm vi quyền hạn của mình để tránh thiệt hại khi biết hoặc đáng lẽ phải biết về rủi ro.[31] Nghĩa vụ due diligence này đôi khi còn được gọi là “nghĩa vụ cảnh giác”.[32] 3.2. Các yếu tố xem xét mức độ cẩn trọng của Nhà nước Trên thực tế, mức độ xem xét cẩn trọng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. Câu hỏi đặt ra là liệu tiêu chuẩn FPS là tiêu chuẩn khách quan, hay phụ thuộc vào điều kiện, nguồn lực và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Một số phán quyết và học giả ủng hộ cách tiếp cận theo hướng tiêu chuẩn khách quan, theo đó cho rằng quốc gia tiếp nhận đầu tư phải thực hiện không nhiều hơn nhưng cũng không ít hơn các biện pháp hợp lý mà một nhà nước quản trị tốt được cho là sẽ thực hiện trong trường hợp tương tự.[33] Cụ thể, Hội đồng Trọng tài trong vụ AAPL v. Sri Lanka cho rằng quốc gia tiếp nhận đầu tư không phải bảo đảm tuyệt đối an toàn cho nhà đầu tư, nhưng phải áp dụng đầy đủ những biện pháp phòng ngừa hợp lý mà một quốc gia được tổ chức và quản trị tốt có thể được kỳ vọng sẽ thực hiện trong cùng hoàn cảnh.[34] Do đó, Nhà nước chỉ bị coi là vi phạm FPS khi không đáp ứng mức độ cẩn trọng khách quan mà luật quốc tế yêu cầu, chứ không phải chỉ vì thiệt hại đã xảy ra. Ngược lại, một số học giả và hội đồng trọng tài ủng hộ tiêu chuẩn due diligence mang tính chủ quan, có xét đến như nguồn lực và điều kiện thực tế của quốc gia. Ví dụ, trong vụ Cengiz v. Libya, Hội đồng trọng tài cho rằng: quốc gia phải thực hiện nghĩa vụ xem xét cẩn trọng để ngăn ngừa thiệt hại do bên thứ ba gây ra, và mức độ hợp lý phải được đánh giá dựa trên nguồn lực và tình hình của quốc gia.[35] Cụ thể hơn, Hội đồng trọng tài vụ Pantechniki v. Albania cho rằng trong bối cảnh bạo lực hoặc bất ổn công cộng, việc xác định trách nhiệm của quốc gia cần tính đến nguồn lực thực tế của quốc gia tiếp nhận đầu tư.[36] Cũng trong vụ việc này, Hội đồng trọng tài đề xuất áp dụng yếu tố tương xứng trong các trường hợp phát sinh xung đột dân sự hay bạo lực vật chất chưa từng có về mặt quy mô, và vượt quá khả năng kiểm soát của một quốc gia kém phát triển.[37] Trong lĩnh vực tư pháp, tiêu chuẩn FPS yêu cầu Nhà nước duy trì một hệ thống tòa án và cơ chế pháp lý hiệu quả để nhà đầu tư bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, không phải mọi phán quyết bất lợi hay sai sót đều cấu thành vi phạm FPS, miễn là cơ quan xét xử hành động thiện chí và đưa ra quyết định dựa trên cơ sở hợp lý.[38] 3.3 Trách nhiệm của Nhà nước Nghĩa vụ cung cấp bảo hộ và an ninh đầy đủ áp dụng đối với: (i) hành vi của Nhà nước, và (ii) hành vi và sự không hành động của Nhà nước liên quan đến hành vi của các chủ thể tư nhân thuộc thẩm quyền của Nhà nước.[39] 3.3.1. Trách nhiệm đối với hành vi trực tiếp của cơ quan Nhà nước Tiêu chuẩn FPS không chỉ đặt ra nghĩa vụ cho Nhà nước trong việc bảo vệ nhà đầu tư khỏi các hành vi của bên thứ ba mà còn yêu cầu Nhà nước không được tự mình thực hiện những hành vi gây tổn hại cho nhà đầu tư và khoản đầu tư. Vì vậy, khi thiệt hại phát sinh trực tiếp từ hành động của cơ quan Nhà nước, thì chính hành động đó là hành vi vi phạm FPS.[40] Theo đó, Nhà nước có nghĩa vụ kiềm chế, không xâm phạm đến sự an toàn về mặt vật chất của nhà đầu tư và tài sản của họ, và nghĩa vụ này áp dụng đối với toàn bộ các cơ quan, đại diện có hành vi được quy cho Nhà nước.[41] Nguyên tắc này đã được các quốc gia thừa nhận từ trước khi các hiệp định đầu tư ra đời[42] và phù hợp với luật tập quán quốc tế. Về nội dung, các vụ việc thường liên quan đến thiệt hại vật chất đối với nhà đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh xung đột dưới sự kiểm soát của dân sự hay bất ổn xã hội.[43] Chẳng hạn, trong vụ Cengiz v. Libya, quân đội chính quy Libya và các lực lượng dân quân thuộc phong trào nổi dậy, khi đó nằm dưới sự kiểm soát của Chính phủ lâm thời Libya do Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia lãnh đạo, đã cướp phá và gây thiệt hại vật chất đối với các khu trại chính của Cengiz Libya.[44] Dựa trên các quy tắc về trách nhiệm quốc tế của quốc gia cho hành vi sai phạm quốc tế, Hội đồng kết luận rằng Nhà nước Libya phải chịu trách nhiệm đối với những hành vi đó.[45] Tuy nhiên, tiêu chuẩn FPS không chỉ được áp dụng trong các tình huống chiến tranh, nội chiến, bạo loạn hoặc bất ổn xã hội. Thực tiễn cho thấy ngay cả trong trường hợp không có xung đột, hành vi trực tiếp hoặc hỗ trợ của cơ quan Nhà nước gây tổn hại cho nhà đầu tư vẫn có thể cấu thành vi phạm FPS.[46] Song, không phải mọi thiệt hại do Nhà nước gây ra đều đương nhiên cấu thành vi phạm. Một số hội đồng trọng tài đánh giá vi phạm dựa trên việc hành vi của Nhà nước có được biện minh bởi mục tiêu chính sách công hợp pháp hay không.[47] Theo đó, nếu biện pháp của Nhà nước được thực hiện vì những quan ngại chính đáng và ở mức độ hợp lý, cần thiết để đạt được mục tiêu công, thì thiệt hại phát sinh đối với nhà đầu tư chưa đủ để kết luận rằng Nhà nước đã vi phạm FPS.[48] Ngược lại, nếu biện pháp mang tính không cần thiết, lạm quyền[49] hoặc thiếu cơ sở chính đáng,[50] đặc biệt là khi những hành vi đó gây thiệt hại đáng kể cho nhà đầu tư, hội đồng trọng tài có thể xác định rằng Nhà nước đã vi phạm nghĩa vụ FPS. 3.3.2. Trách nhiệm đối với hành vi của bên thứ ba Mặc dù nhiều hiệp định đầu tư không định nghĩa cụ thể FPS, cách hiểu phổ biến về nội hàm của tiêu chuẩn này là Nhà nước có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ ngăn ngừa, xử lý và trừng phạt các hành vi của bên thứ ba gây thiệt hại cho nhà đầu tư và khoản đầu tư.[51] Tức là, hành vi vi phạm không nằm ở chính hành vi gây thiệt hại, mà ở sự thiếu cẩn trọng của Nhà nước trong việc ngăn chặn hoặc xử lý hành vi đó theo tiêu chuẩn due diligence, đặc biệt trong bối cảnh xung đột vũ trang hoặc bất ổn xã hội.[52] Trong vụ AAPL v. Sri Lanka, Hội đồng cho rằng Sri Lanka đã vi phạm nghĩa vụ due diligence khi không thực hiện các biện pháp phòng ngừa cần thiết trước khi lực lượng an ninh Sri Lanka tiến hành chiến dịch truy quét phiến quân LTTE, dẫn đến thiệt hại về người và tài sản.[53] Một ví dụ gần đây hơn là vụ Ampal v. Egypt, Hội đồng xác định Ai Cập vi phạm FPS vì không thực hiện bất kỳ biện pháp phòng ngừa hay phản ứng, nhằm ngăn chặn các hành vi phá hoại đường ống của các nhóm khủng bố, gây thiệt hại cho huyết mạch của khoản đầu tư.[54] Bên cạnh đó, FPS còn bao gồm nghĩa vụ truy bắt và trừng phạt thủ phạm.[55] Nhà nước phải thực hiện mọi biện pháp hợp lý mà một Nhà nước được quản trị tốt sẽ thực hiện để xử lý những người gây thiệt hại.[56] Trong luật Đầu tư quốc tế, tiêu chí về một Nhà nước được quản trị tốt được xác định thông qua một số án lệ tiêu biểu, bao gồm các yêu cầu về tính ổn định của môi trường pháp lý và khả năng dự đoán của chính sách.[57] Nguyên tắc FPS không chỉ yêu cầu Nhà nước ngăn ngừa và xử lý các hành vi gây thiệt hại, mà còn đòi hỏi duy trì một hệ thống tư pháp và hành chính hiệu quả để nhà đầu tư có thể bảo vệ quyền lợi của mình.[58] Các hội đồng trọng tài nhấn mạnh rằng Nhà nước phải bảo đảm sự tồn tại của các cơ chế xét xử công bằng, khả dụng và phù hợp.[59] Nghĩa vụ này thường được liên hệ với tiêu chuẩn FET và nguyên tắc cấm từ chối công lý trong tập quán quốc tế.[60] Tuy nhiên, việc đánh giá nghĩa vụ này thường không dựa trên tiêu chuẩn due diligence mà dựa trên hiệu quả thực tế của hệ thống tư pháp và hành chính do Nhà nước cung cấp.[61] 4. Mối quan hệ giữa FPS và nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET) Trước khi phân tích mối quan hệ giữa hai nguyên tắc, cần hiểu nội hàm cơ bản của FET. Về bản chất, FET là nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư trong việc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài một cách công bằng, thiện chí và có thể dự đoán được, bao gồm bảo đảm quy trình tố tụng công bằng và không từ chối công lý, tôn trọng kỳ vọng hợp lý của nhà đầu tư, hành xử minh bạch, nhất quán và không tùy tiện.[62] Trong một số hiệp định thế hệ mới như Hiệp định BIT mẫu của Hoa Kỳ (2012), FET được định nghĩa hẹp hơn, chỉ giới hạn ở nghĩa vụ không từ chối công lý trong tố tụng hình sự, dân sự hoặc hành chính theo nguyên tắc tố tụng hợp lệ được thừa nhận trong các hệ thống pháp luật chính của thế giới.[63] Trên thực tiễn soạn thảo điều ước, FPS và FET thường xuất hiện cùng nhau trong cùng một điều khoản bảo hộ đầu tư của BIT vì vậy khiến ranh giới giữa chúng đôi khi không hoàn toàn rõ ràng.[64] Chính vì lý do đó mà thực tiễn trọng tài hình thành hai luồng quan điểm đối lập. Theo quan điểm liên kết, FPS được xem là một biểu hiện cụ thể của tiêu chuẩn FET, chứ không phải là một nghĩa vụ pháp lý độc lập. Theo cách tiếp cận này, FPS chỉ cụ thể hóa khía cạnh bảo đảm môi trường đầu tư an toàn và ổn định vốn đã được bao hàm trong tiêu chuẩn FET. Vì vậy, khi một hành vi bị xác định là vi phạm FPS thì đồng thời cũng được xem là vi phạm FET. Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng FPS và FET là hai tiêu chuẩn bảo hộ đầu tư độc lập, và đây cũng là cách tiếp cận được nhiều hội đồng trọng tài gần đây ủng hộ. Trong vụ Electrabel v. Hungary, hội đồng trọng tài khẳng định rằng FET và FPS theo Hiệp ước Hiến chương Năng lượng là hai tiêu chuẩn bảo hộ riêng biệt, mỗi tiêu chuẩn phục vụ một mục đích khác nhau. Dựa trên nguyên tắc effet utile, hội đồng cho rằng cần dành cho mỗi tiêu chuẩn một phạm vi áp dụng và chức năng riêng, nhằm bảo đảm mọi điều khoản của hiệp ước đều có ý nghĩa và hiệu lực thực tế, tránh việc một tiêu chuẩn trở nên thừa.[65] Đáng chú ý, trong vụ Azurix v. Argentina, hội đồng trọng tài cho rằng FPS chỉ quy định mức bảo hộ tối thiểu mà quốc gia phải bảo đảm cho nhà đầu tư, chứ không giới hạn phạm vi bảo hộ của tiêu chuẩn này.[67] Cách tiếp cận này cho thấy FPS có ý nghĩa và phạm vi áp dụng riêng, thay vì chỉ là một phần của FET. Vai trò độc lập của FPS thể hiện rõ trong hai trường hợp. Thứ nhất, khi hiệp định đầu tư không quy định FET hoặc chỉ quy định rất hạn chế. Thứ hai, khi tranh chấp phát sinh từ các hành vi xâm hại trực tiếp đến nhà đầu tư hoặc tài sản của họ, như bạo lực, cưỡng chế hoặc phá hủy tài sản. Vụ AAPL v. Sri Lanka (1990) là minh chứng điển hình.[68] Vụ kiện này được khởi xướng trên cơ sở của BIT giữa Vương quốc Anh và Sri Lanka năm 1980 và được mở rộng áp dụng cho Hong Kong từ năm 1981. Đáng chú ý, hiệp định này chỉ quy định FPS tại Điều 2(2) mà không ghi nhận một tiêu chuẩn FET độc lập.[69] Trong bối cảnh đó, FPS trở thành cơ sở pháp lý duy nhất để nhà đầu tư yêu cầu xác lập trách nhiệm của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Hội đồng trọng tài cho rằng nghĩa vụ FPS theo Điều 2(2) chỉ yêu cầu quốc gia thực hiện nghĩa vụ due diligence, chứ không phải chịu trách nhiệm tuyệt đối đối với mọi thiệt hại xảy ra.[70] Tuy nhiên, sau khi xem xét các tình tiết của vụ việc, hội đồng kết luận Sri Lanka đã vi phạm nghĩa vụ này vì không chứng minh được rằng việc phá hủy toàn bộ cơ sở nuôi tôm là hệ quả tất yếu và không thể tránh khỏi của chiến dịch quân sự. Do đó, vụ AAPL v. Sri Lanka không chỉ là một trong những án lệ đầu tiên áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn FPS trên cơ sở điều ước đầu tư, mà còn khẳng định rằng FPS có thể được áp dụng như một cơ sở trách nhiệm độc lập ngay cả khi điều ước không quy định tiêu chuẩn FET.[71] Kết luận: Tóm lại, nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ (FPS) là một trong những tiêu chuẩn quan trọng của pháp luật Đầu tư quốc tế hiện đại. Từ nguồn gốc ban đầu gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh vật chất, thực tiễn trọng tài quốc tế đã từng bước mở rộng nội hàm của FPS sang cả lĩnh vực bảo hộ pháp lý và hành chính. Tuy nhiên, dù được diễn giải theo hướng rộng hay hẹp, FPS nhìn chung vẫn được hiểu là một nghĩa vụ hành xử dựa trên tiêu chuẩn “xem xét cẩn trọng”, chứ không yêu cầu Nhà nước phải chịu trách nhiệm tuyệt đối với mọi tổn thất mà nhà đầu tư phải gánh chịu. Thực tiễn xét xử cũng cho thấy FPS có mối liên hệ chặt chẽ với FET, nhưng vẫn duy trì bản chất độc lập với trọng tâm là nghĩa vụ bảo vệ tích cực của Nhà nước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải Hoa Kỳ - Chile (1833) [2][14] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (2nd edn, Oxford University Press 2012) 149 [3] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990 [4] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 53. [5][15][17] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, paras 85-86. [6] Jus Mundi, 'Full Protection and Security (FPS)' (Jus Mundi, 2026) truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026 [7][59] Frontier Petroleum Services Ltd v The Czech Republic, UNCITRAL, Final Award, 12/11/2010, para 263. [8] CME Czech Republic BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 13/9/2001 [9] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (2nd edn, Oxford University Press 2012) 149-160 [10][11][13] Schreuer C, “Full Protection and Security” (2010) 2 Journal of International Dispute Settlement 353 [12] Parkerings-Compagniet AS v Republic of Lithuania, ICSID Case No ARB/05/8, Award, 11/9/2007, para 354. [16] Saluka Investments BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 17/3/2006, para 484; Biwater Gauff (Tanzania) Ltd v United Republic of Tanzania, ICSID Case No ARB/05/22, Award, 24/7/2008, para 729. [18] Crystallex International Corporation v Bolivarian Republic of Venezuela, ICSID Case No ARB(AF)/11/2, Award, 4 April 2016, para 634. [19] Saluka Investments BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 17/3/2006, paras 483-494. [20] PSEG Global Inc and Konya Ilgin Elektrik Üretim ve Ticaret Limited Şirketi v Republic of Turkey, ICSID Case No ARB/02/5, Award, 19 January 2007, para 258. [21] Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP), Art.9.6(2); United States-Mexico-Canada Agreement (USMCA), Art.14.6(2). [22][26] Biwater Gauff v Tanzania, para 729; National Grid plc v The Argentine Republic (Award, UNCITRAL, 3/11/2008), para.189. [23] Azurix Corp v Argentine Republic, ICSID Case No ARB/01/12, Award, 14/7/2006, para 408; Biwater Gauff (Tanzania) Ltd v United Republic of Tanzania, ICSID Case No ARB/05/22, Award, 24/7/2008, para 729. [24] CME Czech Republic BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 13/9/2001, para 408. [25][27] Azurix Corp v Argentine Republic, ICSID Case No ARB/01/12, Award, 14/7/2006, para 408. [28] Compañía de Aguas del Aconquija SA and Vivendi Universal SA v Argentine Republic, ICSID Case No ARB/97/3, Award, 20 August 2007, para 7.4.15. [29] Siemens AG v The Argentine Republic, ICSID Case No ARB/02/8, Award, 17/1/2007, para 36. [30][31] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (Oxford University Press 2008) 149-150 [32] El Paso Energy International Company v Argentine Republic, ICSID Case No. ARB/03/15, Award, 31/10/2011, para 523. [33] American Manufacturing & Trading, Inc v Republic of Zaire, ICSID Case No ARB/93/1, Award, 21/2/1997, para 6.05. [34] Alwyn V Freeman, ‘Responsibility of States for Unlawful Acts of their Armed Forces’ (1955) 88 Recueil des Cours, 277-278; Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 77. [35] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 77. [36] Cengiz İnşaat Sanayi ve Ticaret AŞ v Libya, ICC Case No 21537/ZF/AYZ, Award, para 409. [37][38] Pantechniki S.A. Contractors & Engineers (Greece) v. The Republic of Albania, ICSID Case No. ARB/07/21, Award, 30/7/2009, para 77. [39][53][60] Parkerings-Compagniet AS v Republic of Lithuania, ICSID Case No ARB/05/8, Award, 11/9/2007, paras 360, 361. [40][41][44][52][57] Eric De Brabandere, ‘Full Protection and Security’ in Rüdiger Wolfrum, Max Planck Encyclopedia of Public International Law (Oxford University Press), truy cập ngày 14/5/2026. [42] Riccardo Pisillo-Mazzeschi, ‘The Due Diligence Rule and the Nature of the International Responsibility of States’ (1992) 35 German Yearbook of International Law, 23 [43] JW and NL Swinney (USA) v United Mexican States (1926); D Guerrero vda de Falcón (United Mexican States v United States of America) (1926). [45][46] Cengiz İnşaat Sanayi ve Ticaret AŞ v Libya, ICC Case No 21537/ZF/AYZ, Award, para 435. [47] Zhongshan Fucheng Industrial Investment Co Ltd v Federal Republic of Nigeria, Award, 26/3/2021, para 128. [48] Zrilic J, The Protection of Foreign Investment in Times of Armed Conflict (Oxford University Press 2019), 98-101 [49][51] Saluka Investments BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 17/3/2006, para 490. [50] Biwater Gauff (Tanzania) Ltd v United Republic of Tanzania, ICSID Case No ARB/05/22, Award, 24/7/2008, para 731.[53] Newcombe A and Paradell L, Law and Practice of Investment Treaties: Standards of Treatment (Kluwer Law International 2009), para 6.47. [54] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 562. [55] Ampal-American Israel Corporation and others v Arab Republic of Egypt (ICSID Case No ARB/12/11, Decision on Liability and Heads of Loss, 21/2/2017) para 288. [56] El Paso Energy International Company v. The Argentine Republic, ICSID Case No. ARB/03/15, Award, 31/10/2011, para 523. [58] Metalclad Corporation v United Mexican States, ICSID Case No ARB(AF)/97/1, Award, IIC 161 (2000), para 99; Tecnicas Medioambientales Tecmed SA v United Mexican States, ICSID Case No ARB(AF)/00/2, Award, 29/3/2003, para 154. [61] Yannaca-Small K (ed), Arbitration Under International Investment Agreements: A Guide to the Key Issues (Oxford University Press 2010) 119 [62] Ronald S. Lauder v. The Czech Republic, UNCITRAL, Final Award, 3/9/2001, para 314. [63] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (Oxford University Press 2008); Saluka Investments BV v Czech Republic, UNCITRAL, PCA Case No 2001-04, Partial Award, 17/3/2006, paras 497-505. [64] 2012 US Model Bilateral Investment Treaty, Art 5(2)(a). [65] Lexology, 'Full Protection and Security' (Lexology, 19/5/2023) [67] Azurix v Argentina, para.408; Siemens v Argentina, para.303. [68][69] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Award, 27 June 1990, paras 1-20. [70][71] Agreement between the Government of the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and the Government of Sri Lanka for the Promotion and Protection of Investments, Art 2(2). [72] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (2nd edn, Oxford University Press 2012) 160-162

  • [79] KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY VIỆT NAM THỰC HIỆN QUYỀN BẦU CỬ LẦN ĐẦU TIÊN: QUYỀN BẦU CỬ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT VIỆT NAM

    Tác giả: Lê Thị Hiền Hạnh, Nguyễn Gia Bảo Linh, Nguyễn Nhật Nam Tóm tắt: Tay cầm lá phiếu, thẻ cử tri, Trọng trách trong ta, phải nghĩ gì? Lựa chọn tìm người, nên sáng suốt, Bầu ai tiến cử, phải nghĩ suy. (Đi Bầu cử - Đoàn Duy Hiển) Quyền bầu cử là một quyền con người cơ bản và phổ quát, định hình đời sống chính trị của phần lớn các quốc gia hiện nay. Tại Việt Nam, ngày 06/01/1946 đánh dấu cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, là một mốc son chói lọi mở ra một thời kỳ phát triển mới của dân tộc ta. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định vững chắc quyền làm chủ của nhân dân, từ thân phận nô lệ đứng lên giành độc lập, tổ chức ra Nhà nước của mình, với đầy đủ cơ sở pháp lý, và là Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Việt Nam thực hiện quyền bầu cử lần đầu tiên, bài viết phân tích quyền bầu cử dưới góc độ lý luận, lịch sử và pháp lý trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Từ khóa: quyền bầu cử, luật quốc tế, luật Việt Nam 1. Một số vấn đề chung về quyền bầu cử 1.1. Khái niệm về quyền bầu cử Quyền bầu cử (voting rights/right to vote, hay suffrage - xuất phát từ thuật ngữ “suffragium” trong tiếng Latin) được định nghĩa là quyền hoặc đặc quyền được thực hiện việc bỏ phiếu trong một cuộc bầu cử công, hay hành vi thực hiện việc bỏ phiếu (the act of voting).[1] Theo chú giải tiếng Việt của Ủy ban Hỗ trợ Bầu cử Hoa Kỳ (EAC), “quyền bầu cử” có nghĩa là “Quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử chính trị”.[2][3] Từ điển tiếng Việt không có định nghĩa cụ thể về “quyền bầu cử”, nhưng định nghĩa “quyền” là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”[4] và “bầu cử” là “bầu cơ quan đại biểu”.[5] Do vậy, có thể nói, bản chất của quyền bầu cử là quyền chính trị của công dân được tham gia lựa chọn người đại diện hoặc quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia thông qua bầu cử. Tại Việt Nam, quyền bầu cử thường được xem là quyền của công dân theo quy định của pháp luật thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm việc lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.[6] Quyền bầu cử được coi là một trong những quyền con người cơ bản, thể hiện mức độ tự do chính trị trong một quốc gia. Quyền bầu cử có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm dân chủ, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và hình thành bộ máy nhà nước hợp pháp, đại diện cho ý chí của xã hội.[7] Vì lý do trên, quyền bầu cử đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) của Liên Hợp Quốc, khi bất cứ cá nhân nào đều có quyền tự do lựa chọn chính quyền của quốc gia.[8] Về nội dung, quyền bầu cử có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng phần lớn là thông qua (i) bầu cử trực tiếp (direct election), tức công dân trực tiếp bỏ phiếu để chọn người đại diện của mình; (ii) bầu cử gián tiếp (indirect election), tức công dân bầu ra một cơ quan hoặc đại biểu, sau đó những người này tiếp tục bầu ra chức danh khác.[9] Ngoài ra, công dân cũng có thể thực hiện quyền bầu cử thông qua các cuộc trưng cầu ý dân (referendum), thường là về bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.[10] Về chủ thể, do quyền bầu cử thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị (civil and political rights), cá nhân khi tham gia bầu cử được hoàn toàn tự do tiếp cận thông tin bầu cử, lựa chọn ứng viên và bỏ phiếu mà không bị ép buộc hoặc cản trở. Một điều đáng lưu ý là dù quyền bầu cử mang tính tự do, đây không phải là sự tự do tuyệt đối. Nói cách khác, quyền bầu cử được xếp vào nhóm quyền có điều kiện (conditional rights), tức những quyền chỉ được áp dụng nếu thỏa mãn những yêu cầu nhất định.[11] Để thực hiện quyền bầu cử, pháp luật của mỗi quốc gia lại có một quy định khác nhau. Phần lớn các quốc gia hiện nay yêu cầu công dân có quyền bầu cử khi (i) đủ 18 tuổi, (ii) có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và (iii) không chấp hành hình phạt tù, không bị tước quyền bầu cử theo quy định của pháp luật.[12] 1.2. Lịch sử phát triển của quyền bầu cử 1.2.1 Thời kỳ cổ đại Trong lịch sử, quyền bầu cử đã được từng bước ghi nhận và mở rộng trong các hệ thống pháp luật, bắt nguồn từ thời kỳ cổ đại cho đến ngày nay. Quyền bầu cử lần đầu xuất hiện trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, bắt nguồn từ Nhà nước Athens trong suốt thời kỳ Cổ phong (Archaic period) vào khoảng thế kỷ VI TCN.[13] Khi đó, để thỏa mãn mong muốn cho một chế độ dân chủ trong một đơn vị lớn hơn một thành bang, việc công dân phải bầu ra các quan chức hàng đầu của chính quyền là điều cần thiết.[14] Dưới thời Solon[15], nhà thông thái này đã ban hành pháp lệnh về việc phân chia đẳng cấp và quyền lợi nghĩa vụ của mỗi đẳng cấp, theo đó, chính quyền giới hạn quyền bầu cử đối với những nam công dân có tài sản và của cải dựa trên đẳng cấp của họ.[16] Các công dân này sẽ tiến hành bầu cử chọn hội đồng 500 người (cơ quan hành chính) và hội đồng 10 tướng lĩnh (cơ quan lãnh đạo quân đội) trực tiếp điều hành đất nước.[17] Trong giai đoạn sau đó, dưới thời Pericles[18], quyền bầu cử của công dân Athens không có nhiều thay đổi. Dù được coi là “thời kỳ hoàng kim” khi lần đầu công dân có thể có những quyền lợi chính trị cơ bản như quyền ứng cử, bầu cử các chức quan của bộ máy nhà nước, thì phụ nữ, kiều dân và nô lệ vẫn hoàn toàn không có quyền bầu cử.[19] Dẫu vậy, đây là nhà nước cộng hòa dân chủ đầu tiên của nhân loại, đặt nền móng cho mô hình nhà nước mà ở đó có sự tham gia của công dân, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của các hệ thống bầu cử về sau.[20] Bản thân từ “democracy” (dân chủ) cũng xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “quyền lực của nhân dân”.[21] Thời kỳ La Mã cổ đại cũng chứng kiến sự hạn chế tương tự trong quyền bầu cử đối với công dân. Nó được thực hiện qua các hội đồng nhân dân thay vì bầu cử trực tiếp phổ thông như hiện đại.[22] Cụ thể, luật La Mã không công nhận mọi cá nhân đều được coi là chủ thể pháp luật. Một cá nhân muốn có quyền bầu cử phải đáp ứng ba tiêu chí chính: (i) cá nhân không phải là nô lệ (vì nô lệ bị coi là tài sản của chủ sở hữu), (ii) có địa vị đặc biệt (có tài sản, không phải người nước ngoài) và (iii) là người đứng đầu gia đình.[23] Tại La Mã nhìn chung chỉ có những nam “công dân tự do” mới có quyền tham gia vào các hoạt động chính trị, bao gồm bầu cử các quan chức và tranh cử các chức vụ chính trị trong hệ thống chính quyền.[24] 1.2.2 Thời kỳ cận đại Những thập kỉ đầu thế kỉ XVI ghi nhận sự suy yếu của chế độ phong kiến và sự hình thành của nhiều nhà nước tư sản trên thế giới.[25] Quyền bầu cử bắt đầu trải qua những sự thay đổi và phát triển nhất định nhưng chưa mang tính phổ thông, chủ yếu vẫn thuộc về các tầng lớp có tài sản và địa vị. Tại Hoa Kỳ, sau cách mạng năm 1776, Hiến pháp nước này không có quy định cụ thể về quyền bầu cử. Do vậy, các bang được trao thẩm quyền điều chỉnh các quy định pháp luật về bầu cử, và chỉ công dân là nam giới, da trắng sở hữu tài sản, có học vấn và thu nhập mới có quyền bầu cử.[26] Thậm chí, Hiến pháp của một số Bang còn ngăn cản quyền bầu cử của các cá nhân có liên quan đến tôn giáo.[27] Phải đến năm 1856, tiêu chí về tài sản của cá nhân đã được bãi bỏ ở tất cả các bang.[28] Từ sau nội chiến, các Tu chính án của Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc biệt là thứ 15 đã trao quyền bầu cử cho người da màu.[29] Yêu cầu về quyền bình đẳng chính trị cho phụ nữ bắt đầu xuất hiện từ năm 1848, gắn liền với các phong trào đòi quyền bầu cử phổ thông cho nữ giới đã diễn ra tại Pháp, khi việc loại trừ phụ nữ khỏi quyền bầu cử phổ thông do Chính phủ Lâm thời tuyên bố vào tháng 3 năm 1848 đã bị phản đối một cách mạnh mẽ.[30] Vào cuối thế kỉ XVIII, tư tưởng của nhà triết học Jean Jacques Rousseau đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách mạng Pháp, trong đó bao gồm việc người dân nên được hưởng quyền chính trị như nhau.[31] Cũng từ đây mà trong Hiến pháp 1791 của nước này quy định “công dân tích cực” có quyền được bầu cử.[32] Ở một số quốc gia khác, phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ (Suffragette) cũng được tiến hành rộng rãi trên thế giới. Lục địa châu Âu đã chứng kiến phong trào trong Đệ Nhị Quốc tế (Second International) phát triển mạnh mẽ.[33] Đặc biệt, tại Anh, đầu thế kỷ 20, phong trào dưới sự dẫn dắt của gia đình Pankhurst và tổ chức WSPU, bằng việc biện pháp đấu tranh trực tiếp như biểu tình, tuần hành và thậm chí là các hành động bất hợp pháp để gây áp lực.[34] Từ năm 1893, New Zealand trở thành quốc gia chủ quyền đầu tiên trên thế giới chính thức công nhận và trao quyền cho mọi phụ nữ được tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử nghị viện.[35] 1.2.3 Thời kỳ hiện đại Ngay sau khi thế chiến I khép lại, thế giới đã được chứng kiến sự ra đời của phổ thông đầu phiếu (universal suffrage), tức hầu hết công dân trưởng thành đều có quyền tham gia bầu cử và ứng cử, không phân biệt dân tộc, giới tính, tầng lớp xã hội, niềm tin, tôn giáo, trình độ văn hóa hoặc nghề nghiệp, hay còn gọi là hình thức dân chủ đại diện ngày nay.[36] Phần Lan là quốc gia đầu tiên ở Châu Âu trao quyền bầu cử đầy đủ cho phụ nữ vào năm 1906, tiếp sau đó là Đan Mạch (1915), Hà Lan (1919), Luxembourg (1919), …[37] Tại Anh, vào năm 1918, quyền bầu cử được trao cho phụ nữ là chủ hộ hoặc vợ của chủ hộ trên 30 tuổi.[38] Quốc gia này cũng chính thức cho phép tất cả phụ nữ từ 21 tuổi trở lên được tham gia bầu cử với quyền và điều kiện ngang bằng với nam giới sau khi ban hành Đạo luật Đại diện Nhân dân (Quyền bầu cử bình đẳng) (Representation of the People (Equal Franchise) Act 1928).[39] Mặt khác, tại Hoa Kỳ, sau nhiều thập kỷ vận động tại cấp bang, Tu chính án thứ 19 được phê chuẩn vào năm 1920 đã cấm việc từ chối quyền bầu cử dựa trên giới tính. Sự ra đời của Đạo luật Quyền bầu cử (1965 Voting Rights Act) cũng là một bước ngoặt trong pháp luật Hoa Kỳ khi đã xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt chủng tộc trong quyền bầu cử với mục đích tăng số lượng cử tri được đăng ký tham gia bầu cử.[40] Trên thế giới hiện tại, 188 trên 193 thành viên Liên Hợp Quốc sử dụng hình thức bầu cử phổ thông đầu phiếu.[41] Ngoài ra, quyền bầu cử và tổ chức bầu cử bằng bỏ phiếu kín (secret ballot) cũng đã được ghi nhận trong nhiều điều ước và thỏa thuận quốc tế.[42] 2. Quyền bầu cử trong luật quốc tế 2.1. Nguồn của quyền bầu cử Việc ghi nhận quyền bầu cử như một quyền độc lập hiện nay được xem là chuẩn mực quốc tế trong các hiến pháp dân chủ. Phần lớn các hiến pháp của các quốc gia dân chủ trên thế giới đều có điều khoản quy định quyền của công dân được lựa chọn người đại diện của mình ở tất cả các cấp chính quyền.[43] Trên bình diện quốc tế, quyền bầu cử lần đầu được ghi nhận tại Điều 21 của Tuyên ngôn Nhân quyền (UDHR). Theo đó, quyền bầu cử là nền tảng quan trọng nhằm phản ánh ý chí tự do của người dân trong một quốc gia, qua đó thể hiện cơ sở hình thành quyền lực của nhà nước.[44] Đây là một quyền cơ bản của con người, thuộc thế hệ quyền con người thứ nhất - các quyền dân sự và chính trị, sau này được pháp điển hóa tại Điều 25 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử và không bị hạn chế một cách vô lý, mỗi người đều có quyền được tham gia bầu cử trong những cuộc bầu cử chân thực và định kỳ, được tiến hành theo hình thức bỏ phiếu kín và nguyên tắc phổ thông đầu phiếu nhằm đảm bảo toàn vẹn ý chí tự do của cử tri.[45] Quy định về quyền bầu cử của người dân tại Điều 25 của ICCPR đã nhấn mạnh quyền cá nhân của mỗi công dân trong việc tham gia vào quá trình hình thành và quản lý các công việc công của nhà nước và làm phát sinh cơ chế khiếu nại sai sót theo Nghị định thư Tùy chọn thứ nhất.[46] 2.2. Nội dung của quyền bầu cử theo luật quốc tế Điều 21(b) ICCPR quy định: “Mọi công dân đều có quyền và cơ hội, không có bất kỳ sự phân biệt nào được nêu tại Điều 2 và không phải chịu những hạn chế vô lý: (b) Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ, chân thực, được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, bằng hình thức bỏ phiếu kín, bảo đảm thể hiện tự do ý chí của cử tri”. Theo đó, có thể xác định hai yếu tố đặc trưng của quyền bầu cử theo quy chuẩn quốc tế là (i) không có sự phân biệt đối xử và (ii) không phải chịu những hạn chế vô lý. 2.2.1. Quy chuẩn “không có sự phân biệt đối xử” Điều 21(b) ICCPR nhấn mạnh đối tượng hưởng quyền là “mọi công dân” (“every citizen”). Theo Nghị quyết 37/146 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, việc người dân tham gia vào hệ thống chính trị dựa trên nguyên tắc bình đẳng và căn cứ vào những quyền công dân chung là yếu tố cốt lõi nhằm đảm bảo cuộc bầu cử được diễn ra một cách thực chất và đảm bảo tính dân chủ.[47] Theo đó, việc từ chối hoặc hạn chế quyền bầu cử một cách có hệ thống dựa trên chủng tộc, màu da hoặc đặc điểm của các nhóm đối tượng thiểu số là sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người, xúc phạm đến lương tri và phẩm giá của họ, cũng như không phản ánh đúng yếu tố “ý chí của người dân”.[48] Theo tiến trình lịch sử và sự phát triển của xã hội, quy chuẩn “không phân biệt đối xử” không chỉ dừng lại ở đặc tính chủng tộc mà còn mở rộng và nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Đến hiện tại, quy chuẩn này bao trùm lên đa số các đặc tính trong xã hội, nhấn mạnh sự phổ quát và sự bình đẳng. Cụ thể, Bình luận chung số 25 của Hội đồng Nhân quyền (HRC) khẳng định: “Không có công dân nào bị tước đoạt quyền bầu cử dựa trên màu da, tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, quan điểm chính trị, khối lượng tài sản hay trình độ học vấn.”[49] Bên cạnh việc xác định các nhóm đặc tính xã hội không được phép phân biệt đối xử, quy chuẩn này còn tạo ra một số tranh luận liên quan đến vấn đề quốc tịch. Về mặt bản chất, để có thể tham gia vào đời sống chính trị của một quốc gia có chủ quyền, yếu tố quốc tịch là yếu tố đầu tiên được xem xét.[50] Vì thế tính tương thích của nhóm người nhập tịch với đối tượng của Điều 25 trở thành vấn đề cần phải xem xét. Điều này đòi hỏi các quốc gia phải nêu rõ trong báo cáo quốc gia chỉ rõ mức độ hạn chế được hưởng quyền bầu cử của nhóm người này, cũng như các nhóm người cư trú lâu dài tại địa phương nếu có.[51] 2.2.2. Quy chuẩn “không phải chịu những hạn chế vô lý” Căn cứ vào quy tắc giải thích điều ước quốc tế theo Điều 31 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế 1969, có thể hiểu rằng quyền bầu cử không phải là quyền tuyệt đối dựa vào cụm từ “không phải chịu những hạn chế vô lý” (“without unreasonable restrictions”) trong Điều 25. Điều này cũng có nghĩa các quốc gia có thể có những giới hạn khác nhau trong việc thực hiện quyền bầu cử của người dân, miễn những giới hạn đó khách quan và hợp lý.[52] Tuy nhiên, định nghĩa của “khách quan” và “hợp lý” lại bị để ngỏ, cho phép các quốc gia có những cách giải thích khác nhau. Cũng vì lý do đó, mỗi một quốc gia lại có những giới hạn khác nhau đối với đối tượng được hưởng quyền bầu cử. Ngoài những yếu tố thường thấy như quốc tịch hay độ tuổi, phần lớn các quốc gia đều giới hạn quyền bầu cử đối với những người chưa đủ năng lực hành vi hoặc đang phải chấp hành án phạt tù.[53] Nhìn chung, có thể chia sự giới hạn này thành ba nhóm chính: (i) giới hạn dựa trên tư cách chính trị, (ii) giới hạn dựa trên năng lực hành vi hoặc khả năng tự chủ và (iii) giới hạn như một biện pháp trừng phạt. (i) Giới hạn dựa trên tư cách chính trị Như đã trình bày phía trên, khi nhắc đến tư cách chính trị, quốc tịch là yếu tố đầu tiên được xem xét. Theo dòng lịch sử, khi sự toàn cầu hóa càng được đẩy mạnh, khái niệm quốc tịch càng được mở rộng ở cấp độ khu vực.[54] Tại Liên minh Châu Âu, Hiệp ước Maastricht và Công ước năm 1992 của Hội đồng Châu Âu đã trao quyền tham gia vào các hoạt động công, mở rộng quyền bầu cử và ứng cử đối với các công dân nước ngoài tại địa phương mà họ cư trú.[55] Ngoài yếu tố quốc tịch, vấn đề nơi cư trú cũng được xem xét kĩ lưỡng. Theo đó, Ủy ban Nhân quyền Châu Âu đã từng chấp thuận yêu cầu về nơi cư trú như một giới hạn của quyền bầu cử do lo ngại sự thiếu gắn bó lâu dài với các vấn đề chính trị trong nước cũng như khó khăn trong việc truyền tải thông tin bầu cử và hình thức bầu cử qua thư của công dân cư trú ở nước ngoài sẽ làm gia tăng tình trạng gian lận trong bầu cử.[56] Tuy nhiên, vấn đề quan điểm chính trị không thể được xem là một căn cứ để có quyền bầu cử hoặc loại trừ quyền bầu cử của ai đó.[57] Trong vụ việc Silva và những người khác kiện Uruguay, Uruguay đã tước quyền bầu cử của những người từng tranh cử dưới tư cách của một đảng phái chính trị bất hợp pháp.[58] Ủy ban Nhân quyền sau đó đã bác bỏ lập luận của Uruguay và cho rằng quy định này là không phù hợp.[59] (ii) Giới hạn dựa vào năng lực hành vi và khả năng tự chủ Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều có quy định về độ tuổi được tham gia bầu cử, cũng như đối tượng được tham gia bầu cử dựa vào khả năng làm chủ hành vi của họ. Nếu như đa số các quốc gia trên thế giới đều chọn tuổi 18 là độ tuổi bầu cử tiêu chuẩn,[60] thì các giới hạn dựa vào khả năng làm chủ hành vi của chủ thể của từng quốc gia lại có phần khác nhau. Có thể xem xét ví dụ như Hiến pháp Thái Lan quy định rằng người mất trí hoặc có khiếm khuyết về năng lực tâm thần sẽ không được tham gia bầu cử.[61] Mặt khác, cùng là nhóm đối tượng có khiếm khuyết về tâm trí, các tòa án ở Canada đã khẳng định rằng họ vẫn có quyền bầu cử như người bình thường.[62] (iii) Giới hạn như một biện pháp trừng phạt Cũng tương tự như giới hạn dựa vào năng lực tự chủ của chủ thể, các quốc gia có quy định tương đối khác nhau về giới hạn quyền bầu cử như một biện pháp trừng phạt. Trong khi Thái Lan không cho phép người đang bị bắt giữ theo lệnh của tòa án được tham gia bầu cử,[63] thì Tòa án tối cao Canada lại cho rằng việc loại trừ tù nhân ra khỏi đối tượng được hưởng quyền bầu cử là quá rộng và không phù hợp với tính tương xứng.[64] Nhìn chung, những hạn chế khác nhau như vậy vẫn được chấp nhận theo quy chuẩn quốc tế, miễn những giới hạn được đặt ra không phải là công cụ nhằm tước đoạt quyền được bầu cử của một bộ phận dân số vì những mục đích phân biệt đối xử, gian lận hoặc mục đích chính trị xấu khác. 2.3. Nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm bảo quyền bầu cử của công dân Về bản chất, quyền bầu cử là một trong số những quyền cơ bản của con người, vậy nên để đảm bảo quyền này được thực hiện theo những quy chuẩn đã nêu ở trên, Ủy ban Nhân quyền đã chỉ ra một số nghĩa vụ của các quốc gia trong Bình luận chung số 25. Thứ nhất, nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp quyền, các quy định về bầu cử phải được ghi rõ trong hiến pháp và các luật liên quan.[65] Trong trường hợp quốc gia có áp dụng các quy định về nơi cư trú, cần đảm bảo rằng quy định đó không loại trừ quyền bầu cử của những người vô gia cư.[66] Thứ hai, trong trường hợp có quy định về đăng ký cử tri, quá trình đăng ký cần phải được tạo điều kiện thuận lợi và không được đặt ra những trở ngại không cần thiết.[67] Mọi hành vi lạm dụng hoặc can thiệp vào quá trình đăng ký và bỏ phiếu, hay cưỡng ép cử tri cần phải bị cấm và được xử lý theo luật hình sự.[68] Thứ ba, cần phải có những biện pháp nhằm thực hiện tốt việc giáo dục cử tri, nhằm đảm bảo cử tri có đầy đủ thông tin và thực hiện được hết quyền của mình.[69] Cần phải đảm bảo rằng các thông tin liên quan đến cuộc bầu cử phải được truyền tải tới nhóm thiểu số bằng ngôn ngữ của họ bằng những phương thức cụ thể như hình ảnh hoặc ký hiệu, cho phép những người không biết chứ cũng có khả năng thực hiện quyền.[70] Thứ tư, cần đảm bảo quyền tự do hội họp và tự do ngôn luận của người dân để đảm bảo quyền bầu cử được thực hiện hiệu quả.[71] Thứ năm, các quốc gia cần có những biện pháp tích cực nhằm khắc phục những khó khăn cụ thể của người dân, như tình trạng mù chữ hay khó khăn về việc di chuyển, vốn có thể cản trở người dân thực hiện quyền hiệu quả.[72] 3. Quyền bầu cử trong pháp luật Việt Nam 3.1. Hiến pháp 1946 Trước khi quyền bầu cử được hiến định trong Hiến pháp năm 1946, quá trình hình thành thiết chế đại diện của nhân dân ở Việt Nam được đặt nền tảng từ Đại hội đại biểu Quốc dân (còn gọi là “Quốc dân Đại hội Tân Trào”) năm 1945. Đại hội này đã mang tính đại diện đa thành phần xã hội, góp phần thông qua các chính sách nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách của dân tộc. [73] Thành phần tham dự Quốc dân Đại hội Tân trào có hơn 60 đại biểu đến từ ba miền Bắc - Trung - Nam; đại diện cho các ngành, các giới, tôn giáo, dân tộc, đoàn thể; đại biểu các đảng phái chính trị.[74] Tuy nhiên, cơ chế hình thành tính đại diện tại đây chủ yếu dựa trên việc cử đại biểu từ các tổ chức và địa phương, chưa được thiết lập thông qua một cuộc bầu cử phổ thông của toàn thể công dân. Từ giới hạn đó, việc thiết lập cơ chế bầu cử theo nguyên tắc phổ thông trở thành yêu cầu tất yếu. Ở góc độ lịch sử, Quốc dân Đại hội Tân Trào vẫn có ý nghĩa như một tiền đề chính trị - lịch sử quan trọng, thường được coi là đặt nền tảng cho sự hình thành của Quốc hội Việt Nam. [75] Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 06/01/1946 được tiến hành theo chế độ phổ thông đầu phiếu nhằm thành lập cơ quan đại diện của nhân dân.[76] Trên cơ sở kết quả Tổng tuyển cử, Quốc hội khoá I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 09/11/1946.[77] Việc thông qua Hiến pháp này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc xác lập chủ quyền quốc gia, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.[78] Trên nền tảng đó, Hiến pháp 1946 lần đầu tiên hiến định quyền bầu cử như một quyền dân sự và chính trị cơ bản của công dân. Theo Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền[...] Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử.”.[79] Quy định này xác lập quyền bầu cử phổ thông đối với công dân từ đủ 18 tuổi trở lên, nhấn mạnh bình đẳng giới, đồng thời thừa nhận quyền bầu cử của công dân tại ngũ.[80] Bên cạnh đó, Hiến pháp đặt ra một số giới hạn đối với trường hợp mất trí và những người mất công quyền.[81] Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 chủ yếu ghi nhận quyền bầu cử ở phương diện chủ thể, chưa hiến định một cách hệ thống các nguyên tắc bầu cử, các nguyên tắc đó được thể hiện chủ yếu trong các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử năm 1945-1946.[82] Cụ thể, Sắc lệnh 14-SL ngày 08/9/1945 về mở cuộc Tổng tuyển cử được ban hành; Sắc lệnh 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; Sắc lệnh số 71-SL ngày 2/12/1945 bổ khuyết Điều 11 Chương V của Sắc lệnh số 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử và Sắc lệnh số 76-SL ngày 18/12/1945 về việc ấn định lại ngày Tổng tuyển cử và hạn nộp đơn ứng cử.[83] Việc các quy định về bầu cử được ghi nhận trong nhiều sắc lệnh riêng lẻ cho thấy pháp luật bầu cử ở giai đoạn này còn mang tính phân tán, chưa được pháp điển hoá thành một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất. Như vậy, Hiến pháp năm 1946 đã đặt nền tảng hiến định ban đầu cho quyền bầu cử trong pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để quyền này tiếp tục được kế thừa, phát triển và hoàn thiện trong các bản Hiến pháp và pháp luật bầu cử tiếp theo. 3.2. Hiến pháp 2013 Từ nền tảng hiến định ban đầu tại Hiến pháp năm 1946, quyền bầu cử tiếp tục được kế thừa và phát triển trong các bản Hiến pháp sau này nhằm phù hợp với điều kiện chính trị - xã hội từng thời kỳ. Hiến pháp 2013 thể hiện bước chuẩn hóa quan trọng về quyền bầu cử. Về nguyên tắc, Điều 7 quy định các nguyên tắc bầu cử bao gồm nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.[84] Việc hiến định trực tiếp các nguyên tắc này tạo ra chuẩn mực có giá trị hiến định để định hướng và đánh giá tính dân chủ, hợp pháp của hoạt động bầu cử. Về chủ thể và điều kiện tham gia, Điều 27 Hiến pháp 2013 tiếp tục xác lập quyền bầu cử quy định “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”[85]. Điểm đáng chú ý, Hiến pháp quy định “việc thực hiện các quyền này do luật định” thể hiện lập hiến theo hướng quy định khung, tạo cơ sở cho các luật ngành cụ thể hoá các điều kiện, trình tự và cơ chế bảo đảm quyền thực thi quyền bầu cử. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền và tiệm cận quan điểm bảo vệ quyền con người theo pháp luật quốc tế, theo đó mọi giới hạn hoặc điều kiện quyền cần được xác lập bằng luật và áp dụng trên cơ sở bình đẳng.[86] Có thể khái quát rằng, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, quyền bầu cử trong pháp luật Việt Nam đã được kế thừa và phát triển theo hướng chuẩn hóa và tăng cường đảm bảo thực thi. Nếu như Hiến pháp 1946 đặt nền tảng bằng việc hiến định quyền bầu cử như một quyền dân sự và chính trị cơ bản của công dân, thì Hiến pháp 2013 tiếp tục hoàn thiện khi hiến định các nguyên tắc bầu cử và quy định cơ chế “do luật định” nhằm tạo điều kiện cho luật chuyên ngành cụ thể hoá điều kiện, trình tự. Sự phát triển này không chỉ thể hiện việc thực quyền bầu cử là phương thức để thực hiện quyền lực nhân trong trong tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước mà còn phản ánh quá trình mở rộng, hoàn thiện dân chủ theo từng giai đoạn lịch sử.[87]. Trên cơ sở đó, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 cụ thể hóa điều kiện, thủ tục và cơ chế thực hiện quyền bầu cử trong thực tiễn. 3.3. Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân Do Hiến pháp có tính khái quát, Hiến pháp năm 2013 chỉ xác lập những quy định khuôn khổ về quyền bầu cử.[88] Trên cơ sở đó, Quốc hội ban hành Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân nhằm quy định thống nhất về nguyên tắc, trình tự, thủ tục bầu cử; chủ thể tham gia bầu cử. Điều này thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc tham gia xây dựng bộ máy nhà nước các cấp. Về nguyên tắc bầu cử, Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân tiếp tục nhấn mạnh bốn nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử tại Điều 7 Hiến pháp 2013.[89] Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Về chủ thể và điều kiện chủ thể tham gia bầu cử, Điều 2 Luật này quy định “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.” Quy định này làm rõ điều kiện thực hiện quyền bầu cử và quyền ứng cử, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, tại Điều 30 quy định rõ các trường hợp không được ghi tên, xoá tên, hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri. Cụ thể, bao gồm (i) Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; (ii) Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án; (iii) Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, (iv) Người mất năng lực hành vi dân sự”.[90] Ngoài ra, Luật dự liệu việc bổ sung tên vào danh sách cử tri nếu trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử đối với những đối tượng được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự.[91] Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền bầu cử của công dân, đồng thời vẫn duy trì các giới hạn cần thiết nhằm bảo đảm tính hợp pháp và trật tự của cuộc bầu cử. Bên cạnh việc cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 còn thể hiện sự thể chế hoá các quan điểm của Đảng được ghi nhận trong Cương lĩnh dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đặc biệt ở các nội dung về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.[92] Việc pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bầu cử, chủ thể thực hiện quyền bầu cử và các cơ chế bảo đảm thực thi quyền cho thấy dân chủ không chỉ được khẳng định ở phương diện chính trị mà còn được thể chế hóa bằng pháp luật. Kết luận: Như vậy, quyền bầu cử là một trong những quyền dân sự và chính trị cơ bản của công dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và là nền tảng của chế độ dân chủ. Trong luật quốc tế, quyền này được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng, tiêu biểu như Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, với các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Tại Việt Nam, quyền bầu cử đã được khẳng định từ cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 và được hiến định, hoàn thiện qua các bản Hiến pháp cũng như Luật Bầu cử hiện hành. Qua 80 năm hình thành và phát triển tại Việt Nam, việc bảo đảm thực hiện quyền bầu cử không chỉ khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân ta mà còn góp phần củng cố nền tảng pháp lý và thực tiễn của nền dân chủ ở Việt Nam. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary (8th edn, Thomas West 2004) 4496; [2] U.S. Election Assistance Commission, Glossary of Election Terminology - Vietnamese (2021) 132; [3] Lưu ý chú giải này chỉ được sử dụng để giải thích các thuật ngữ liên quan đến các cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ. [4] [5] Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt (NXB Hồng Đức 2021) 1031, 165; [6] Chinhphu.vn, ‘Tại sao nói bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân?’ (Báo điện tử Chính phủ xây dựng chính sách pháp luật) truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026; [7] Socialists & Democrats, ‘Why Voting Matters’ truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026; [9] Jagriti Thakur, ‘Electoral System’ (2018) 2 IJLMH 1. truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [10] Cornell Law School, ‘referendum’ truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [11] Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2011) 68; [12] USA Government, ‘Who can and cannot vote’ truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; Xem thêm : Vietnamnet, ‘Who is eligible to vote?’ truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [13] [19] [20] Đặng Văn Chương, ‘Quá trình hoàn thiện chính thể cộng hòa dân chủ ở thị quốc Athens (Hy Lạp) qua các cuộc cải cách (thế kỷ VI-V trước công nguyên)’ (2012) 10(145) European Studies Review 64; [14] Nguyễn Đăng Dung, ‘Vai trò của bầu cử’ (2018) 34 Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học 1; [15] Solon (638-558 TCN) là một nhà buôn, chính khách, được biết đến là một trong bảy nhà thông thái nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại; [16] Thomas R Martin, Ancient Greece: From Prehistoric to Hellenistic Times (2nd edn, Yale University Press 2013) 77; [17] [25] [31] Vũ Dương Ninh, Lịch sử Văn minh Thế giới (NXB Giáo dục Việt Nam 2010) 285, 384, 396; [18] Pericles (495 – 429 TCN) là một tướng lĩnh tài ba, người sáng lập đế quốc Athens và được coi là người “mở rộng” nền dân chủ Athens; [21] National Geographic Society, ‘Democracy (Ancient Greece)’, truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [22] ‘Cơ quan quyền lực nhất La Mã cổ đại’ (Tạp chí Tri thức Znews) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026, trích dẫn từ Philip Freeman, Julius Ceasar (NXB Dân Trí 2023); [23] ‘Government: Civic Duty of Ancient Roman Citizens’ truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [24] Guy de la Bedoyere, ‘The Romans (Người La Mã- Phần 1) (Trần Quang Nghĩa dịch)’ (Nghiên cứu lịch sử) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [26] Phillip Kayser, Universal Suffrage : A History and Analysis of Voting in the Church and Society (Biblical Blueprints 2007) 2; [27] Hiến pháp bang Delaware năm 1792, Điều I, Mục 2; Hiến pháp bang Georgia năm 1777, Điều VI; Hiến pháp bang South Carolina năm 1778, Điều XII.; [28] [29] University of North Texas, ‘A Brief History of Voting in America’ truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [30] [33] [34] [38] Ellen Carol DuBois, Woman Suffrage and Women’s Rights (New York University Press 1998) 254, 258-259, 265, 270; [32] Hiến pháp Pháp năm 1791, Phần III, Mục 2; [35] ‘Women and the vote’ (New Zealand History) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [36] Chinhphu.vn, ‘Nguyên tắc phổ thông và bình đẳng trong bầu cử’ (Báo điện tử Chính phủ xây dựng chính sách pháp luật) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [37] Ruth Rubio-Marín, The achievement of female suffrage in Europe: on women’s citizenship (Oxford University Press 2014); [39] Stearns, Peter N, ‘The Oxford encyclopedia of the modern world’ (2008) 7 Oxford University Press 160; [40] ‘Voting Rights Act (1965)’ (National Archives) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [41] ‘Universal right to vote’ (Our World in Data) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [42] UDHR, điều 21 khoản 3; Công ước về các tiêu chuẩn của bầu cử dân chủ, quyền bầu cử và các quyền tự do trong các quốc gia thành viên của Cộng đồng các Quốc gia Độc lập, điều 5; [43] [53] Alexander Kirshner, ‘The International Status of the Right to Vote’, (Democracy Coalition Project); [8] [44] UDHR, Điều 21; [45] ICCPR, Điều 25(b); [46] Ủy ban Nhân quyền (HRC), Bình luận chung số 25, đoạn 2; [47] [48] Đại hội đồng Liên hợp quốc, Nghị quyết 37/146; [49] [51] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 3; [50] [54] [56] Guy S. Goodwin-Gill, Free and Fair Elections, (Liên minh Nghị viện Thế giới, 2006), tr. 126; [52] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 4; [55] Hiệp định Maastricht, Chương 1, Điều F; Phần 2 (Tư cách công dân Liên minh), Điều 8, 8b. Hội đồng Châu Âu, 1992 Công ước về Sự tham gia của Người nước ngoài vào Đời sống Công cộng ở Cấp chính quyền Địa phương, Điều 3, Điều 6, Điều 9(2) và 9(3); [57] [65] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 10; [58] [59] Guy S. Goodwin-Gill, Free and Fair Elections, (Liên minh Nghị viện Thế giới, 2006), tr. 128; [60] Liên minh Nghị viện Thế giới, ‘Hệ thống Bầu cử’; [61] [63] Điều 110, Hiến pháp Thái Lan; [62] Guy S. Goodwin-Gill, Free and Fair Elections, (Liên minh Nghị viện Thế giới, 2006), tr. 127; [64] Sauvé v. Canada (Attorney General) [1993] 2 SCR 438; [66] [67] [68] [69] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 11; [70] [71] [72] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 12; [73] Nguyễn Danh Tiên, ‘Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Quốc dân Đại hội Tân Trào’ (Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh uỷ Hà Giang, 28 tháng 5 năm 2025) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [74] Nguyễn Quang Hòa, Đinh Đức Huy, ‘Quốc dân Đại hội Tân Trào - ý nghĩa và giá trị lịch sử’ (Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, 25 tháng 8 2025) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [75] Văn phòng Quốc hội, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Đề cương Tuyên truyền kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946-06/01/2026); [76] [82] Hảo Thi - Văn Toản, ‘Chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam qua các giai đoạn’ Báo Nhân dân (Ha Noi, 27 tháng 1 năm 2026) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [77] Thái Bình, ‘Hoàn cảnh ra đời của các bản Hiến pháp Việt Nam’, (9 tháng 11 năm 2017) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [78] Thông tấn xã Việt Nam, ‘Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ’ Báo điện tử Chính phủ xây dựng chính sách pháp luật , truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [79] [80] [81] [83]Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946, Điều 18; [84] Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam, Điều 7; [85] Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam, Điều 27; [86] [87] Hoàng Ánh, ‘Quyền bầu cử trong các bản Hiến pháp Việt Nam’ (UBND Tỉnh Thái Nguyên - Sở Tư pháp, 20 tháng 10 năm 2025) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [88] Trương Hồng Quang, ‘Nhận thức về Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam’ (Tạp chí Dân chủ & Pháp luật) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [89] Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân, Điều 1; [90] [91] Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân, Điều 30; [92] Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), phần IV.

  • [84] CHUYÊN MỤC ĐẶC BIỆT: QUYỀN ĐƯỢC LAO ĐỘNG TRONG ĐIỀU KIỆN THÍCH HỢP VÀ THỎA ĐÁNG: QUY ĐỊNH TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ TƯƠNG QUAN VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM

    Phùng Đăng Khôi Nguyễn Nhật Nam Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế, quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng là quyền lợi cơ bản và phổ quát của người lao động. Trên cơ sở các điều ước quốc tế về nhân quyền, lao động và các văn bản pháp luật Việt Nam về lao động, điển hình là Bộ luật Lao động 2019, bài viết phân tích các khía cạnh về bình đẳng giới, thù lao tối thiểu, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và môi trường làm việc không có bạo lực trong lao động. Bài viết này cũng là bài viết kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động 01/05, nhằm góp phần nâng cao nhận thức về quyền của người lao động trong bối cảnh hiện nay. Từ khóa: Quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng; Luật Lao động; người lao động; bình đẳng. 1. Tổng quan về sự phát triển của quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thoả đáng 1.1. Sự phát triển của quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thoả đáng trong luật quốc tế Thế kỷ XVIII chứng kiến sự chuyển biến từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất công nghiệp quy mô lớn. Tuy nhiên, người lao động trong thời kỳ này phải làm việc trong điều kiện tồi tàn, độc hại [1] từ 12 đến 16 giờ/ngày và không có ngày nghỉ.[2] Ngày 01/5/1886, công nhân thành phố Chicago đã bãi công với khẩu hiệu "Ngày làm việc 8 giờ". Trong Đại hội thành lập Quốc tế thứ II, các đại biểu của giai cấp công nhân đã lấy ngày 01/5 hàng năm làm ngày đoàn kết đấu tranh của công nhân lao động toàn cầu.[3] Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất kết thúc, Tổ chức Lao động Quốc tế ("ILO") được thành lập theo Điều 387 đến Điều 426 của Hiệp ước Versailles.[4] Hiến chương ILO năm 1919 khẳng định mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia trong phát triển điều kiện lao động.[5] Trong thập niên 1920, ILO đã thiết lập nhiều tiêu chuẩn quốc tế liên quan chất lượng môi trường công việc. Tuy nhiên, những tiến bộ đạt nhanh chóng bị phá vỡ bởi cuộc Đại suy thoái bùng nổ từ năm 1929.[6] Nền tảng của quy định luật quốc tế về quyền lao động trong điều kiện thích hợp và thoả đáng sau Chiến tranh thế giới thứ Hai bao gồm Tuyên bố Philadelphia, Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền ("UDHR") và Công ước quốc tế các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá năm 1966 ("ICESCR"). Tuyên bố Philadelphia được thông qua vào năm 1944 khi Chiến tranh thế giới thứ Hai bước vào hồi kết thúc, là hình mẫu cho Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền,[7] khẳng định quyền của mỗi cá nhân được theo đuổi sự thịnh vượng về vật chất và phát triển đời sống tinh thần trong các điều kiện bảo đảm tự do và phẩm giá.[8] Năm 1948, UDHR được thông qua khẳng định mọi người có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc thích hợp và thỏa đáng và được bảo hộ chống thất nghiệp.[9] Điều 7 ICESCR đã quy định về quyền làm việc trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng. Theo đó, người lao động phải được (i) bảo đảm thù lao tối thiểu đủ để nuôi sống bản thân họ và gia đình, với mức lương bằng nhau cho khối lượng công việc như nhau, lao động nữ được hưởng điều kiện làm việc tương ứng với lao động nam; (ii) điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; (iii) mọi người có cơ hội ngang nhau được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; (iv) thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi hợp lý và ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ.[10] Trong bối cảnh hiện đại, điều kiện về thù lao bình đẳng còn được mở rộng, bao hàm việc bình đẳng không phân biệt màu da, sắc tộc, quốc tịch, tình trạng nhập cư, sức khoẻ, tuổi tác và, xu hướng tính dục.[11] Đồng thời, Tuyên bố ILO về các Nguyên tắc cơ bản và các Quyền tại Nơi làm việc 1998 (sửa đổi, bổ sung 2022) đã liệt kê môi trường làm việc an toàn và khoẻ mạnh là một trong những nguyên tắc cơ bản.[12] 1.2. Lịch sử pháp luật lao động Việt Nam và nhu cầu hội nhập quốc tế Năm 1947, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do ("Sắc lệnh"), quy định tương đối toàn diện và tiên tiến về các vấn đề lao động.[13] Theo đó, liên quan tiền công tối thiểu “bất luận trường hợp nào không được trả lương công nhân ít hơn lương tối thiểu này”,[14] thời gian làm việc “thời hạn làm việc của công nhân [...] không được quá 48 giờ một tuần lễ”;[15] thời giờ nghỉ ngơi “mỗi tuần lễ công nhân phải được nghỉ 24 giờ liền”[16]; điều kiện làm việc bảo đảm an toàn “Các máy móc và dụng cụ phải xếp đặt và giữ gìn thế nào cho hợp sự bảo an”.[17] Trên cơ sở kế thừa tinh thần Sắc lệnh, Bộ luật Lao động 1994 được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới, tiếp đó là Bộ luật Lao động 2012 được ban hành[18] trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế và các Công ước của ILO.[19] Bộ luật Lao động 2019 được ban hành với mục đích đáp ứng cam kết theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).[20] Tính đến năm 2023, Việt Nam đã phê chuẩn 9 trên tổng số 10 công ước cơ bản của ILO, ngoại trừ Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức.[21] Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả sẽ tập trung phân tích các yếu tố về quyền lao động trong điều kiện thuận lợi và thoả đáng theo nguyên tắc với tự do và nhân phẩm theo đuổi sự tiến bộ về vật chất, phát triển tinh thần và Điều 7 ICESCR theo quy định của pháp luật Việt Nam và đối chiếu tương quan với các quy định tương ứng của các Công ước ILO, lần lượt là (3) Về Bình đẳng giới và Môi trường làm việc không có bạo lực và quấy rối tình dục; (4) Về Thù lao tối thiểu, công bằng, thù lao bình đẳng cho công việc có giá trị ngang nhau; (5) Về Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; và (6) Về An toàn và Vệ sinh lao động. 3. Nhóm quyền về bình đẳng giới trong lao động và môi trường làm việc không có bạo lực và quấy rối tình dục Công ước ILO số 111 năm 1958 về về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp khẳng định thành viên Công ước có nghĩa vụ theo đuổi chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy bình đẳng về cơ hội và chấm dứt phân biệt đối xử về giới tính trong công việc.[22] Đồng thời, Công ước số 156 năm 1981 về bình đẳng cơ hội và đối xử với lao động nam và nữ: trách nhiệm gia đình đã mở rộng yêu cầu về đối xử bình đẳng cho những người có trách nhiệm gia đình.[23] Luật Bình đẳng giới 2006 cũng có cách tiếp cận tương tự với Công ước ILO số 111 và số 156 - khẳng định trong lĩnh vực lao động, nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc, khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.[24] Trong văn bản chuyên ngành về pháp luật lao động, từ Bộ luật Lao động 1994 cho đến nay, bình đẳng giới trong lao động đã được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm[25], theo đó mọi người có quyền không bị phân biệt đối xử về giới tính[26] và người sử dụng lao động bị nghiêm cấm có hành vi phân biệt đối xử với người lao động nữ.[27] Quy định của Bộ luật Lao động 2019 ngoài kế thừa những quy định của Bộ luật Lao động 1994 và 2012, đã có sự mở rộng và bao quát toàn diện hơn các vấn đề về bình đẳng giới, đặc biệt là trong vấn đề quấy rối tình dục.[28] Trong xu thế hội nhập và phát triển bền vững, việc xây dựng một môi trường làm việc an toàn, văn minh, bảo đảm môi trường làm việc không bạo lực và quấy rối tình dục là mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia. Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối liên quan đến việc nghiêm cấm bạo lực và quấy rối trong môi trường làm việc (“Công ước ILO số 190”) yêu cầu quốc gia thành viên áp dụng một cách tiếp cận toàn diện, tích hợp và đáp ứng giới nhằm ngăn ngừa và xóa bỏ bạo lực và quấy rối trong công việc, trong đó bao gồm quy định việc nghiêm cấm bạo lực và quấy rối trong các văn bản luật.[29] Đồng thời, quốc gia thành viên cần ban hành luật và quy định yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện các bước đi phù hợp và tương xứng với thẩm quyền kiểm soát của mình nhằm ngăn chặn bạo lực và quấy rối tại nơi làm việc, bao gồm cả bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới.[30] Cùng với đó, người lao động phải được trao có quyền từ chối làm việc trong những tình huống mà họ có viện dẫn hợp lý để tin tưởng rằng tồn tại những nguy cơ bạo lực và quấy rối tiềm tàng có thể xảy ra ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe hay sự an toàn của họ và việc từ chối sẽ không dẫn đến việc bị trả thù hay phải gánh chịu những hậu quả không đáng có khác, đảm bảo họ có trách nhiệm báo cáo với cấp quản lý.[31] Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Lao động 2019 nhấn mạnh người sử dụng lao động nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động. Điều 8 Bộ luật Lao động quy định nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, cưỡng bức lao động và hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, phù hợp với quy định của Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối (“Công ước ILO số 190”) liên quan đến việc nghiêm cấm bạo lực và quấy rối trong môi trường làm việc , mặc dù Việt Nam chưa là quốc gia thành viên. Khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động 2019 định nghĩa quấy rối tình dục là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận.[32] Điều 3 Công ước ILO số 190 quy định "nơi làm việc" là những nơi phát sinh từ công việc hay có liên hệ tới công việc, trong đó bao gồm (a) tại nơi làm việc, bao gồm cả những không gian công và tư nơi diễn ra công việc; (b) tại nơi người lao động được trả công, nghỉ ngơi hay nghỉ ăn ca, hay sử dụng phòng vệ sinh, tắm gội và thay đồ; (c) trong các chuyến công tác hoặc di chuyển có liên quan đến công việc, khi đào tạo, trong các sự kiện hay các hoạt động xã hội; (d) thông qua trao đổi thông tin có liên quan đến công việc bao gồm cả các hành vi được thực hiện thông qua công nghệ thông tin và truyền thông; (e) tại nơi ở do người sử dụng lao động bố trí; và (f) khi di chuyển từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại. Quy định của Bộ luật Lao động 2019 về khái niệm “nơi làm việc” cũng tiếp thu tinh thần của Công ước ILO số 190, không còn bó hẹp trong phạm vi văn phòng mà mở rộng ra bất kỳ nơi nào người lao động thực tế làm việc theo sự phân công của người sử dụng lao động.[33] Nhằm phòng chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc, Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Lao động 2019 tương thích với quy định của Điều 9 của Công ước ILO số 190.[34] Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các giải pháp cụ thể để chống quấy rối tình dục, trong đó bao gồm đưa phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục. Ở chiều hướng bảo vệ trực tiếp, Bộ luật Lao động 2019 Khoản 2 Điều 35 quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức mà không cần báo trước nếu bị ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm.[35] Quy định này tương thích với quy định của Điều 10(g) Công ước ILO số 190, theo đó người lao động có quyền từ chối làm việc trong những tình huống mà họ có viện dẫn hợp lý để tin tưởng rằng tồn tại những nguy cơ bạo lực và quấy rối tiềm tàng có thể xảy ra ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe hay sự an toàn của họ. Hơn nữa, sự bảo vệ này còn được duy trì ngay cả trong các tình huống nhạy cảm như xử lý kỷ luật. Điều 127 Bộ luật Lao động 2019 nghiêm cấm các hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín và nhân phẩm của người lao động khi tiến hành kỷ luật lao động. 4. Nhóm quyền về thù lao tối thiểu, công bằng, thù lao bình đẳng cho công việc có giá trị ngang nhau Các quy định về tiền lương tối thiểu và nguyên tắc trả lương công bằng của pháp luật Việt Nam được xây dựng tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế của ILO, cụ thể tại Công ước ILO số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau ("Công ước ILO số 100") và Công ước ILO số 131 về ấn định lương tối thiểu ("Công ước ILO số 131"). Việt Nam hiện tại đã là thành viên của Công ước ILO số 100 nhưng chưa là thành viên của Công ước ILO số 131. Cụ thể, Công ước ILO số 100 Điều 1(b) Công ước ILO số 100 định nghĩa thuật ngữ “trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau” là việc xác định các mức trả công được ấn định không phân biệt đối xử về giới tính,[36] đồng thời, Điều 2(1) quy định rằng mỗi quốc gia thành viên phải thúc đẩy và thực hiện các chính sách phù hợp nhằm hiện thực hóa nguyên tắc trả công bình đẳng này. Mặt khác, Công ước ILO số 131 đặt ra các tiêu chí để các quốc gia xác định tiền lương tối thiểu tại Điều 3,[37] đồng thời yêu cầu xây dựng một cơ chế nhất định để quyết định vấn đề này tại Điều 4(1).[38] Quy định của pháp luật Việt Nam về mức lương tối thiểu phù hợp với quy định của Công ước ILO số 131 mặc dù Việt Nam chưa là quốc gia thành viên. Cụ thể, Bộ luật Lao động 2019 quy định “là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội.”[39] Mức lương tối thiểu sẽ được xác lập theo vùng và ấn định theo tháng, giờ.[40] Hiện nay, Nghị định 293/2025/NĐ-CP là văn bản mới nhất quy định chi tiết về mức lương tối thiểu cho từng vùng.[41] Việc xác định mức lương tối thiểu theo vùng sẽ do Hội đồng Tiền lương Quốc gia quyết định qua các năm.[42] Mức lương tối thiểu này được quy định dựa trên đặc thù phát triển của mỗi vùng miền và điều chỉnh dựa trên nhu cầu đời sống của người lao động trong bối cảnh giá cả và chi phí sinh hoạt thay đổi qua từng năm.[43] Về trả lương công bằng, Bộ luật Lao động 2019 cũng có quy định tương đồng với điều 1(b) Công ước ILO số 100 “Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau”[44] và tại Khoản 1 Điều 136 “Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác”.[45] Song song với trả lương công bằng, Bộ luật Lao động 2019 yêu cầu Người sử dụng lao động “trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn”.[46] Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 trao quyền tự quyết nhiều hơn cho doanh nghiệp trong việc xây dựng thang bảng lương so với Bộ luật Lao động 2012.[47] Theo đó, doanh nghiệp có thể tự xây dựng thang bảng lương mà không phải gửi thang bảng lương cho cơ quan có thẩm quyền, nhưng phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động.[48] 5. Nhóm quyền về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt do tính chất gắn liền với thực thể con người, do vậy, quy định chặt chẽ về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi sẽ có ý nghĩa thiết yếu trong việc bảo đảm sức khỏe, tái tạo sức lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và chính sách lao động, mỗi quốc gia lại thiết lập những quy định riêng biệt nhằm điều chỉnh vấn đề này theo hướng phù hợp.[49] Công ước ILO số 001 về Tuần làm việc 48 giờ năm 1919 ("Công ước ILO số 001") quy định số giờ làm việc không quá 08 giờ một ngày và 48 giờ một tuần, và sau đó Công ước ILO số 047 về Tuần làm việc 40 giờ ("Công ước ILO số 047") được thông qua, theo đó, các quốc gia thành viên áp dụng nguyên tắc tuần làm việc 40 giờ mà tiêu chuẩn sống không bị giảm theo. Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động 2019 hiện quy định về “thời giờ làm việc bình thường” là 08 tiếng 01 ngày và không quá 48 tiếng 01 tuần.[50] Nếu thời giờ làm việc được quy định theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.[51] Số ngày làm việc hiện tại theo quy định của Việt Nam vẫn cao hơn so với xu hướng chung trên thế giới[52] nhưng phù hợp Công ước ILO số 001 (Việt Nam chưa phê chuẩn).[53] Đồng thời, Bộ luật Lao động 2019 cũng khuyến khích người sử dụng lao động có chính sách tổ chức làm việc 40 giờ 01 tuần dành cho người lao động.[54] Đây là sự tiệm cận công ước ILO số 047 vốn được rất ít quốc gia phê chuẩn của Việt Nam.[55] Ngoài quy định về thời giờ làm việc bình thường, pháp luật Việt Nam còn thiết lập các giới hạn nghiêm ngặt đối với thời giờ làm thêm, theo đó tổng số giờ làm thêm không vượt quá 40 giờ trong 01 tháng và từ 200 đến 300 giờ trong 01 năm, tùy thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề.[56] Đồng thời, người lao động được hưởng lương làm thêm giờ cao hơn so với bình thường.[57] Công ước ILO số 132 về Ngày nghỉ được hưởng nguyên lương ("Công ước ILO số 132") quy định người lao động sẽ có quyền nghỉ được hưởng nguyên lương với số ngày tối thiểu là ba tuần làm việc cho một năm lao động.[58] Bộ luật Lao động 2019 hiện hành quy định người lao động được nghỉ hằng năm mà vẫn hưởng nguyên lương lần lượt là (i) 12 ngày làm việc đối với công việc trong điều kiện bình thường (ii) 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và (iii) 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.[59] Lưu ý các tiêu chí trên chỉ được áp dụng đối với người lao động đã làm việc đủ 12 tháng, trong trường hợp chưa đủ thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Vì vậy có thể thấy, trong khía cạnh liên quan đến ngày nghỉ hưởng nguyên lương, quy định Bộ luật Lao động 2019 chưa thực sự sát với tiêu chuẩn của Công ước ILO số 132. Bên cạnh đó, quy định về số ngày nghỉ lễ hằng năm không mang tính cố định; cụ thể, thời gian nghỉ đối với dịp Tết và Quốc khánh được Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết theo từng năm.[60] Ngoài các ngày nghỉ lễ theo quy định tại Điều 112 Bộ luật Lao động 2019, mới đây, Quốc hội đã thông qua ngày 24/11 - ngày Văn hóa Việt Nam là ngày nghỉ lễ mới nhất, nâng tổng số ngày nghỉ lễ lĩnh lương đầy đủ lên 12 ngày.[61] Các quy định này thể hiện sự linh hoạt và cập nhật của pháp luật lao động Việt Nam trong việc điều chỉnh chế độ nghỉ lễ, vừa bảo đảm quyền lợi của người lao động, vừa cho phép Nhà nước chủ động cân đối các yếu tố kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. 6. Nhóm quyền về An toàn và Vệ sinh lao động Công ước ILO số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động (“Công ước ILO số 155”) Điều 16 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm kiểm soát và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho toàn bộ môi trường lao động (bao gồm máy móc, thiết bị và các tác nhân hóa – lý – sinh), đồng thời phải cung cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ cá nhân phù hợp để loại bỏ hoặc giảm thiểu tối đa các nguy cơ gây tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.[62] Đồng thời, Điều 13 quy định người lao động phải được bảo vệ phù hợp theo điều kiện và tập quán quốc gia trong trường hợp người lao động tự mình rời bỏ nơi làm việc mà có lý do xác đáng chứng minh được rằng nơi làm việc có mối nguy hiểm sắp xảy ra, đe doạ nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình.[63] Theo Bộ luật Lao động 2019, một trong những quyền cơ bản của người lao động là quyền được bảo hộ lao động và làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn vệ sinh lao động[64] và được cung cấp thông tin trung thực về điều kiện an toàn vệ sinh lao động khi giao kết hợp đồng lao động.[65] Cụ thể, người lao động có quyền được thực hiện chế độ bảo hộ lao động, khám sức khỏe, chăm sóc sức khỏe và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.[66] Trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động, người lao động sẽ được hưởng bảo hiểm tai nạn lao động và khám giám định mức suy giảm khả năng lao động, có quyền yêu cầu bố trí công việc phù hợp.[67] Đồng thời, người lao động có quyền từ chối làm việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe mà không bị coi là vi phạm kỷ luật, miễn là báo cáo ngay cho người quản lý [68], phù hợp với quy định theo Điều 13 của Công ước ILO số 155. Quyền được bảo đảm an toàn vệ sinh lao động không chỉ giới hạn cho người lao động ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, mà người làm việc không trọn thời gian, [69]người lao động chưa đủ 15 tuổi,[70] người lao động cao tuổi,[71] hay người lao động là người khuyết tật,[72] tất cả đều được Nhà nước bảo đảm quyền được làm việc an toàn và phù hợp với đặc điểm thể chất, lứa tuổi. Việc tuân thủ pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là trách nhiệm bắt buộc của người lao động và người sử dụng lao động.[73] Trong đó, người sử dụng lao động chịu trách nhiệm thực hiện giải pháp nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc, còn người lao động có trách nhiệm nắm vững kiến thức, kỹ năng và chấp hành quy trình, nội quy bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.[74] Về phía người sử dụng lao động, Điều 16 Luật An toàn vệ sinh lao động tương thích với Điều 16 của Công ước ILO số 155, yêu cầu người sử dụng lao động phải bảo đảm các yếu tố môi trường (bụi, tiếng ồn, ánh sáng...) đạt quy chuẩn; máy móc, thiết bị phải được kiểm định, bảo dưỡng định kỳ; trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho nhân viên. Ngoài ra, người sử dụng lao động bắt buộc phải đặt biển cảnh báo tại các khu vực nguy hiểm[75] và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp[76] và để ngăn ngừa rủi ro. Kết luận Từ những cuộc đấu tranh tại Chicago năm 1886, có thể thấy quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng đã chuyển mình từ một khẩu hiệu đấu tranh thành một quyền con người cơ bản được quy định tương đối toàn diện trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Các quy định của Bộ luật Lao động và sự tham gia ngày càng sâu rộng của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế về lao động là minh chứng rõ nét cho cam kết hội nhập sâu rộng và bền vững. Pháp luật hiện hành không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm những nhu cầu vật chất tối thiểu như tiền lương hay thời giờ nghỉ ngơi, mà đã tiến xa hơn trong việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm và sự an toàn của người lao động. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] J. L. and Barbara Hammond, The Rise of Modern Industry (1925) page 23 [2] Phyllis Deane, The first industrial revolution (2nd edition, CUP) page 257 [3] Ban Tuyên giáo Thành uỷ TP.HCM, ‘Sự đấu tranh bất khuất của người lao động thế giới và Việt Nam’ (Trang tin Điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 26 tháng 5 2016) https://thanhuytphcm.vn/tin-tap-chi/thong-tin-tuyen-truyen-5-2016/su-dau-tranh-bat-khuat-cua-nguoi-lao-dong-the-gioi-va-viet-nam-1464248318, truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [4] Điều 387 đến Điều 426 Hoà ước Versailles. [5] Lời nói đầu Hiến chương Tổ chức Lao động Quốc tế. [6] Gerry Rodgers, Eddy Lee, Lee Swepston and Jasmien Van Daele, The ILO and the quest for social justice, 1919–2009 (International Labour Office 2009) p.129 [7] TS Chang-Hee Lee, “ILO 100 năm - Chặng đường vì Công bằng Xã hội https://www.ilo.org/sites/default/files/wcmsp5/groups/public/@asia/@ro-bangkok/@ilo-hanoi/documents/publication/wcms_716079.pdf truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [8] Điều II(a) Tuyên bố Philadelphia 1944. [9] Điều 23 Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền. [10] Điều 7 Công ước quốc tế các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá năm 1966 [11] Committee on Economic, Social, and Cultural Rights, General comment No. 20 (2009) on non-discrimination in economic, social and cultural rights, para 28, 29, 30, 32, 33 [12] Điều 2(a) Tuyên bố ILO về các Nguyên tắc cơ bản và các Quyền tại Nơi làm việc 1998 (sửa đổi, bổ sung 2022) [13] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, ‘Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật lao động Việt Nam’ (Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam) https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=1531 truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [14] Điều thứ 58, 59 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [15] Điều thứ 101 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [16] Điều thứ 112 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [17] Điều thứ 133 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [18] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ‘Tờ trình về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi)’ (Số 81/TTr-LĐTBXH), 18 tháng 11 năm 2011 [19] Công ước ILO số 182 về Các Hình thức Lao động Trẻ em Tồi tệ Nhất, Công ước ILO số 138 về Tuổi lao động tối thiểu, Công ước ILO số 111 về Phân biệt đối xử trong Lao động, Công ước ILO số 100 về Trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho cùng một công việc có giá trị ngang nhau] [20] Chính phủ, ‘Tờ trình về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi)’ (Số 166/TTr-CP, 26 tháng 4 năm 2019) trang 3 [21] Hoàng Minh, ‘Việt Nam nội luật hóa tiêu chuẩn lao động quốc tế’ (Thời báo Tài chính Việt Nam, 18 tháng 10 năm 2023) https://thoibaotaichinhvietnam.vn/viet-nam-noi-luat-hoa-tieu-chuan-lao-dong-quoc-te-137777.html, truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [22] Điều 1(a), 2 Công ước ILO số 111 năm 1958 về về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. [23] Điều 3 Công ước số 156 năm 1981 về bình đẳng cơ hội và đối xử với lao động nam và nữ: trách nhiệm gia đình. [24] Điều 13 Luật Bình đẳng giới 2006. [25] Khoản 1 Điều 109 Bộ luật Lao động 1994. [26] Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Lao động 1994. [27] Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Lao động 1994. [28] Điều 4, 135 Bộ luật Lao động 2019. [29] Điều 4, 7 Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [30][34] Điều 9 Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [31] Điều 10(g) Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [32] Khoản 3 Điều 9 Bộ luật Lao động 2019. [33] Điều 3 Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [35] Điều 35 Khoản 2 Bộ luật Lao động 2019. [36] Điều 1(b) Công ước ILO số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau. Nguyên văn : (b) the term “equal remuneration for men and women workers for work of equal value” refers to rates of remuneration established without discrimination based on sex. [37] Điều 3 Công ước ILO số 131 về ấn định lương tối thiểu. Nguyên văn: “The elements to be taken into consideration in determining the level of minimum wages shall, so far as possible and appropriate in relation to national practice and conditions, [...]” [38] Điều 4(1) Công ước ILO số 131 về ấn định lương tối thiểu. Nguyên văn : “Each Member which ratifies this Convention shall create and/or maintain machinery adapted to national conditions and requirements whereby minimum wages for groups of wage earners covered in pursuance of Article 1 thereof can be fixed and adjusted from time to time.” [39] Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 [40] Khoản 2 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 [41] Tính đến ngày bài viết được xuất bản. [42] Điều 49 Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động [43] Thu Hằng, ‘Thay đổi quan trọng về lương tối thiểu vùng từ đầu năm 2026’ (VnEconomy, 29 tháng 9 năm 2025) https://vneconomy.vn/thay-doi-quan-trong-ve-luong-toi-thieu-vung-tu-dau-nam-2026.htm truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025. [44] Khoản 3 Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 [45] Khoản 1 Điều 136 Bộ luật Lao động 2019 [46] Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 [47] Le & Tran, ‘Các điểm đáng chú ý tại Bộ luật Lao động 2019’ (Le & Tran Law Corporation) https://letranlaw.com/vi/insights/cac-diem-dang-chu-y-tai-bo-luat-lao-dong-2019/ truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2026. [48] Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 [49] Văn bản Tóm tắt tổng quan Các quy định về thời giờ nghỉ ngơi trong thời giờ làm việc, Dự án Khung khổ Quan hệ Lao động mới (NIRF) Đoạn 5. [50] Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 [51] Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 [52] Vũ Điệp, ‘Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có thời gian làm việc cao nhất thế giới’ (VietNamNet, 29 tháng 12 năm 2023) https://vietnamnet.vn/viet-nam-thuoc-nhom-quoc-gia-co-thoi-gian-lam-viec-cao-nhat-the-gioi-2232613.html truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026. [53] Điều 2 Công ước ILO số 001 về Tuần làm việc 48 giờ. Nguyên văn : “The working hours of persons employed in any public or private industrial undertaking or in any branch thereof, other than an undertaking in which only members of the same family are employed, shall not exceed eight in the day and forty-eight in the week, [...]” [54] Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 [55] Trần H. D. Minh, '[162] Các Công ước ILO về Giờ làm việc và ngày nghỉ phép của người lao động' (IusCogens) https://iuscogens-vie.org/2019/10/27/cac-cong-uoc-ilo-ve-gio-lam-viec-va-ngay-nghi-phep-cua-nguoi-lao-dong/ truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026. [56] Khoản 2, Khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 [57] Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 55,57 Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động [58] Điều 3 Công ước ILO số 132 về Ngày nghỉ được hưởng nguyên lương [59] Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 [60] Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Lao động 2019 [61] Tính đến ngày bài viết được xuất bản. [62] Điều 16 Công ước ILO số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động [63] Điều 13 Công ước ILO số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động [64] Điều 5 Bộ luật Lao động 2019 [65] Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 [66] Điểm c Khoản 1 Điều 6 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 [67][68] Điểm d Khoản 1 Điều 6 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 [69] Điều 32 Bộ luật Lao động 2019 [70] Điều 145 Bộ luật Lao động 2019 [71] Điều 149 Bộ luật Lao động 2019 [72] Điều 159 Bộ luật Lao động 2019 [73] Điều 132 Bộ luật Lao động 2019 [74] Điều 134 Bộ luật Lao động 2019 [75] Điều 16 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 [76] Điều 78 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015

  • [83] NHÃN HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỂ THAO - THỰC TIỄN THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAM

    Tác giả: Nguyễn Văn Hiền, Trương Hoàng Khôi Nguyên, Nguyễn Hà Minh Thu Lời mở đầu: Nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 năm 2026 với chủ đề “Sở hữu trí tuệ và thể thao: Sẵn sàng - Bắt đầu - Đổi mới” do World Intellectual Property Organization (WIPO) công bố, chủ đề thể thao được lựa chọn trong bối cảnh năm nay diễn ra nhiều sự kiện thể thao lớn mang tầm quốc tế, tiêu biểu là World Cup, qua đó làm nổi bật hơn vai trò của thương mại hóa và quyền sở hữu trí tuệ trong ngành. Thực tiễn cho thấy các thương hiệu thể thao như Nike hay Adidas có giá trị hàng chục tỷ USD, trong khi các câu lạc bộ như Manchester United hay Real Madrid khai thác nhãn hiệu như nguồn doanh thu cốt lõi. Cùng với đó là sự gia tăng tranh chấp về logo, tên gọi và quyền hình ảnh vận động viên. Từ bối cảnh này, bài viết tập trung phân tích nhãn hiệu trong thể thao như một khía cạnh tiêu biểu của sở hữu trí tuệ hiện đại. Từ khóa: Sở hữu trí tuệ và thể thao: Sẵn sàng - Bắt đầu - Đổi mới (WIPO 2026), Bảo hộ nhãn hiệu thể thao, Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực thể thao, nhãn hiệu thể thao tại Việt Nam 1. Cơ sở lý luận về nhãn hiệu trong thể thao hiện nay 1.1 Khái niệm về nhãn hiệu và đặc điểm của nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao Ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình tại Hoa Kỳ, nhiều giải đấu thể thao chuyên nghiệp, đội thể thao lớn trong các trường đại học và các tổ chức, liên đoàn thể thao đã sớm sử dụng nhãn hiệu để tạo ra những sản phẩm ăn theo và bán ra thị trường, thu về được nguồn lợi khổng lồ.[1] Không chỉ dừng lại ở những nhãn hiệu tập thể, công chúng cũng không còn xa lạ với những ngôi sao thể thao đăng ký hình ảnh hoặc tên của họ trở thành nhãn hiệu.[2] Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp thể thao toàn cầu đã làm thay đổi cách nhìn nhận về các dấu hiệu nhận diện, từ những yếu tố mang tính biểu tượng đơn thuần trở thành tài sản thương mại có giá trị cao, đặc biệt trong các sự kiện thể thao lớn gắn liền với hoạt động tài trợ và khai thác thương mại.[3] Nhãn hiệu đã trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp thể thao.[4] Nhãn hiệu vừa có chức năng thiết yếu là đảm bảo tính xác thực của hàng hoá, giúp khách hàng phân biệt được giữa các sản phẩm cạnh tranh lẫn nhau,[5] vừa là phương thức giúp các chủ thể trong lĩnh vực thể thao thúc đẩy và duy trì tính trung thành của người hâm mộ, những khách hàng chính của ngành công nghiệp này thông qua việc tăng bộ nhận diện, tính kết nối về cảm xúc giữa người hâm mộ và chủ thể liên quan.[6] Một số ví dụ điển hình chính là trường hợp của vận động viên tennis nổi tiếng Roger Federer, vận động viên này đã đăng ký tên mình là nhãn hiệu chữ (word mark) tại EU cho các nhóm hàng hóa như trò chơi, đồ chơi, dụng cụ thể dục và thể thao.[7] Sự phát triển của ngành công nghiệp thể thao kèm theo nguồn lợi khổng lồ đã dẫn tới ngày càng nhiều quốc gia quan tâm tới lĩnh vực thể thao và đã và bắt đầu đưa quyền sở hữu trí tuệ thể thao vào các chiến lược phát triển quốc gia của mình,[8] nhất là trong bối cảnh bùng nổ công nghệ AI làm tăng những thách thức về sở hữu trí tuệ trong ngành công nghiệp thể thao.[9] Mặc dù pháp luật từng nước có những định nghĩa riêng về nhãn hiệu[10] nhưng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng khung pháp lý phù hợp với những tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi trên quốc tế chính là điều kiện cơ bản thuận lợi để doanh nghiệp nước ngoài và trong nước tiếp cận thị trường trong và ngoài nước, đồng thời tăng cao giá trị cho các doanh nghiệp.[11] Để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, do tính chất đặc thù, việc bảo hộ nhãn hiệu thường được xem xét riêng theo từng quốc gia, tuy nhiên một đặc điểm quan trọng thường xuyên được pháp luật các nước áp dụng chính là tính phân biệt của nhãn hiệu.[12] Trong khuôn khổ pháp lý quốc tế, đặc biệt là Hiệp định TRIPS (Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights) đã xác lập một nguyên tắc nền tảng về nhãn hiệu: “bất kỳ dấu hiệu nào, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của các dấu hiệu, có khả năng phân biệt hàng hóa và dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều phải đủ điều kiện để được đăng ký làm nhãn hiệu, với điều kiện là chúng có thể nhận biết được bằng mắt thường. Những dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ ngữ bao gồm tên riêng, chữ cái, chữ số, các yếu tố hình tượng và sự kết hợp màu sắc cũng như bất kỳ sự kết hợp nào của các dấu hiệu đó, đều phải đủ điều kiện để được đăng ký làm nhãn hiệu”.[13] Theo đó, nhãn hiệu là sự kết hợp của những dấu hiệu (i) có tính phân biệt, tức là không chỉ mang tính thông tin đơn thuần, đảm bảo đạo đức và trật tự công cộng, và cần có ý định sử dụng nhãn hiệu một cách trung thực (bona fide) trong thương mại;[14] và (ii) có thể nhận biết được bằng mắt thường, tuy nhiên quy định này trong một số trường hợp được mở rộng thông qua các giác quan khác theo các điều kiện cụ thể.[15] Quy định trong TRIPS đã tạo ra một nền tảng pháp lý linh hoạt, cho phép mở rộng phạm vi bảo hộ sang nhiều dạng dấu hiệu khác nhau trong thực tiễn thể thao. Trong lĩnh vực thể thao, nhãn hiệu có thể được phân thành hai nhóm chính là nhãn hiệu truyền thống và nhãn hiệu phi truyền thống.[16] Nhãn hiệu truyền thống bao gồm các dấu hiệu quen thuộc như tên gọi, logo, biểu tượng, khẩu hiệu hoặc tên giải đấu, chẳng hạn như logo của Nike hay biệt danh “CR7” của Cristiano Ronaldo.[17] Trong khi đó, nhãn hiệu phi truyền thống phản ánh xu hướng mở rộng của bảo hộ nhãn hiệu trong thể thao, bao gồm nhãn hiệu âm thanh (nhạc hiệu C1), nhãn hiệu màu sắc (màu sắc đặc trưng của các CLB), nhãn hiệu chuyển động tiêu biểu như động tác ăn mừng của Usain Bolt hay biểu tượng “Jumpman” của Michael Jordan.[18] Sự phân loại này cho thấy nhãn hiệu trong thể thao không chỉ dừng lại ở các dấu hiệu nhận diện truyền thống mà còn mở rộng sang những yếu tố mang tính cá nhân hóa và cảm xúc, góp phần gia tăng giá trị thương mại và sức ảnh hưởng của các chủ thể thể thao. Về cơ chế bảo hộ, nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao được bảo vệ thông qua các hệ thống đa tầng. Ở cấp độ quốc tế, hệ thống đăng ký nhãn hiệu thông qua Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, đặc biệt là Hệ thống Madrid, cho phép chủ sở hữu nộp một đơn duy nhất để yêu cầu bảo hộ tại hơn 130 quốc gia, từ đó giảm chi phí đáng kể và thủ tục so với việc đăng ký riêng lẻ tại từng quốc gia.[19] Ở cấp độ khu vực, điển hình như tại Liên minh Châu Âu EU đã sớm có khung pháp lý tương đối hoàn thiện về đăng ký nhãn hiệu và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu, tuy nhiên các sáng kiến riêng lẻ của các quốc gia thành viên có thể gây ra xung đột với khung pháp lý chung của EU.[20] Ở cấp độ quốc gia, pháp luật trong nước đóng vai trò trực tiếp trong việc xác lập và thực thi quyền nhãn hiệu, đặc biệt trong việc xử lý hành vi xâm phạm như sản xuất hàng giả, sử dụng logo bóng đá trái phép trong các sự kiện thể thao.[21] Bên cạnh đó có tồn tại một số cơ chế bảo hộ đặc thù tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể ví dụ như Hiệp định Nairobi về bảo hộ Biểu tượng Olympic.[22] Theo hiệp định này, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ từ chối đăng ký và cấm sử dụng biểu tượng Olympic cho mục đích thương mại nếu không có sự cho phép của Uỷ ban Olympic Quốc tế,[23] biểu tượng 5 vòng tròn Olympic được bảo vệ chặt chẽ trên toàn cầu, việc sử dụng trái phép trong quảng cáo hoặc kinh doanh đều có thể bị xử lý nghiêm ngặt. 1.2. Điều kiện đăng ký và phạm vi bảo hộ nhãn hiệu trong thể thao 1.2.1. Thủ tục đăng đăng ký và phạm vi bảo hộ Ngành công nghiệp hàng thể thao (giống như các ngành hàng tiêu dùng khác), đặc biệt phụ thuộc vào sự bảo hộ nhãn hiệu mạnh mẽ để đấu tranh hiệu quả chống lại các hoạt động làm hàng giả trên mạng và thị trường truyền thống.[24] Từ khái niệm nhãn hiệu đã nêu, có thể khẳng định rằng tính phân biệt là điều kiện tiên quyết để được bảo hộ. Theo đó, các dấu hiệu thiếu khả năng phân biệt sẽ không đủ điều kiện đăng ký, qua đó đặt ra những thách thức đáng kể đối với một số nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao.[25] Trước hết, để được bảo hộ, một dấu hiệu không được phép mang tính mô tả đơn thuần hoặc thiếu tính phân biệt. Các cơ quan quản lý sẽ từ chối đăng ký đối với những khẩu hiệu quảng cáo hoặc các cụm từ mang tính chất thông thường, thiếu khả năng thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc thương mại. Cần chú ý rằng các nhãn hiệu phải tuân thủ các quy định chung của quốc gia nộp đơn, bao gồm cả việc đảm bảo không gây hiểu lầm hoặc vi phạm các giá trị đạo đức xã hội.[26] Đặc biệt, các nhãn hiệu liên quan đến địa danh địa lý thường không bị coi là gây nhầm lẫn về nguồn gốc sản xuất (ví dụ: đồ thể thao của đội tuyển quốc gia không nhất thiết phải được sản xuất tại quốc gia đó).[27] Tiếp đến, quyền sở hữu nhãn hiệu gắn liền với tên tuổi hoặc hình ảnh cá nhân thường là trọng tâm của những thỏa thuận thương mại phức tạp. Vì vậy, để tránh những tranh chấp về quyền tài sản trí tuệ khi thỏa thuận chấm dứt, các bên cần làm rõ quy định về quyền sở hữu và số phận của nhãn hiệu ngay từ giai đoạn ký kết hợp đồng.[28] Cuối cùng, do đặc thù ngành thể thao là môi trường dễ phát sinh tình trạng hàng giả, hàng nhái, các chủ thể quyền cần xây dựng một chiến lược bảo hộ mạnh mẽ, kết hợp hài hòa giữa việc đăng ký tại các cơ quan quốc gia và tận dụng các hệ thống quốc tế, điển hình là hệ thống Madrid nhằm thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả trên phạm vi toàn cầu.[29] 2. Thực trạng xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao và một số vụ kiện tiêu biểu 2.1. Thực trạng xâm phạm nhãn hiệu Xâm phạm nhãn hiệu xảy ra trong ngành công nghiệp thể thao khi ai đó sử dụng, chỉnh sửa, phân phối, sao chép hoặc bán logo, nhãn mác, hàng hóa và cụm từ mà không có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, và hoạt động này khiến người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc của các sản phẩm, mặt hàng hoặc hình ảnh mang nhãn hiệu đó.[30] Trên thực tế, ngành thể thao với đặc thù thương hiệu gắn liền với cảm xúc, lòng trung thành của người hâm mộ và giá trị tài trợ khổng lồ, đã trở thành một trong những lĩnh vực bị xâm phạm nhãn hiệu nghiêm trọng nhất toàn cầu.[31] Có hai hiện tượng xâm phạm phổ biến: sử dụng trái phép biểu tượng hoặc logo thể thao và giả mạo các mặt hàng có nhãn hiệu thể thao. Sử dụng trái phép biểu tượng và logo thể thao là hình thức vi phạm có tính phổ biến cao. Logo và biểu tượng của các câu lạc bộ, liên đoàn thể thao lớn mang giá trị thương mại cực kỳ cao, thường xuyên xuất hiện trên hàng hóa không được cấp phép như áo phông, mũ nón, túi xách, hay trong các chiến dịch quảng cáo thương mại trái phép. Bên cạnh đó, đối với thực trạng hàng giả, các thương hiệu thể thao nổi tiếng như Nike, Adidas, Puma, hay nhãn hiệu của các câu lạc bộ lớn như Manchester United, Real Madrid và FC Barcelona liên tục trở thành mục tiêu của các cơ sở sản xuất hàng giả quy mô lớn. Một nghiên cứu gần đây của Văn phòng Hài hòa Thị trường Nội bộ (OHIM) được công bố thông qua Đài quan sát về Vi phạm Quyền sở hữu trí tuệ của EU cho thấy việc bán hàng hoá giả liên quan thể thao gây thiệt hại cho các nhà sản xuất hợp pháp tại Liên minh Châu Âu 500 triệu euro mỗi năm.[32] Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của internet và công nghệ 4.0, nhiều thách thức mới liên quan đến bảo vệ nhãn hiệu thể thao đã xuất hiện. Nổi bật nhất là hiện tượng chiếm đoạt tên miền (cybersquatting)[33]. Không chỉ nhắm vào các thương hiệu thể thao lớn, hành vi này còn nhắm trực tiếp đến các vận động viên khi những kẻ xấu đăng ký trước tên miền chứa tên của các vận động viên nổi tiếng - những người có độ nhận diện và giá trị thương hiệu cá nhân cao nhằm buộc họ phải trả một khoản tiền lớn để mua lại tên miền đó.[34] Năm 2023, WIPO ghi nhận kỷ lục mới với gần 6.200 khiếu nại liên quan đến tên miền, tăng hơn 7% so với năm 2022 và tăng 68% kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu, phản ánh xu hướng vi phạm ngày càng gia tăng trong không gian số.[35] Hậu quả của tình trạng xâm phạm nhãn hiệu trong ngành thể thao là đa chiều và nghiêm trọng. Trong lĩnh vực thể thao, đối với các nhãn hàng và tổ chức thể thao, thiệt hại về doanh thu trực tiếp khiến các nhà sản xuất hợp pháp phải chịu gánh nặng kép: vừa mất thị phần, vừa phải gia tăng đáng kể chi phí thực thi pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.[36] Ngoài ra, sự xuất hiện tràn lan của hàng giả làm suy giảm giá trị thương hiệu và lòng tin của người tiêu dùng - những tài sản vô hình mà các tổ chức thể thao và thương hiệu đã dày công xây dựng trong nhiều thập kỷ. Khi người hâm mộ mua phải hàng giả kém chất lượng, trải nghiệm tiêu cực có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức thương hiệu tổng thể và mối quan hệ gắn kết giữa câu lạc bộ, liên đoàn với cộng đồng người hâm mộ. Đối với vận động viên, xâm phạm nhãn hiệu gây ra những tổn thất đặc thù và ngày càng nghiêm trọng trong bối cảnh thương mại hóa thể thao hiện đại. Tên tuổi, hình ảnh và các yếu tố định danh cá nhân của vận động viên, vốn là tài sản thương mại cốt lõi để ký kết hợp đồng tài trợ và phát triển dòng sản phẩm riêng thường xuyên bị các bên thứ ba sử dụng trái phép trên hàng hóa, nền tảng số và chiến dịch truyền thông mà không có sự đồng ý hay đền bù thỏa đáng.[37] Hơn hết, tình trạng xâm phạm nhãn hiệu diễn ra rộng rãi và dai dẳng làm suy yếu nền tảng pháp lý của toàn bộ hệ sinh thái thương mại thể thao. 2.2. Một số vụ kiện tiêu biểu 2.2.1. Tranh chấp nhãn hiệu trong thể thao Arsenal FC v. Reed (Tòa án Công lý EU) Vụ việc Arsenal FC v. Reed là tiền lệ quan trọng về quyền sở hữu trí tuệ trong ngành thể thao.[38] Ông Matthew Reed đã bán khăn quàng và các mặt hàng lưu niệm có in logo của Arsenal FC tại các quầy hàng bên ngoài sân vận động mà không có sự cho phép từ phía câu lạc bộ.[39] Mặc dù ông Reed có đặt bảng thông báo xác nhận hàng hóa không phải là sản phẩm chính hãng, Arsenal FC vẫn khởi kiện với cáo buộc xâm phạm nhãn hiệu đã đăng ký.[40] Tranh chấp xoay quanh việc liệu hành vi này có vi phạm Điều 5(1)(a) của Chỉ thị 89/104/EEC hay không. Tòa án Công lý EU (ECJ) đã làm rõ rằng chức năng thiết yếu của nhãn hiệu là bảo đảm nguồn gốc của hàng hóa để người tiêu dùng có thể phân biệt sản phẩm giữa các doanh nghiệp.[41] Tòa khẳng định quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu là tuyệt đối đối với các dấu hiệu trùng khớp được sử dụng trong thương mại.[42] Phán quyết cuối cùng của Tòa án đã bác bỏ lập luận cho rằng các logo chỉ được người hâm mộ xem là "biểu tượng của sự trung thành" chứ không phải "chỉ dẫn nguồn gốc".[43] Tòa xác định rằng việc sử dụng logo câu lạc bộ tạo ra ấn tượng sai lệch về mối liên hệ thương mại, gây ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng mà câu lạc bộ kiểm soát.[44] Kết quả là, hành vi bán hàng mang logo câu lạc bộ mà không được phép bị coi là xâm phạm nhãn hiệu, qua đó củng cố quyền bảo vệ thương hiệu tuyệt đối cho các câu lạc bộ thể thao.[45] 2.2.2. FIFA kiện Zamanda Garcia (WIPO Case No. D2023-2357) Vụ kiện phát sinh khi Liên đoàn Bóng đá Quốc tế (FIFA) phát hiện tên miền bị đăng kí và sử dụng bởi một cá nhân không có thẩm quyền là Zamanda Garcia, tại Hoa Kỳ.[46] Nguyên đơn lập luận rằng tên miền tranh chấp chứa toàn bộ nhãn hiệu FIFA, việc thêm “w”, “c” và “26” (viết tắt của World Cup 2026) là không đủ để phân biệt. Hơn nữa, phía bị đơn không được FIFA uỷ quyền và không có liên quan đến tên miền này.[47] Đặc biệt, do nhãn hiệu FIFA là nhãn hiệu nổi tiếng toàn cầu, nguyên đơn cho rằng khó có khả năng Bị đơn không biết đến FIFA khi đăng kí tên miền.[48] Do đó tên miền này đã được dùng để trục lợi tài chính thông qua các đường link quảng cáo.[49] Với các bằng chứng xác thực, Hội đồng trọng tài đã đưa ra quyết định có lợi cho FIFA. Hội đồng khẳng định tên miền có sự tương tự gây nhầm lẫn cao, Bị đơn hoàn toàn không có quyền lợi hợp pháp và việc đăng ký, sử dụng tên miền này xuất phát từ ý đồ xấu nhằm trục lợi tài chính.[50] Theo đó, vì các lý do nêu trên, theo quy định tại đoạn 4(i) của Chính sách và Điều 15 của Quy tắc Giải quyết Tranh chấp Tên miền Thống Nhất, Hội đồng ra lệnh chuyển giao tên miền cho Nguyên đơn.[51] Vụ việc này tiếp tục là tiền lệ quan trọng khẳng định rằng: bất kỳ hình thức nào nhằm lợi dụng tên miền để khai thác trái phép danh tiếng của các nhãn hiệu nổi tiếng đều sẽ bị xử lý chính đáng. 3. Liên hệ với Việt Nam 3.1. Khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam Tại Việt Nam, khung pháp lý về nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao về cơ bản đã tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là hệ thống của Hiệp định TRIPS và thực tiễn bảo hộ của nhiều quốc gia phát triển. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo hộ nhãn hiệu nói chung và trong lĩnh vực thể thao nói riêng được xây dựng dựa trên nền tảng Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2025), cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết như Thông tư 23/2023/TT-BKHCN đã định hình nên các tiêu chuẩn về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP và EVFTA giúp bảo vệ các nhãn hiệu thể thao, dù là thương hiệu nội địa hay thương hiệu quốc tế đều được đối xử công bằng theo các tiêu chuẩn chung.[52] Đặc biệt, tính ứng dụng của khung pháp lý này được thể hiện rõ qua hai khía cạnh chính: Thứ nhất, đó là tính bao quát trong việc xác lập quyền đối với các tài sản trí tuệ trong thể thao. Trong lĩnh vực thể thao, đối tượng bảo hộ không chỉ giới hạn ở logo của CLB mà còn mở rộng đến tên giải đấu, linh vật…[53] Việc đăng ký nhãn hiệu yêu cầu sự chuẩn xác cao trong việc áp dụng Bảng phân loại Nice[54]. Các tổ chức thể thao buộc phải thực hiện chiến lược bảo hộ đa nhóm, phân tách rõ ràng giữa hàng hoá vật lý như Nhóm 25 về trang phục thi đấu, Nhóm 28 về phụ kiện thể thao hay nhóm dịch vụ chuyên biệt như tổ chức giải đấu, huấn luyện thể thao thuộc Nhóm 41 và Nhóm 35 về quảng cáo, quản lý hình ảnh thương mại. Sự phân loại này là cơ sở then chốt để xác lập quyền, ngăn chặn các hành vi sử dụng trái phép hình ảnh của các đơn vị thể thao.[55] Thứ hai, cơ chế phòng vệ nghiêm ngặt chống lại các hành vi dụng ý xấu. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã siết chặt các quy định nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhãn hiệu, nơi mà các bên thứ ba cố tình đăng ký trước tên hoặc biểu tượng của các CLB, liên đoàn thể thao để trục lợi. Cụ thể, Điều 96 quy định về việc huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với các nhãn hiệu được đăng ký với dụng ý xấu hoặc không trung thực.[56] Ngoài ra, Điều 74 và Điều 75 cũng tạo rã rào cản pháp lý ngăn chặn ngay từ đầu khâu thẩm định đối với các đơn đăng ký có dấu hiệu vi phạm đạo đức kinh doanh, từ đó giúp các tổ chức thể thao bảo toàn giá trị tài sản trí tuệ trên thị trường.[57] 3.2. Thực trạng xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam Trong những năm gần đây, tình trạng xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam diễn ra ngày càng phổ biến với nhiều hình thức khác nhau, trong đó nổi bật nhất là hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả mang nhãn hiệu thể thao.[58] Vào năm 2025, lực lượng chức năng tại Hà Nội đã phát hiện một cơ sở sản xuất hơn 16.000 sản phẩm quần áo thể thao giả mạo nhãn hiệu, cho thấy quy mô vi phạm đã vượt xa mức nhỏ lẻ thông thường.[59] Trong khi đó, những bộ quần áo chính hãng có giá dao động khoảng 1,5 triệu đồng/chiếc đã bị các đối tượng làm giả với giá bán 13.000 đồng/chiếc từ xưởng. Tức là chưa bằng 1/100 giá trị hàng thật.[60] Một vụ việc khác, hơn 35.000 bộ quần áo thể thao giả các nhãn hiệu như Nike, Adidas đã bị thu giữ với giá trị ước tính lên tới hàng tỷ đồng.[61] Hơn nữa, hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhằm lẫn với nhãn hiệu thể thao cũng diễn ra phổ biến trong kinh doanh, đặc biệt đối với logo và tên gọi của các CLB hoặc giải đấu.[62] Các con số này cho thấy hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao không còn mang tính cá nhân nhỏ lẻ mà đã phát triển thành các đường dây sản xuất, phân phối có tổ chức. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thể thao cũng diễn ra khá phổ biến. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã khai thác các yếu tố nhận diện như tên gọi, logo nhằm mục đích thương mại mà không được cho phép. Điển hình, trong vụ việc Liên đoàn Bóng đá Việt Nam phản đối việc sử dụng trái phép hình ảnh đội tuyển Việt Nam, Liên đoàn đã chính thức lên tiếng về việc các tổ chức, cá nhân sử dụng hình ảnh của đội tuyển Việt Nam trong quảng cáo và kinh doanh mà chưa được sự cho phép, dẫn đến gây nhầm lẫn về mối quan hệ tài trợ.[63] Cuối cùng, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và mạng xã hội đã góp phần làm gia tăng đáng kể phạm vi và mức độ của hành vi xâm phạm nhãn hiệu thể thao. Theo báo cáo của Bộ Công Thương Việt Nam, một tỷ lệ lớn hàng hoá giả mạo nhãn hiệu được tiêu thụ thông qua các nền tảng trực tuyến, trong đó bao gồm nhiều sản phẩm thể thao như áo đấu, giày thể thao và phụ kiện.[64] Việc kinh doanh trên môi trường số sẽ khó kiểm soát nguồn gốc hàng hoá và phạm vi tiếp cận rộng đã khiến cho số lượng vi phạm gia tăng nhanh chóng và gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật.[65] Từ thực tiễn trên có thể thấy, các hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao không chỉ đa dạng về hình thức mà còn ngày càng tinh vi và có tổ chức. Tuy nhiên, việc xử lý các hành vi này vẫn gặp nhiều khó khăn, xuất phát từ mức chế tài chưa đủ sức răn đe, khiến hành vi vi phạm vẫn có lợi nhuận cao so với rủi ro pháp lý. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển sang môi trường thương mại điện tử khiến việc xác định chủ thể vi phạm và truy vết nguồn hàng trở nên phức tạp. Đồng thời, vai trò của các bên trung gian như sàn thương mại điện tử trong việc kiểm soát và gỡ bỏ sản phẩm vi phạm vẫn chưa thực sự hiệu quả và đồng bộ. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi quyền nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam. 3.2. Gợi mở giải pháp hoàn thiện Trong bối cảnh các hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu ngày càng chuyển mạnh mẽ sang môi trường số, việc hoàn thiện khung pháp lý và các cơ chế thực thi khung pháp luật theo hướng nhanh chóng, linh hoạt và hiệu quả yêu cầu tất yếu. Thứ nhất, hoàn thiện pháp lý theo hướng tăng hiệu lực thực thi trong môi trường số. Trọng tâm không chỉ nằm ở việc nâng mức xử phạt mà là thiết kế lại cơ chế xử lý phù hợp với tốc độ xâm phạm trong lĩnh vực thể thao, đặc biệt trên nền tảng số. Cần bổ sung cơ chế xử lý nhanh đối với hành vi vi phạm rõ ràng, cho phép cơ quan có thẩm quyền ra quyết định gỡ bỏ nội dung, khóa gian hàng hoặc chặn truy cập trong thời gian ngắn. Đồng thời, mở rộng phạm vi áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Điều 206 và Điều 207 Luật SHTT theo hướng bao quát cả đối tượng xâm phạm số hóa, nhằm đảm bảo khả năng can thiệp kịp thời đối với hành vi xâm phạm nhãn hiệu thể thao trong môi trường trực tuyến. Thứ hai, tăng cường trách nhiệm của các nền tảng trung gian trong kiểm soát xâm phạm. Trong thực tiễn, phần lớn hành vi vi phạm nhãn hiệu thể thao được thực hiện thông qua sàn thương mại điện tử, mạng xã hội và nền tảng quảng cáo. Do đó, cần chuyển từ cơ chế hợp tác tự nguyện sang cơ chế trách nhiệm pháp lý rõ ràng hơn, theo đó các nền tảng phải thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ nội dung vi phạm trong thời hạn nhất định khi nhận được thông báo hợp lệ. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế xác minh người bán đối với hàng hóa thể thao mang nhãn hiệu và tăng cường ứng dụng công nghệ nhận diện tự động để phát hiện logo, tên câu lạc bộ hoặc dấu hiệu bị xâm phạm. Thứ ba, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực thể thao. Một trong những nguyên nhân khiến tình trạng xâm phạm nhãn hiệu phổ biến là nhu cầu lớn đối với sản phẩm thể thao giá rẻ gắn với thương hiệu quốc tế. Do đó, cần triển khai các chiến dịch truyền thông theo mùa giải thể thao lớn, kết hợp với hoạt động tại sân vận động và nền tảng số nhằm hướng dẫn phân biệt hàng thật – hàng giả. Đồng thời, cần đưa nội dung về sở hữu trí tuệ trong thể thao vào giáo dục và tăng cường vai trò của vận động viên, câu lạc bộ trong truyền thông, qua đó hình thành văn hóa tiêu dùng tôn trọng nhãn hiệu và ủng hộ sản phẩm chính hãng. Kết luận: Tóm lại, trong bối cảnh ngành thể thao ngày càng được thương mại hóa sâu rộng, nhãn hiệu đã trở thành một tài sản chiến lược, góp phần định hình giá trị thương hiệu và sức cạnh tranh của các chủ thể. Tuy nhiên, thực trạng xâm phạm nhãn hiệu, đặc biệt trong môi trường số, đang đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng đối với công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại cả bình diện quốc tế và Việt Nam. Nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 năm nay với chủ đề “Sở hữu trí tuệ và thể thao: Sẵn sàng - Bắt đầu - Đổi mới”, có thể thấy rõ hơn yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi, nhằm bảo vệ sáng tạo và thúc đẩy phát triển bền vững của ngành thể thao. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Avi Friedman, ‘Protection of Sports Trademarks’ (1995) 15 Loyola of Los Angeles Entertainment Law Review 3. [2] B Hugenholtz and others (eds), Intellectual Property and Sports (Kluwer Law International 2021) 113. [3] Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ‘Sở hữu trí tuệ định hình giá trị ngành công nghiệp thể thao toàn cầu’ , truy cập ngày 20/4/2026. [4] Suji Kim and John Grady, ‘Artificial Intelligence and Trademark Challenges in the Sport Industry’ (2026) 36(1) Journal of Legal Aspects of Sport 57. [5] như trên, đoạn 2. [6] như trên, đoạn 2. [7] như trên, đoạn 4. [8] Svitlana Iasechko and others, 'Legal Regulation of Intellectual Property in Sports' (2022) 11 SPORT TK-EuroAmerican Journal of Sports Sciences. [9] Mark Conrad, ‘Non-Fungible Tokens, Sports, and Intellectual Property Law Issues: A Case Study Applying Copyright, Trademark, and Right of Publicity Law to a Non-Traditional Ownership Vehicle’ (2022) 32 Journal of Legal Aspects of Sport 132. [10] Nguyễn Xuân Quang, Lê Nhật Hồng, ‘Thực tiễn quy định về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống tại Việt Nam và một số kiến nghị’ [2025] 04(188) Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam. [11] Hà Thị Nguyệt Thu, ‘Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu trong kinh tế thị trường’ [2013] 6 Tạp chí Lý luận Chính trị. [12] như trên, đoạn 2. [13] Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1994, có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1995) Điều 15. [14] Như trên, Annie Clement, ‘Intellectual Property and the Media: An Examination of Copyright, Trademark, and Right of Publicity in Sport’ (2011) 4 International Journal of Sport Communication 82. [15] Xem thêm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) [16] ‘Trademarks in Sports: The Role of Intellectual Property in Brand Building’ (IP Tech Insider, 9 January 2026) , truy cập ngày 20/4/2026. [17] như trên, đoạn 16. [18] như trên, đoạn 16. [19] Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1989, có hiệu lực ngày 1 tháng 12 năm 1995) Điều 2 và Điều 3. [20] Thomas Margoni, ‘The Protection of Sports Events in the EU: Property, Intellectual Property, Unfair Competition and Special Forms of Protection’ (2016) 47 IIC 386. [21] Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022) về các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; và Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. [22] World Intellectual Property Organization, ‘Intellectual Property Powers Sports’ truy cập ngày 25/4/2026. [23] như trên, đoạn 22. [24] World Intellectual Property Organization, Jochen M Schaefer, ‘Clubbing together to tackle the illegal trade in sporting goods’ (WIPO Magazine, tháng 11 năm 2016). [25] Reuters Staff, ‘Adidas loses EU bid to extend three-stripe trademark’ (Reuters, ngày 19 tháng 6 năm 2019) truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2026. [26] Pro-Football, Inc. v. Blackhorse, 709 F App’x 182, 183–84. [27] Markenrechtlicher Schutz für den Deutschen Fußball-Bund (DFB), CaS 2017, 346. [28] Jacques de Werra, Reference Guide to Sustaining Sport and its Development through Intellectual Property Rights (World Intellectual Property Organization 2016). [29] như trên. [30] Red Points, ‘The impact of trademark infringement in the sports industry’ (Red Points Blog, 8 November 2023) https://www.redpoints.com/blog/trademark-infringement-in-sports, truy cập ngày 23/4/2026. [31] World Intellectual Property Organization, ‘Intellectual Property and Sports: Tracing the Connections’ (World Intellectual Property Day 2019) https://www.wipo.int/en/web/ipday/2019/ip_sports, truy cập ngày 23/4/2026. [32] EU Observatory, ‘The economic cost of IPR infringement in sports goods’, worldipreview.com, 1 June 2012, last viewed 21 September 2015, https://oami.europa.eu/ohimportal/en/web/observatory/ip-infringements_sports-goods. [33] Chiếm đoạt tên miền (Cybersquatting) là "hành vi đặt trước một tên miền trên Internet, đặc biệt là tên miền có thể liên quan đến nhãn hiệu của một công ty, và sau đó tìm cách kiếm lợi nhuận bằng cách bán hoặc cấp phép sử dụng tên miền đó cho công ty có quyền lợi trong việc được nhận diện bởi tên miền đó." [34] Barret R. Arthur, Always Protect Your Brand: Trademark Infringement Protection for Athletes using Social Media Sites, 10 DePaul J. Sports L. & Contemp. Probs. (2014) Available at: https://via.library.depaul.edu/jslcp/vol10/iss1/5, 84. [35] WIPO Arbitration and Mediation Center, ‘Record Number of Domain Name Cases filed with WIPO in 2023’. Truy cập tại: https://www.wipo.int/amc/en/domains/caseload.html. [36] American Marketing Association (2018), “The Cost of Defending Your Brand in Court” - ghi nhận hơn 3.000 vụ kiện vi phạm nhãn hiệu được nộp tại tòa án liên bang Hoa Kỳ mỗi năm, chi phí theo đuổi mỗi vụ từ 375.000 đến 2 triệu USD. Truy cập tại: https://www.ama.org/2018/09/12/hands-off-my-brand-the-financial-consequences-of-protecting-brands-through-trademark-infringement-lawsuits/. Xem thêm: U.S. IPR Center, “IPR Center seizes $97.8M in counterfeit sports merchandise during annual Operation Team Player”. Truy cập tại: https://www.ice.gov/news/releases/ipr-center-seizes-978m-counterfeit-sports-merchandise-during-annual-operation-team. [37] UpCounsel, “Sports Trademarks and Brand Protection in Athletics” (cập nhật 2025): nhãn hiệu thể thao bảo vệ các yếu tố định danh của vận động viên, đội và liên đoàn; hành vi vi phạm trực tiếp gây thiệt hại giá trị thương mại của hợp đồng tài trợ và hàng hóa. Truy cập tại: https://www.upcounsel.com/sport-trademarks. Xem thêm: World Cup Alerts, “Intellectual Property Rights for Professional Athletes: Protecting Your Name, Image, and Brand”. Truy cập tại: https://worldcupalerts.net/article/intellectual-property-and-trademark-rights-for-athletes. [38] Arsenal Football Club plc v Matthew Reed, Case C-206/01, Judgment of the Court (Fifth Chamber) of 12 November 2002, ECLI:EU:C:2002:651, đoạn 1, 2. [39] như trên, đoạn 15, 16. [40] như trên, đoạn 17, 19. [41] như trên, đoạn 48. [42] như trên, đoạn 50. [43] như trên, đoạn 61. [44] như trên, đoạn 68. [45] như trên đoạn 62. [46] Fédération Internationale de Football Association (FIFA) v Zamanda Garcia WIPO Case No D2023-2357 (WIPO Arbitration and Mediation Center, 2023), p 4. [47] như trên, p 5(1). [48] như trên, p 5(2). [49] như trên , p 5(3). [50] như trên, p 6(i). [51] như trên, p 6(ii). [52] ‘Những chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ’ (BCSI) https://bcsi.edu.vn/tin-tuc/so-huu-tri-tue/nhung-chinh-sach-cua-nha-nuoc-ve-so-huu-tri-tue.html truy cập ngày 22/4/2026. [53] S.H, ‘Sở hữu trí tuệ và góc nhìn cận cảnh trong lĩnh vực thể thao’ (Dân trí, 18/4/2019) https://dantri.com.vn/khoa-hoc/so-huu-tri-tue-va-goc-nhin-can-canh-trong-linh-vuc-the-thao-20190418072149243.htm truy cập ngày 22/4/2026. [54] Phân loại Nice về hàng hóa và dịch vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu (Bảng phân loại Nice). Bảng phân loại Nice được sử dụng để phân loại hàng hóa và dịch vụ trong đăng ký nhãn hiệu, qua đó xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu và tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập, thực thi quyền sở hữu trí tuệ. [55] World Intellectual Property Organization, ‘Phân loại Nice về hàng hóa và dịch vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu’ https://www.wipo.int/classifications/nice/en/ truy cập ngày 22/4/2026. [56] Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2025), Điều 96. [57] Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2025), Điều 74, Điều 75. [58] PV, ‘Chống xâm phạm sở hữu trí tuệ là nhiệm vụ chính của quản lý thị trường’ (VietnamPlus, 22/10/2021) https://www.vietnamplus.vn/chong-xam-pham-so-huu-tri-tue-la-nhiem-vu-chinh-cua-quan-ly-thi-truong-post748339.vnp truy cập ngày 22/4/2026. [59] Anh Tuấn và Ngọc Thi, ‘Triệt phá cơ sở sản xuất quần áo thể thao giả mạo nhãn hiệu’ (VTV, 29/10/2025) https://vtv.vn/triet-pha-co-so-san-xuat-qua n-ao-the-thao-gia-mao-nhan-hieu-100251028202805803.htm truy cập ngày 22/4/2026. [60] như trên. [61] Huế Minh, ‘Khởi tố đối tượng buôn bán hơn 35.000 bộ quần áo thể thao giả nhãn hiệu lớn’ (Thương hiệu & Công luận, 30/6/2025) https://thuonghieucongluan.com.vn/khoi-to-doi-tuong-buon-ban-hon-35-000-bo-quan-ao-the-thao-gia-nhan-hieu-lon-a268693.html truy cập ngày 22/4/2026. [62] Lê Văn Dũng, ‘Đội QLTT số 8: Xử phạt 01 cơ sở hành vi kinh doanh giày thể thao giả mạo nhãn hiệu’ (Cục Quản lý thị trường Nghệ An, 27/5/2025) https://nghean.dms.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/doi-qltt-so-8-xu-phat-01-co-so-hanh-vi-kinh-doanh-giay-the-thao-gia-mao-nhan-hieu-4605-1336.html truy cập ngày 22/4/2026. [63] ‘VFF lên tiếng về việc vi phạm bản quyền hình ảnh đội tuyển Việt Nam’ (Hà Nội Mới, 4/9/2020) https://hanoimoi.vn/vff-len-tieng-ve-viec-vi-pham-ban-quyen-hinh-anh-doi-tuyen-viet-nam-505465.html truy cập ngày 22/4/2026. [64] Vũ Chi Mai, ‘Thực trạng và giải pháp giải quyết tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam’ (Tạp chí Tòa án nhân dân, 2025) https://tapchitoaan.vn/thuc-trang-va-giai-phap-giai-quyet-tinh-trang-xam-pham-quyen-so-huu-tri-tue-trong-hoat-dong-thuong-mai-dien-tu-tai-viet-nam13291.html truy cập ngày 22/4/2026. [65] như trên.

  • [82] CƠ BẢN VỀ LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ

    Tác giả: Bùi Tú Uyên, Hà Kiều Anh, Bùi Phương Anh Mở đầu : Luật Hình sự Quốc tế là ngành luật đặc thù điều chỉnh việc xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự độc lập đối với các cá nhân có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự pháp lý toàn cầu. Nhằm hướng tới mục đích nghiên cứu cấu trúc nền tảng của ngành luật đặc biệt này, bài viết sẽ phân tích về những đặc trưng như nguồn, một số đặc điểm cơ bản và một số nguyên tắc chung của Luật Hình sự Quốc tế. Thông qua bài viết, nhóm tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ, khẳng định nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm hạn chế và khắc phục những vùng xám pháp lý trong quá trình nhận diện và xử lý những tội ác nghiêm trọng nhất.   Từ khóa:  luật hình sự, quốc tế, nguồn, nguyên tắc, đặc điểm, tòa án hình sự.  1. Khái niệm Luật Hình sự Quốc tế Dưới góc độ lý luận, khái niệm Luật Hình sự Quốc tế được tiếp cận tương đối đa dạng. Theo Antonio Cassese, đây là hệ thống quy phạm xác định các tội ác quốc tế và quy kết trách nhiệm cá nhân.[1] Gerhard Werle đồng thời nhấn mạnh chức năng của ngành luật này trong công cuộc xử lý các vi phạm nghiêm trọng nhất của công pháp quốc tế.[2] Từ các quan điểm được công nhận và sử dụng rộng rãi nói trên, có thể khái quát: Luật Hình sự Quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế nhằm điều chỉnh việc nhận diện và xử lý các tội phạm cốt lõi đe dọa an ninh nhân loại. Nội hàm trung tâm của khái niệm này chính là sự bác bỏ cơ chế trách nhiệm tập thể của quốc gia để quy kết trách nhiệm trực tiếp cho các thể nhân thực hiện hành vi phạm tội. 2. Nguồn của Luật Hình sự Quốc tế Là một nhánh của Công pháp Quốc tế với mối quan hệ hai chiều gắn bó (twofold relationship) với Công pháp, Luật hình sự quốc tế mang tính đặc thù cao với cấu trúc lai ghép (hybrid branch of law), được hình thành từ sự giao thoa giữa các khái niệm, nguyên tắc và các cấu trúc pháp lý bắt nguồn từ công pháp quốc tế và luật hình sự quốc gia cùng luật nhân quyền.[3] Hệ thống nguồn của Luật Hình sự Quốc tế về cơ bản xuất phát từ Điều 38(1) của Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), bao gồm điều ước, tập quán, nguyên tắc chung của pháp luật và các nguồn bổ trợ. Các nguồn này được pháp điển hóa rõ nét nhất tại Điều 21 của Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và được áp dụng theo một hệ thống thứ bậc chặt chẽ từ (1) Quy chế Rome, Các Yếu tố cấu thành tội phạm trong khuôn khổ ICC (ICC Elements of Crimes) và Quy tắc tố tụng và chứng cứ trong khuôn khổ ICC (ICC Rules of Procedure and Evidence); (2) Các điều ước quốc tế có liên quan cùng các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; (3) Các nguyên tắc chung của pháp luật được Tòa án rút ra từ luật quốc gia của các hệ thống pháp luật trên thế giới, bao gồm cả luật quốc gia của các nước lẽ ra có thẩm quyền tài phán đối với tội phạm đó (nếu phù hợp).[4] 2.1. Nguồn chính  2.1.1. Điều ước quốc tế Là nguồn luật thành văn mang tính nền tảng, điều ước quốc tế không chỉ xác định các quy tắc thực chất để định nghĩa tội phạm mà còn xác lập nghĩa vụ truy tố và trừng phạt của các quốc gia đối với tội phạm quốc tế.[5] Định hình trực tiếp nhất cho hệ thống này là các quy chế thành lập tòa án quốc tế, tiêu biểu như Quy chế Nuremberg, quy chế của các tòa đặc biệt như Tòa án Hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY), Rwanda (ICTR) và Quy chế Rome 1998 (ICC).[6] Cùng với đó là các điều ước quốc tế khác như Quy chế Hague 1907, các Công ước Geneva 1949, Công ước chống Diệt chủng 1948 và Công ước chống Tra tấn 1984.[7] a, Quy chế thành lập các toà án Hình sự Quốc tế Trong Luật Hình sự Quốc tế, các bản quy chế thành lập tòa án đóng vai trò là nguồn luật thành văn cơ bản nhất vì chúng trực tiếp ấn định thẩm quyền và định nghĩa các loại tội phạm.[8] Nền móng của nguồn luật này bắt nguồn từ Thỏa thuận London năm 1945, lập ra Tòa án Nuremberg thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, đánh dấu lần đầu tiên cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự trực tiếp trước pháp luật quốc tế.[9] Đến thập niên 1990, đối mặt với những hành vi tàn ác tại Nam Tư cũ và Rwanda, hệ thống nguồn chứng kiến một bước ngoặt mới khi Tòa án hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY) và Rwanda (ICTR) không được thành lập bằng các hiệp ước ký kết thông thường mà ra đời từ các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.[10] Sức mạnh pháp lý của các bản Quy chế này nằm ở chỗ chúng được ban hành dựa trên thẩm quyền cưỡng chế theo Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc, qua đó mang giá trị ràng buộc tuyệt đối với mọi quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc mà không cần thông qua quy trình phê chuẩn từng nước, được giới học giả đánh giá là có vị thế tương đương với một dạng “luật quốc tế thứ cấp”.[11] Bước tiến hiện đại nhất là Quy chế Rome năm 1998 thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), đây là một điều ước đa phương đồ sộ, pháp điển hóa vô cùng chi tiết các yếu tố cấu thành của các tội phạm cốt lõi.[12] Quy chế Rome là điều ước thành lập ICC, được thông qua vào ngày 17/7/1998 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2002. Bao gồm 128 điều, Quy chế Rome đặt nền tảng pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của ICC trong hệ thống công lý hình sự quốc tế đương đại.[13] Về nội dung, Quy chế Rome quy định một cách toàn diện về thẩm quyền của Tòa án Hình sự quốc tế, cơ cấu tổ chức, trình tự tố tụng, cũng như các nguyên tắc cơ bản chi phối việc truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân đối với các tội ác quốc tế nghiêm trọng.[14] Trọng tâm của Quy chế là việc xác định bốn nhóm tội phạm thuộc thẩm quyền của ICC, bao gồm tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội xâm lược,[15] đồng thời cụ thể hóa các yếu tố cấu thành của từng tội danh nhằm bảo đảm tính rõ ràng và khả năng tiên liệu của pháp luật.[16] Bên cạnh đó, Quy chế Rome ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự hiện đại như trách nhiệm hình sự cá nhân, nguyên tắc không hồi tố, suy đoán vô tội và quyền bào chữa của bị cáo.[17] Đặc biệt, Điều 21 thiết lập một hệ thống nguồn luật áp dụng riêng với trật tự ưu tiên rõ ràng,[18] bảo đảm hoạt động truy tố và xét xử của ICC được tiến hành trên cơ sở pháp luật, đồng thời dung hòa giữa mục tiêu chống miễn trừng phạt (combat impunity)[19] và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo.[20] b, Các điều ước quốc tế khác Nhóm các điều ước quốc tế khác tiêu biểu như Quy chế Hague 1907, các Công ước Geneva 1949, Công ước chống Diệt chủng 1948 hay Công ước chống Tra tấn 1984 có ý nghĩa rất quan trọng với tư cách là nguồn của luật hình sự quốc tế, vì chúng trực tiếp thiết lập các quy tắc thực chất của luật nhân đạo và định nghĩa các hành vi cấu thành tội phạm quốc tế. Trong thực tiễn xét xử, các tòa án quốc tế thường xuyên viện dẫn các điều ước này để giải thích những khái niệm pháp lý được quy định ẩn ý trong quy chế của chính mình, ví dụ như việc mượn Công ước Geneva để xác định đối tượng nào là “người được bảo vệ” hay “tài sản được bảo vệ”.[22] Tuy nhiên, một điểm hạn chế lớn của các văn kiện này là nội dung văn kiện thường chỉ đơn thuần đặt ra lệnh cấm hành vi (ví dụ: cấm giết tù binh) mà không hề quy định chi tiết về hậu quả hình sự hay điều kiện trừng phạt cá nhân vi phạm.[23] Để giải quyết sự thiếu hụt và tính chất thiếu xác định này, các thẩm phán tại các tòa án quốc gia và quốc tế buộc phải chủ động diễn giải, cụ thể hóa các quy tắc để lấp đầy khoảng trống pháp lý, từ đó mới có thể áp dụng các hình phạt thực tế đối với tội phạm.[24] 2.1.2. Tập quán quốc tế  Trong luật hình sự quốc tế, tập quán quốc tế đóng vai trò nền tảng để định hình các tội phạm cốt lõi và các nguyên tắc truy cứu trách nhiệm pháp lý.[25] Về mặt tội danh, tập quán không chỉ công nhận các quy định của Quy chế Hague 1907 và các Công ước Geneva 1949 là tội ác chiến tranh có thể áp dụng cho cả xung đột vũ trang quốc tế lẫn nội bộ,[26] mà còn kết thành các lệnh cấm cụ thể đối với việc sử dụng lính trẻ em, bạo lực tình dục và các loại vũ khí độc hại.[27] Bên cạnh đó, tập quán cũng định nghĩa rõ tội xâm lược, tội diệt chủng[28] và xác nhận rằng tội ác chống nhân loại có thể xảy ra ngay cả trong thời bình mà không cần có mối liên hệ với xung đột vũ trang.[29] Về mặt trách nhiệm hình sự, thực tiễn xét xử đã đúc kết các tập quán quan trọng, tiêu biểu là trách nhiệm của người chỉ huy đối với hành vi của cấp dưới và trách nhiệm cá nhân khi tham gia vào một kế hoạch tội phạm chung.[30] Tập quán cũng vạch ra giới hạn cho các biện pháp phòng vệ: mặc dù quyền tự vệ được pháp luật công nhận, nhưng những lý do như “bị ép buộc” hay “làm theo lệnh cấp trên” sẽ không giúp miễn trừ trách nhiệm nếu mệnh lệnh đó vi phạm pháp luật một cách rõ ràng hoặc liên quan đến việc sát hại thường dân vô tội.[31] 2.1.3. Các nguyên tắc pháp luật chung trong Luật Hình sự Quốc tế Hệ thống các nguyên tắc chung của pháp luật đóng vai trò cốt yếu trong việc lấp đầy các khoảng trống pháp lý khi các nguồn luật chính yếu như điều ước quốc tế hay luật tập quán chưa có quy định cụ thể. Nhóm nguyên tắc này trước hết bao gồm những quy phạm đặc thù được rút ra trực tiếp từ hệ thống quốc tế và các nguyên tắc hình sự nền tảng như suy đoán vô tội hay nguyên tắc không có luật thì không có tội.[32] Các nguyên tắc pháp luật được thừa nhận bởi các quốc gia mang tính chất bổ trợ và dự phòng, chỉ được ICC viện dẫn khi không thể sử dụng các nguồn khác.[33] Để áp dụng hiệu quả, Tòa án phải thực hiện phương pháp so sánh giữa các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, không chỉ hệ thống thông luật và dân luật mà còn bao gồm pháp luật các nước Hồi giáo, một số nước châu Á như Trung Quốc hay Nhật Bản, và Châu Phi nhằm tìm ra một điểm chung nhất, đồng thời đảm bảo nguyên tắc đó hoàn toàn nhất quán với luật pháp quốc tế.[34] Thực tiễn xét xử đã chứng minh sự vận dụng linh hoạt này qua vụ Prosecutor v. Anto Furundžija , nơi Tòa án đã dựa trên nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm con người và sự đồng thuận của các quốc gia để xác lập định nghĩa về tội hiếp dâm khi các nguồn luật chính còn bỏ ngỏ.[35] Tuy nhiên, phương pháp này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như trong vụ The Prosecutor v. Dražen Erdemović,  khi Toà án bất thành trong việc tìm kiếm một nguyên tắc chung do sự không thống nhất giữa các hệ thống pháp luật về việc liệu tình trạng bị cưỡng bức có được coi là lý do bào chữa để miễn trách nhiệm hình sự cho tội giết người hay không.[36] 2.2. Nguồn bổ trợ  2.2.1. Án lệ  Án lệ bao gồm các phán quyết của các tòa án quốc tế.[37] Vai trò của án lệ trong Luật Hình sự Quốc tế được ghi nhận trực tiếp trong các quy định pháp lý, theo Khoản 2 Điều 21 của Quy chế Rome, Tòa án có thể viện dẫn và áp dụng các nguyên tắc pháp lý đã được xác lập trong các phán quyết trước đó của mình.[38] Về mặt hình thức, các quyết định pháp lý không tự chúng cấu thành một nguồn luật độc lập mà chỉ là phương tiện bổ trợ.[39] Trong luật hình sự quốc tế, các tòa án không bị ràng buộc tuyệt đối bởi các phán quyết trước đó của chính mình (không áp dụng triệt để nguyên tắc stare decisis  của thông luật), nhưng các phán quyết này vẫn có giá trị thuyết phục cao.[40] Án lệ có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xác định sự tồn tại của tập quán quốc tế, đồng thời cung cấp cách giải thích phù hợp cho các quy định thường ngắn gọn và mơ hồ của các điều ước quốc tế.[41] Có ý kiến cho rằng, dựa trên các đặc điểm của Luật Hình sự Quốc tế, ta nên đề cao hơn giá trị của các phán quyết của các toà án quốc gia và quốc tế.[42] Bên cạnh đó, án lệ từ các tòa án quốc gia, quốc tế được coi là nguồn bằng chứng thực chất và chủ yếu về sự tồn tại của luật hình sự quốc tế.[43] 2.2.2. Học thuyết  Học thuyết, bao gồm các công trình nghiên cứu của những học giả và chuyên gia luật quốc tế có uy tín, đóng vai trò là một nguồn bổ trợ trong luật hình sự quốc tế.[44] Mặc dù bản thân các công trình này không trực tiếp tạo ra luật và có trọng lượng pháp lý thấp hơn so với án lệ, chúng vẫn đóng góp đáng kể vào việc nhận diện, giải thích và làm sáng tỏ các quy tắc pháp lý phức tạp của Luật Hình sự Quốc tế.[45] Tuy nhiên, trên thực tế, các tòa án thường rất thận trọng và có phần hạn chế khi viện dẫn các học thuyết, thường do các thẩm phán phải hết sức cẩn trọng để phân định rạch ròi giữa việc học giả đang mô tả chính xác thực trạng pháp luật hiện hành hay chỉ đang nêu lên quan điểm chủ quan của họ về việc luật nên được phát triển và thay đổi như thế nào. Sự cẩn trọng này là yêu cầu bắt buộc nhằm tránh việc tòa án vô tình áp dụng một quy tắc chưa thực sự tồn tại, qua đó bảo đảm quyền lợi của bị cáo và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc “không có tội nếu không có luật định” ( nullum crimen sine lege). [46] 3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Hình sự Quốc tế  3.1. Nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân  Nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Luật Hình sự Quốc tế, khẳng định rằng tội ác vi phạm luật quốc tế chỉ có thể được gây ra bởi con người, và chỉ khi các cá nhân phạm tội bị trừng phạt thì các điều khoản luật quốc tế mới được thực thi.[47] Chủ thể của luật quốc tế là các quốc gia và các cá nhân chỉ được xem như đối tượng chứ không sở hữu đầy đủ quyền và nghĩa vụ với tư cách là chủ thể của luật quốc tế,[48] do đó, hành vi vi phạm pháp luật quốc tế chỉ có thể cấu thành bởi một quốc gia theo luật quốc tế,[49] nhấn mạnh nguyên tắc trách nhiệm tập thể. Khác với Luật Quốc tế chung, Luật Hình sự quốc tế khẳng định rằng tội ác vi phạm pháp luật hình sự quốc tế chỉ có thể do con người gây ra,[50] việc trừng phạt các cá nhân do đó nhấn mạnh sự tồn tại của “lựa chọn đạo đức”[51] và tránh khỏi việc trừng phạt các cá nhân vô tội trong một tập thể.[52] Nguyên tắc này đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm hình sự của người chỉ huy và người đứng đầu, trong đó, Tòa án Nuremberg khẳng định trong Điều 6 của Hiến chương và phán quyết Nuremberg rằng: “Những người lãnh đạo, tổ chức, xúi giục và đồng phạm tham gia vào việc xây dựng hoặc thực hiện kế hoạch chung hoặc âm mưu phạm bất kỳ tội nào nêu trên đều phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi do bất kỳ người nào thực hiện trong quá trình thi hành kế hoạch đó.”[53] Trước thế kỷ 20, việc xác định trách nhiệm hình sự cá nhân trở nên khó khăn do không có tòa án nào áp dụng Luật Quốc tế cho các cá nhân. Ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý Thường trực trong vụ quan chức đường sắt Danzig đã đưa ra một ngoại lệ đối với quy tắc cá nhân chỉ là đối tượng của luật quốc tế trong trường hợp các bên đưa ra một hiệp ước xác định quyền và nghĩa vụ của cá nhân được thực thi bởi toà án quốc gia.[54] Đồng thời, Hiến chương và phán quyết của Tòa án Nuremberg truy tố các quan chức Đức Quốc xã và những người cộng tác với họ đã đưa ra nền tảng xác định các cá nhân phải chịu trách nhiệm về tội ác quốc tế và tội ác là do con người gây ra chứ không phải thực thể trừu tượng. Nguyên tắc này được củng cố bởi quyết định thành lập các Tòa án Quốc tế như Toà án Hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY),[55] Toà án Quốc tế dành cho Rwanda (ICTR)[56] và Quy chế Rome thành lập Toà án Hình sự Quốc tế (ICC).[57] 3.2. Nguyên tắc về tính hợp pháp: Không có luật, không có tội, không có phạt Nguyên tắc về tính hợp pháp theo Luật Hình sự Quốc tế là việc một người không phải chịu trách nhiệm hình sự cho bất cứ hành vi nào mà không cấu thành tội phạm hình sự theo luật quốc gia và luật quốc tế tại thời điểm hành vi đó được thực hiện,[58] được khẳng định tại Điều 23 Quy chế Rome thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế. Một người do đó chỉ có thể bị trừng phạt vì một hành vi đã được pháp điển hóa trong Luật tại thời điểm phạm tội ( lex scripta ), được thực hiện sau khi Luật có hiệu lực (lex praevia) , được xác định với đầy đủ chứng cứ và không được diễn giải theo nghĩa tương đồng (lex stricta) .[59] Nguyên tắc trên đồng thời liên hệ đến nguyên tắc không hồi tố (non-retroactivity), nguyên tắc cụ thể và cấm sự tương đồng.[60] Cụ thể, nguyên tắc này khẳng định không ai bị kết án vì một hành vi được không cấu thành tội phạm theo luật pháp tại thời điểm thực hiện (hay trước khi tội danh đó tồn tại).[61]Đồng thời, hành vi cấu thành tội phạm phải được xác định cụ thể,[62] phải được giải thích nghiêm ngặt và không được mở rộng bằng cách tương tự.[63] Nguồn gốc cơ bản đầu tiên của nguyên tắc tính hợp pháp được nhắc đến tại luật thứ hai của Ur-Nammu.[64] Nguyên tắc này trong Đại Hiến chương Magna Carta của Anh được khái quát hoá rằng không một người tự do nào có thể bị bắt giữ, trừ khi việc đó được thực hiện theo luật của quốc gia,[65] tuy nhiên nó không đủ để thiết lập đầy đủ về nguyên tắc này. Đến thời kỳ Khai sáng vào thế kỷ XVIII,  cách mạng công nghiệp lần đầu tiên mang đến nhu cầu tạo ra các khuôn khổ pháp lý để bảo vệ lợi ích kinh tế của tầng lớp trung lưu và chủ nghĩa cá nhân, nguyên tắc hợp pháp hiện đại mới ra đời.[66] Nguyên tắc này dần được pháp điển hóa trong khoảng thế kỷ XVIII-XIX ở các bộ luật khắp châu Âu,[67] từ đó trở thành một nguyên tắc cơ bản trong Luật Hình sự Quốc tế.  3.3. Nguyên tắc Ne bis in idem: Nguyên tắc không bị xét xử hoặc trừng phạt hai lần vì cùng một hành vi phạm tội Ne bis in idem  trong tiếng Latin là “không bị xét xử hoặc trừng phạt hai lần vì cùng một hành vi phạm tội”, do đó, nguyên tắc này trong Luật Hình sự Quốc tế cấm việc một người bị xét xử hai lần vì cùng một hành vi mà người đó đã bị kết án hoặc tuyên bố trắng án theo luật và thủ tục tố tụng hình sự,[68] nhằm mục đích bảo đảm công bằng đối với các bị cáo và bảo đảm điều tra kỹ lưỡng.[69] Nguyên tắc này bảo vệ cá nhân khỏi tình trạng bị truy tố vô hạn lần cho cùng một hành vi và chống lại khả năng lạm dụng thủ tục tố tụng hình sự của các công tố viên và của các bên dân sự có quyền khởi tố.[70] Theo nguyên tắc ne bis in idem , một cá nhân sẽ không bị xét xử hai lần[71] đối với các hành vi cũng vi phạm pháp luật hình sự quốc tế, bao gồm diệt chủng, tội ác vi phạm nhân đạo, tội ác chiến tranh và hành vi xâm lược. Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc trên: một là các thủ tục tại tòa án khác hướng đến việc bảo vệ người liên quan khỏi trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền của tòa án; hai là các thủ tục không được tiến hành độc lập hoặc công bằng theo các chuẩn mực tố tụng hợp pháp hoặc được tiến hành không phù hợp với ý định đưa người liên quan ra trước công lý.[72]  Hình thức sơ khai của nguyên tắc này ra đời từ Luật La Mã, phát triển qua thời kỳ Khai sáng trở thành công cụ bảo đảm quyền lợi cá nhân và được nhấn mạnh như một phần không thể thiếu của Luật Quốc tế nói chung trong các văn kiện quốc tế. Khái niệm “ idem crimen ” - cùng tội danh của nguyên tắc ne bis in idem đã được chuyển sang khái niệm “ idem factum ”  - cùng hành vi thực tế, được nhấn mạnh trong Điều 10 thành lập Toà án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ: “Không ai bị xét xử trước tòa án quốc gia về các hành vi cấu thành vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế theo Quy chế hiện hành nếu người đó đã bị Tòa án Quốc tế xét xử trước đó”  Trước khi tồn tại quy chế tòa ICTY, một bị cáo có thể bị kết tội nhiều hơn một tội danh đối với cũng một hành vi cơ bản, miễn là các yếu tố cấu thành tội danh đó khác nhau.[73] 4. Đặc điểm Luật Hình sự Quốc tế 4.1. Bản chất pháp lý đặc thù và tính chất hỗn hợp của Luật Hình sự Quốc tế Luật Hình sự Quốc tế cấu thành một cơ chế pháp lý mang tính chất đặc thù ( sui generis ), được hình thành trên cơ sở sự giao thoa giữa hai ngành luật công là Công pháp quốc tế và Luật hình sự quốc gia.[74] Chính vị thế này đã định hình nên tính lưỡng diện của Luật Hình sự Quốc tế. Một mặt, nó mang đậm màu sắc chính trị của mạng lưới quan hệ quốc tế; mặt khác, nó chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi các nguyên tắc pháp quyền và yêu cầu về tính xác định chặt chẽ của ngành luật hình sự.[75] Xét trên phương diện tố tụng, tính chất hỗn hợp của Luật Hình sự Quốc tế được thể hiện rõ nét qua sự dung hợp và tham chiếu song song hai dòng họ pháp luật lớn trên thế giới. Những văn bản mang tính nền tảng như Quy chế Rome không chỉ áp dụng thuần túy mô hình Tranh tụng của hệ thống Thông luật, cũng không sao chép nguyên mẫu mô hình Thẩm vấn của hệ thống Dân luật.[76] Thay vào đó, một cơ chế tố tụng “lai” đã được thiết lập nhằm trung hòa giữa yêu cầu trừng trị tội phạm và nhiệm vụ bảo đảm các quyền tố tụng cơ bản của con người theo đúng chuẩn mực quốc tế.[77] Đặc trưng này chính là cơ sở dẫn đến sự hình thành các quy phạm pháp luật có tính mở, đồng thời kiến tạo dư địa hữu dụng cho cơ quan tài phán trong việc giải thích luật và phát triển các nguyên tắc pháp lý thông qua thực tiễn xét xử.[78] 4.2. Sự xác lập trách nhiệm hình sự cá nhân và giới hạn của quyền miễn trừ Luật Hình sự Quốc tế hiện đại đánh dấu bước chuyển dịch mang tính nền tảng trong tư duy pháp lý toàn cầu thông qua việc thay thế mô hình trách nhiệm tập thể của quốc gia bằng cơ chế trách nhiệm pháp lý độc lập của cá nhân.[79] Thông qua việc xác lập quyền tài phán trực tiếp lên các thể nhân, luật pháp quốc tế đã vượt qua rào cản chủ quyền quốc gia để quy kết trách nhiệm cho chính những cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thay vì chấp nhận sự che chắn của các thực thể trừu tượng như Nhà nước. Theo đó, cơ chế này kiên quyết phủ nhận giá trị của học thuyết “Hành vi quốc gia” ( Act of State doctrine ) khi áp dụng vào lĩnh vực hình sự. Một cá nhân, nhờ vậy, không thể viện dẫn sự tuân thủ đối với quy định pháp luật trong nước hoặc mệnh lệnh của cấp trên nhằm hợp thức hóa các hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế cũng như để loại trừ trách nhiệm hình sự của bản thân.[80] Điểm tiến bộ nhất trong cơ chế này là việc khống chế triệt để các đặc quyền về miễn trừ tư pháp. Quy chế Rome đã pháp điển hóa nguyên tắc “không áp dụng miễn trừ dựa trên chức vụ”, khẳng định sự bình đẳng tuyệt đối của mọi cá nhân trước công lý quốc tế.[81] Do đó, vị trí chức vụ thậm chí bao gồm cả vị trí Nguyên thủ quốc gia hay người đứng đầu Chính phủ đương nhiệm đều không tạo ra rào cản tố tụng đối với thẩm quyền xét xử của Tòa án.[82]  4.3. Thẩm quyền theo đối tượng và cấu trúc đặc thù của các Tội phạm cốt lõi Thẩm quyền theo đối tượng ( jurisdiction ratione materiae ) của Luật Hình sự Quốc tế mang tính chọn lọc nghiêm ngặt, được giới hạn cụ thể trong bốn nhóm Tội phạm cốt lõi theo quy định của Quy chế Rome: Tội diệt chủng ( Genocide ), Tội ác chống lại loài người ( Crimes against Humanity ), Tội ác chiến tranh ( War Crimes ) và Tội xâm lược ( Crime of Aggression ). Thay vì điều chỉnh mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội, thẩm quyền xét xử của ngành luật này chỉ bao hàm những vi phạm nghiêm trọng nhất được cộng đồng quốc tế thừa nhận là mối đe dọa trực tiếp đến hòa bình, an ninh và các giá trị nhân văn cơ bản của nhân loại.[83] Đặc trưng pháp lý của nhóm tội danh này được thể hiện rõ nét thông qua các yếu tố cấu thành tội phạm. Bên cạnh các yếu tố cơ sở gồm hành vi khách quan ( actus reus ) và yếu tố chủ quan ( mens rea ), Luật Hình sự Quốc tế đòi hỏi sự hiện diện bắt buộc của các yếu tố bối cảnh, hay còn gọi là các yếu tố tiên quyết ( chapeau elements ).[84] Trên thực tế, chính các yếu tố này đóng vai trò phân định và tiên quyết trong việc chuyển đổi nhận định một hành vi phạm tội thông thường trở thành tội ác quốc tế. Một ví dụ điển hình chính là việc hành vi giết người chỉ cấu thành Tội ác chống lại loài người khi và chỉ khi nó được thực hiện như một phần của một cuộc tấn công trên diện rộng hoặc mang tính hệ thống nhắm vào thường dân.[85] Hệ quả tất yếu của tính chất này là sự xác lập thẩm quyền tài phán phổ quát cho các quốc gia, đồng thời loại trừ hoàn toàn sự ràng buộc về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.[86] 4.4. Cơ chế thực thi gián tiếp và Nguyên tắc bổ trợ về thẩm quyền Đặc điểm cấu trúc cơ bản nhằm phân biệt Luật Hình sự Quốc tế với pháp luật quốc gia là sự thiếu vắng một cơ quan cưỡng chế tập trung. Luật Hình sự Quốc tế không thiết lập lực lượng cảnh sát hay cơ quan thi hành án độc lập, mà vận hành dựa trên cơ chế thực thi gián tiếp.[87] Trong hệ thống này, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) nắm giữ thẩm quyền xét xử nhưng không có thẩm quyền cưỡng chế trực tiếp. Hiệu lực thực tế của các phán quyết phụ thuộc hoàn toàn vào nghĩa vụ hợp tác tự nguyện và tương trợ tư pháp của các Quốc gia thành viên, đặc biệt là xuyên suốt quá trình bắt giữ, dẫn độ và thu thập chứng cứ.[88] Nhằm giải quyết mối liên hệ phức tạp giữa chủ quyền quốc gia và thẩm quyền quốc tế, Quy chế Rome đã xác lập Nguyên tắc Bổ trợ trong đó khẳng định ICC không phải là cơ quan xét xử cấp cao hơn, cũng không có chức năng thay thế hệ thống tư pháp quốc gia.[89] Trái lại, thẩm quyền của ICC chỉ mang tính chất bổ sung; thẩm quyền ưu tiên xét xử trong đa số bối cảnh đều thuộc về quốc gia sở tại.[90] Về mặt tố tụng, Tòa án chỉ tuyên bố chấp nhận thụ lý vụ án khi chứng minh được quốc gia có thẩm quyền thuộc một trong hai trường hợp cụ thể. Thứ nhất,  là trường hợp “không muốn”, thể hiện qua việc quốc gia đương sự tiến hành quá trình tố tụng với thái độ thiếu thiện chí, mang tính chất giả tạo nhằm mục đích bao che cho người phạm tội hoặc trì hoãn việc xét xử một cách vô lý.[91] Một ví dụ điển hình có thể kể đến án lệ Al-Bashir , khi quy trình xét xử tại Sudan bị ICC đánh giá chỉ là hình thức nhằm che chắn cho các quan chức cấp cao tại địa phương.[92]  Thứ hai , là trường hợp “không thể”, xảy ra khi hệ thống tư pháp của quốc gia đương sự sụp đổ một phần hoặc toàn phần, dẫn đến việc không còn khả năng bắt giữ bị can, thu thập chứng cứ hoặc thực hiện các quy trình tố tụng cần thiết.[93] Trong án lệ Gaddafi , ICC đưa ra phán quyết rằng chính phủ Libya không thể thực thi công lý do hoàn toàn bất lực trong việc buộc lực lượng dân quân giao nộp bị can.[94] Quy định này vừa bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền tư pháp quốc gia, vừa ngăn chặn tình trạng tội phạm tự do ngoài vòng pháp luật đối với các tội ác quốc tế nghiêm trọng.[95] Kết luận: Tựu trung lại, sự hoàn thiện và phát triển không ngừng của Luật Hình sự Quốc tế đã và đang đánh dấu một bước chuyển tiếp quan trọng của hệ thống công pháp quốc tế nói chung và Luật Hình sự Quốc tế nói riêng, với cốt lõi là việc xác lập cơ chế trách nhiệm hình sự độc lập đối với từng thể nhân. Thông qua hệ thống nguồn luật mang tính hỗn hợp và nguyên tắc thẩm quyền bổ trợ, thiết chế này cung cấp cơ sở pháp lý để nhận diện và xử lý các nhóm tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất. Trên thực tế, những thách thức từ cơ chế thực thi gián tiếp vẫn còn là bài toán chưa có lời giải đối với các cơ quan tài phán nói riêng và hệ thống luật pháp quốc tế nói chung. Luật Hình sự Quốc tế, dù vậy, luôn đóng vai trò thiết yếu trong việc thu hẹp khoảng trống miễn trừ trách nhiệm và từng bước xóa bỏ nhiều vùng xám pháp lý; qua đó góp phần duy trì tinh thần thượng tôn pháp luật và nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh chung của cộng đồng quốc tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1][74][87]Antonio Cassese et al., Cassese’s International Criminal Law , tái bản lần thứ 3, (OUP, 2013). [2][3][74][83] Gerhard Werle and Florian Jeßberger, Principles of International Criminal Law  (4th edn, OUP 2020).  [3][5][6][7][8][9][11][21]-[24][32][34][35][36][39][45] International Criminal Law  (3rd edn, Oxford University Press 2013) [4][17][18][27][33][38][57][61][63][71][72][80][81]-[83][85][88]-[91][93] Rome Statute of the International Criminal Court [10] United Nations Security Council Resolution; United Nations Security Council Resolution. [11]-[16][19][20][25]-[31][37][43][44][46] Robert Cryer, Håkan Friman, Darryl Robinson and Elizabeth Wilmshurst, An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (Cambridge University Press 2010)  [35] Prosecutor v. Furundžija  (Judgment) ICTY Trial Chamber IT-95-17/1-T, 10/12/1998 [36][80] Prosecutor v. Erdemović  (Judgement) IT-96-22-A  (ICTY Appeals Chamber, 07/10/1997)  [47][53][79] Judgment of the International Military Tribunal, in The Trial of German Major War Criminals: Proceedings of the International Military Tribunal sitting at Nuremberg, Germany, Part 22 (HMSO 1950)  [48] Jan Klabbers, The Individual in International Law  (Cambridge University Press 2013) [49][50] International Law Commission, 'Draft Articles on Responsibility of States for Internationally Wrongful Acts' (2001). [51] UNGA, Principles of International Law Recognised in the Charter of the Nuremberg Tribunal and in the Judgement of the Tribunal (1950) UN Doc A/CN.4/22. [52] Criminal Responsibility of Individuals and International Law (1945) 12(4) University of Chicago Law Review. [54][65] Ademola Abass, International Law  (Oxford University Press) 131 [55] Statute of the International Tribunal for the Prosecution of Persons Responsible for Serious Violations of International Humanitarian Law Committed in the Territory of the Former Yugoslavia since 1991 (1993) UN Doc S/RES/827, art 7(1) [56] Statute of the International Criminal Tribunal for the Prosecution of Persons Responsible for Genocide and Other Serious Violations of International Humanitarian Law Committed in the Territory of Rwanda (1994) UN Doc S/RES/955 [58][68] International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 23 March 1976) [59][60]  Kai Ambos, General Principle of Criminal Law in the Rome Statute [62][84] International Criminal Court, Elements of Crimes , (2011) [64]  Russ Versteeg, Early Mesopotamian Law  (Carolina Academic Press 2000). [67] Andrew Ashworth, Principles of Criminal Law  (5th edn, OUP 2006), Anthony John Patrick Kenny, Freewill and Responsibility  (Routledge & Kegan Paul 1978) [69][75] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010).  [70] Green v. United States  355 US 184 (1957)  [73][75] Prosecutor v Kupreškić and others  (Trial Judgement) ICTY-95-16-T (14 January 2000); [73][78][79][84] Prosecutor v Tadić  (Decision on the Defence Motion on the Principle of Non bis in Idem) ICTY-94-1-T (14 November 1995) [76] Kai Ambos, "Indâternational Criminal Procedure: 'Adversarial', 'Inquisitorial' or Mixed?", International Criminal Law Review  Tập 3, (2003) [77] Prosecutor v Lubanga , ICC-01/04-01/06 A 5, Phán quyết, (ICC, 01/12/2014).; Prosecutor v Bemba , ICC-01/05-01/08 OA 3, Phán quyết, (ICC, 19/10/2010). [80] Prosecutor v. Blaškić , IT-95-14-A, Phán quyết, (ICTY, 29/07/2004) [82]  Prosecutor v. Al-Bashir , ICC-02/05-01/09 OA2, Phán quyết, (ICC, 06/05/2019). [85] Prosecutor v. Kunarac et al. , IT-96-23-T & IT-96-23/1-T, Phán quyết, (ICTY, 22/02/2001); Prosecutor v. Akayesu , ICTR-96-4-T, Phán quyết, (ICTR, 02/09/1998), đoạn 579-581. [86] Convention on the Non-Applicability of Statutory Limitations to War Crimes and Crimes against Humanity  1968. Case Concerning the Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of the Congo v. Belgium) , Phán quyết, Ý kiến độc lập của các Thẩm phán Higgins, Kooijmans và Buergenthal, (ICJ, 14/02/2002),  [88] Assembly of States Parties, "Report of the Bureau on non-cooperation," 18/11/2015. [91] Office of the Prosecutor, “Policy Paper on Preliminary Examinations,” 11/2013.   Prosecutor v. Al-Senussi , ICC-01/11-01/11 OA 6, Phán quyết, (ICC, 24/07/2014). [92] Prosecutor v. Omar Hassan Ahmad Al Bashir, ICC-02/05-01/09, Phán quyết, (ICC, 04/03/2009). [94] Prosecutor v. Saif Al-Islam Gaddafi , ICC-01/11-01/11 OA 6, Phán quyết, (ICC, 21/05/2014). [95] Mohamed El Zeidy, The Principle of Complementarity in International Criminal Law: Origin, Development and Practice , (Martinus Nijhoff, 2008).

  • [80] QUYỀN ĐƯỢC TIẾP CẬN NGUỒN NƯỚC TRONG XUNG ĐỘT VŨ TRANG THEO LUẬT QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Thanh Huyền, Thái Nguyệt Anh Tóm tắt:  Trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang hiện đại ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đến các nguồn tài nguyên thiết yếu, quyền được tiếp cận nguồn nước trở thành một vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với dân thường. Bài viết phân tích cơ sở pháp lý của quyền tiếp cận nước trong luật quốc tế, đặc biệt thông qua các chuẩn mực của Luật quốc tế về Quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ các tiêu chuẩn cấu thành nội hàm của quyền này như tính sẵn có, chất lượng và khả năng tiếp cận, đồng thời xem xét các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước và các công trình nước trong xung đột vũ trang. Bài viết cũng đề cập đến thực tiễn hiện nay, đặc biệt là hiện tượng “vũ khí hóa nguồn nước” trong một số cuộc xung đột vũ trang đương đại. Bài viết này cũng là bài viết kỷ niệm Ngày Nước Thế giới (22/3), nhằm góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang. Từ khóa: Quyền tiếp cận nguồn nước; Luật Nhân đạo quốc tế; xung đột vũ trang; bảo vệ nguồn nước; vũ khí hóa nguồn nước . 1. Quyền tiếp cận nước trong Luật Quốc tế  1.1.Cơ bản về quyền tiếp cận nước trong luật quốc tế Nước là một phần thiết yếu để duy trì sự sống của con người, và do đó, tiếp cận nước cũng là một nhu cầu cơ bản, và thiết yếu để có thể tồn tại và phát triển. Trên cơ sở đó, Quyền được tiếp cận nước sạch đã được ghi nhận là một trong những quyền con người căn bản, là nền tảng đối với sức khỏe, phẩm giá và sự thịnh vượng của con người. [1] Trong quá khứ, quyền tiếp cận nguồn nước chưa được quy định cụ thể mà được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người năm 1948 và Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR) dưới hình thức quyền hàm chứa trong các quy định về quyền sống, [2] quyền có mức sống thích đáng, [3] quyền về sức khỏe. [4] Đến năm 1977, quyền tiếp cận nguồn nước được khẳng định rõ ràng hơn trong Báo cáo của Hội nghị Nước Liên hợp quốc diễn ra vào năm 1977 tại Mar del Plata, cụ thể: “Tất cả mọi người, bất kể trình độ phát triển cũng như điều kiện xã hội và kinh tế của họ, đều có quyền được tiếp cận với nước uống với số lượng và chất lượng đáp ứng các nhu cầu cơ bản”. [5] Ngoài ra, Đại Hội đồng cũng thông qua Nghị quyết A/RES/64/292 về quyền tiếp cận nguồn nước vào 28/7/2010, [6] khẳng định thêm về quyền này trong bất kỳ bối cảnh nào, bao gồm cả xung đột vũ trang.  Các tiêu chuẩn về nguồn nước được mô tả rõ ràng hơn trong Bình luận chung số 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 2002 (ICESCR), bao gồm: (i) Tính sẵn có (Availability), (ii) Chất lượng (Quality), và (iii) Khả năng tiếp cận (Accessibility). [7]  (i) Về tính sẵn có (Availability): Ủy ban của Công ước cho rằng nguồn cung cấp nước phải đủ và liên tục cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, thông thường bao gồm: uống, vệ sinh cá nhân (personal sanitation),  chuẩn bị thực phẩm, vệ sinh cá nhân và hộ gia đình (personal and household hygiene) . [8] Lượng nước này phải phù hợp với các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và phù hợp với điều kiện sức khỏe, khí hậu và tính chất công việc của mỗi cá nhân. [9] (ii) Về chất lượng (Quality): Nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng như sự an toàn, không chứa các vi sinh vật, các chất hóa học hay phóng xạ có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người; các vấn đề về màu sắc và mùi vị ở mức chấp nhận được đối với mỗi mục đích sử dụng khác nhau của cá nhân và hộ gia đình. [10] (iii) Về khả năng tiếp cận (Accessibility): Nước và các cơ sở, dịch vụ cung cấp nước phải được tiếp cận công bằng, không phân biệt đối xử dựa trên bốn tiêu chí liên quan mật thiết với nhau:  Khả năng tiếp cận về mặt vật lý (physical accessibility): Trong bối cảnh xung đột vũ trang, nước và các cơ sở, dịch vụ cung cấp nước liên quan phải nằm trong phạm vi tiếp cận an toàn trong mỗi hộ gia đình, cơ sở giáo dục, nơi làm việc hoặc tại khu vực phụ cận an toàn của các địa điểm trên. [11] Việc tiếp cận nguồn nước về mặt vật lý không được phương hại đến sự an toàn cá nhân của dân thường trong bối cảnh xung đột vũ trang. [12] Khả năng tiếp cận về kinh tế (economic accessibility): Trong các tình huống này, các chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc tiếp cận nguồn nước phải ở mức có thể chi trả được cho tất cả mọi người. [13] Không phân biệt đối xử (non-discrimination): Việc tiếp cận nguồn nước không được dựa trên bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, đặc biệt đối với những nhóm người dễ bị tổn thương như người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ. [14] Khả năng tiếp cận thông tin (Information accessibility): Khả năng tiếp cận thông tin bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt các thông tin liên quan đến các vấn đề về nước. [15] 1.2. Quyền tiếp cận nước đặt trong bối cảnh xung đột vũ trang Trong bối cảnh xung đột vũ trang, quyền được tiếp cận nguồn nước được coi là một quyền cơ bản và thiết yếu cho cả dân thường, tù binh chiến tranh. [16] Nguồn nước, trong bối cảnh này, được xem như một nguồn tài nguyên bị chính trị hóa và an ninh hóa bởi các bên tham chiến, bất kể trong xung đột vũ trang quốc tế (IAC) hay xung đột vũ trang phi quốc tế (NIAC). [17] Trong các cuộc xung đột, Công ước Geneva (IV) liên quan đến việc bảo vệ dân thường trong thời chiến năm 1949 cũng đã quy định về việc tiếp cận nguồn nước cho các đối tượng dân sự. Cụ thể, các lực lượng chiếm đóng có nghĩa vụ đảm bảo và không trưng dụng lương thực của dân thường, [18] bao gồm nước uống. [19] Bên cạnh đó, nguồn nước được sử dụng cho nhu cầu vệ sinh cá nhân [20] và nhu cầu thực phẩm [21] cũng cần được đảm bảo. Ngoài các quy định liên quan đến nguồn nước sử dụng cho nhu cầu sống còn của dân thường được đề cập ở Công ước Geneva (IV), Nghị định thư bổ sung I năm 1977 của Công ước Geneva năm 1949 đã mở rộng thêm về việc bảo vệ các nguồn cung cấp nước uống, công trình thủy lợi dân sự phục vụ mục đích tưới tiêu, chăn nuôi gia súc. [22] Ngoài ra, các quy định về việc cấm phá hủy các đê, đập bất kể trong trường hợp nào bao gồm cả  mục đích quân sự [23] cũng được đề cập. Bên cạnh đối tượng dân thường, trong các cuộc xung đột vũ trang, tù binh cũng có quyền tiếp cận nước sạch trong quá trình sơ tán, [24] vấn đề thực phẩm [25] và vệ sinh cá nhân [26] được quy định cụ thể trong Công ước Geneva (III) về đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh.  2. Bảo vệ nguồn nước trong Luật Nhân đạo quốc tế  Trong Luật Nhân đạo quốc tế, việc bảo vệ nguồn nước và các công trình liên quan đến nước được thể hiện thông qua nhiều quy định nhằm ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến nguồn nước cần thiết cho sự sống của dân thường và binh lính trong xung đột vũ trang, cụ thể: (i) Cấm làm cho nguồn nước trở nên không thích hợp để sử dụng; (ii) Cấm nhắm mục tiêu vào nguồn nước hoặc các công trình trên mặt nước; (iii) Cấm phá hủy các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường; và (iv) Cấm tấn công các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm.  2.1. Cấm làm cho nguồn nước trở nên không thích hợp để sử dụng Trong các cuộc xung đột vũ trang, Quy tắc Berlin về tài nguyên nước năm 2004 (sau đây gọi tắt là “Quy tắc Berlin”) quy định các bên tham chiến không được đầu độc hoặc làm cho nguồn nước thiết yếu cho sức khỏe và sự sống còn của dân thường trở nên không thích hợp để sử dụng. [27] Ngoài quy định trên, việc cấm đầu độc nguồn nước còn là quy tắc của tập quán quốc tế được thừa nhận rộng rãi, [28] được ghi nhận ở Công ước La Hay (IV) về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền và Phụ lục của Công ước: Quy chế về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền năm 1907 (sau đây gọi tắt là “Công ước La Hay (IV)”)  về việc cấm “sử dụng thuốc độc hoặc vũ khí có độc”. [29] Trước đó, Dự thảo Tuyên bố Brussels về các luật và tập quán chiến tranh năm 1874 cũng có quy định tương tự về vấn đề này. [30] Mặc dù các văn bản trước Quy tắc Berlin về tài nguyên nước không đề cập trực tiếp đến nguồn nước, các quy định này vẫn phù hợp bởi nó có phạm vi áp dụng tổng quát và mở rộng đối với tất cả các nhu cầu sống còn của dân thường, trong đó có nguồn nước. [31] 2.2. Cấm nhắm mục tiêu vào nguồn nước hoặc các công trình trên mặt nước của đối phương Nguyên tắc này được quy định tại Điều 51 Quy tắc Berlin, cụ thể gồm:  (i) Các bên tham chiến không được phép phá hủy hoặc làm chuyển hướng nguồn nước, hoặc phá hủy các công trình nước, cho các mục đích quân sự hoặc như một biện pháp trả đũa, nếu các hành động đó gây ra sự đau khổ không tương xứng cho dân thường; [32] (ii) Trong bất kỳ trường hợp nào, các bên tham chiến không được tấn công, phá hủy, di dời hoặc làm vô hiệu hóa các nguồn nước và công trình nước thiết yếu cho sức khỏe và sự sinh tồn của dân cư dân sự, nếu các hành động đó có thể được dự đoán là sẽ khiến dân cư dân sự rơi vào tình trạng thiếu nước không thỏa đáng đến mức dẫn tới tử vong do thiếu nước hoặc buộc họ phải di dời; [33] (iii) Ghi nhận các yêu cầu sống còn của bất kỳ bên xung đột nào trong việc phòng thủ lãnh thổ quốc gia chống lại sự xâm lược, một bên xung đột có thể tạm đình chỉ các lệnh cấm quy định tại khoản 1 và khoản 2 trong phạm vi các lãnh thổ dưới sự kiểm soát của chính mình khi có yêu cầu bởi nhu cầu quân sự cấp thiết; [34] và  (iv) Trong bất kỳ tình huống nào, nguồn nước và các công trình nước phải được hưởng sự bảo hộ theo các nguyên tắc và quy tắc của luật quốc tế áp dụng trong chiến tranh hoặc xung đột vũ trang, và không được sử dụng để vi phạm các nguyên tắc và quy tắc đó. [35] Việc bảo vệ nguồn nước và các công trình thủy lợi không chỉ dừng lại ở các lệnh cấm hành động trực tiếp mà còn được cụ thể hóa qua nguyên tắc tỷ lệ và bảo vệ nhu cầu sinh tồn của dân cư. [36] Ngoài ra, Công ước La Hay (IV) năm 1907 cũng có quy định tương tự tại Điều 23(g) trong các cuộc xung đột. [37] Việc các văn bản trên quy định nguồn nước phải được hưởng chế độ bảo hộ đặc biệt, tách biệt khỏi các mục tiêu quân sự nhằm duy trì các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu trong xung đột và tránh gây tổn thương cho các đối tượng dân sự.  2.3. Cấm phá hủy các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường Về mặt nguyên tắc tập quán, các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường là các vật thể dân sự và không thể được tấn công. [38] Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 14 Nghị định thư bổ sung II và Điều 54(2) Nghị định thư bổ sung I năm 1977 cho Công ước Geneva nhằm bảo vệ những đối tượng thiết yếu cho sự sống còn của dân thường trong bối cảnh xung đột vũ trang. Theo đó mọi hành vi tấn công, phá hủy, di dời hoặc làm vô hiệu hóa các đối tượng thiết yếu cho sự sống còn của dân thường bao gồm lương thực, đất nông nghiệp, cây trồng, gia súc, cũng như các công trình và nguồn cung cấp nước, công trình thủy lợi đều bị cấm. [39]   Từ góc độ nội hàm, khái niệm “đối tượng thiết yếu của dân thường” được hiểu theo nghĩa rộng, bao trùm cả các nguồn tài nguyên đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tồn tối thiểu, đặc biệt chú trọng đến nước và hệ thống thủy lợi. [40] Bên cạnh đó, luật Nhân đạo quốc tế có quy định về một số ngoại lệ cụ thể tại Điều 54(5) Nghị định thư I cho phép trong những hoàn cảnh đặc biệt, quốc gia có thể tiến hành các biện pháp ảnh hưởng đến các công trình thủy lợi như một hình thức tự vệ quốc gia, với điều kiện tồn tại nhu cầu quân sự cấp bách và mang tính bắt buộc. Đồng thời, luật quốc tế cũng không cấm việc từ chối cung cấp nước cho lực lượng vũ trang của đối phương, miễn là các biện pháp đó không ảnh hưởng đến sự sống còn của dân thường. [41] Một số tài liệu quân sự của quốc gia, chẳng hạn như sổ tay Hướng dẫn Chiến trường của Quân đội Hoa Kỳ thậm chí còn thừa nhận khả năng thực hiện các biện pháp như chuyển hướng dòng chảy hoặc làm suy giảm nguồn nước, với điều kiện các nguồn này không mang tính thiết yếu đối với dân thường. [42] 2.4. Cấm tấn công các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm (dangerous forces)   Liên quan tới việc bảo vệ các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm, Điều 56 của Nghị định thư bổ sung I năm 1977 tiếp tục củng cố nghĩa vụ bảo vệ đối với đập nước, đê điều và nhà máy điện hạt nhân. Cụ thể bao gồm các công trình hoặc cơ sở chứa các nguồn năng lượng nguy hiểm, cụ thể là đập, đê và nhà máy điện hạt nhân. [43] Thêm vào đó, ngay cả khi đây là các mục tiêu quân sự, việc tấn công chúng vẫn bị cấm nếu hành động đó có thể giải phóng các lực lượng nguy hiểm và hậu quả là gây thiệt hại nặng nề cho dân thường. [44] Quyền miễn trừ tấn công chỉ được bãi bỏ khi một trong các công trình, cơ sở hoặc cơ sở đó được sử dụng thường xuyên, đáng kể và trực tiếp để hỗ trợ các hoạt động quân sự và nếu tấn công là cách khả thi duy nhất để chấm dứt sự hỗ trợ đó. [45] 3. Thực trạng quyền tiếp cận và bảo vệ nguồn nước trong xung đột vũ trang   3.1. Vấn đề “Vũ khí hóa nguồn nước” trong xung đột vũ trang (Water Weaponization) Trong bối cảnh các xung đột vũ trang hiện đại ngày càng mang tính phi đối xứng và kéo dài, nguồn nước không chỉ còn là một tài nguyên thiết yếu mà ngày càng bị các quốc gia biến thành công cụ chiến lược phục vụ cho mục tiêu quân sự và chính trị. Hiện tượng này thường được gọi là “vũ khí hóa nguồn nước” (water weaponization), được hiểu là việc sử dụng nước và các hệ thống cấp nước như công cụ hoặc vũ khí trong các cuộc xung đột vũ trang. [46] Về mặt quân sự, các chiến thuật thường bao gồm việc cố ý gây ngập lụt thông qua phá hủy hệ thống đập và đê [47], làm ngập các khu vực canh tác để tạo tình trạng thiếu hụt lương thực [48], làm cạn kiệt tài nguyên nước tại các khu vực bị kiểm soát và làm ô nhiễm các nguồn nước bằng dầu, xác chết và chất độc hại. [49] Tuy nhiên các mục tiêu về mặt quân sự thường chỉ đóng vai trò như các công cụ ngắn hạn để phục vụ mục đích rộng hơn về mặt chính trị. Thuật ngữ “chính trị nguồn nước” (hydropolitics) gắn với việc việc thao túng hạn chế nguồn nước thông qua các thỏa thuận hợp tác không công bằng và các quyết định bất cân xứng giữa các chủ thể. [50] Có thể lấy ví dụ bằng thỏa thuận đa phương giữa Israel, Jordan và Tổ chức Giải phóng Palestine đã hạn chế đáng kể quyền tiếp cận của người Palestine đối với sông Jordan cũng như nguồn nước ngầm, qua đó đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng quốc gia của Israel. [51] Những hành vi này đặt ra thách thức nghiêm trọng với khuôn khổ của luật nhân đạo quốc tế đặc biệt là các quy định liên quan đến bảo vệ dân thường và các đối tượng thiết yếu cho sự sống còn.[52] Mặc dù các quy phạm như Điều 54 của Nghị định thư bổ sung I năm 1977 và Điều 14 của Nghị định thư bổ sung II năm 1977 đã nghiêm cấm việc sử dụng đói khát như một phương thức chiến tranh, việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi các bên tham chiến viện dẫn lý do quân sự để biện minh cho hành vi của mình. Thêm vào đó rất khó để phân biệt tính chất của các công trình nước trong chiến tranh khi vừa phục vụ mục tiêu dân sự vừa hỗ trợ hoạt động quân sự. Thực tiễn tại khu vực Trung Đông cho thấy nước ngày càng bị sử dụng như một công cụ chiến tranh, thông qua các phương thức như làm ô nhiễm nguồn nước, gây tắc nghẽn hệ thống cấp nước hoặc tạo ra lũ lụt có chủ đích.[53] Những hành vi này không chỉ gây hậu quả nhân đạo nghiêm trọng mà còn đặt ra thách thức trong việc bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật nhân đạo quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc phân biệt, tương xứng và nghĩa vụ thận trọng.[54] Một minh chứng điển hình có thể thấy trong xung đột tại Ukraine, khi quân đội nước này đã kích nổ đập trên sông Irpin vào tháng 2/2022 để làm ngập lụt hàng ngàn mẫu đất, ngăn xe tăng Nga tiến vào thủ đô Kiev (Kyiv).[55] Dù biện pháp này mang lại lợi thế quân sự nhất định, song cũng làm dấy lên tranh luận pháp lý đáng kể bởi các quy định bảo vệ đặc biệt của luật nhân đạo quốc tế chủ yếu áp dụng đối với các hành vi “tấn công”.[56] Trong khi đó, việc một quốc gia tự phá hủy cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ của mình vì nhu cầu quân sự cấp bách thường không được coi là “tấn công” theo nghĩa hẹp, ngay cả khi gây thiệt hại lớn cho dân thường. Tương tự, trong trường hợp đập Nova Kakhovka, phía Nga có thể lập luận rằng việc phá hủy công trình khi đang nằm dưới sự kiểm soát của mình là một hành vi phá hoại nội bộ, thay vì là một cuộc tấn công quân sự chống lại đối phương.[57] Cách diễn giải này trên thực tế có thể được sử dụng nhằm né tránh việc áp dụng các tiêu chuẩn bảo vệ nghiêm ngặt của luật nhân đạo quốc tế. Điều này tạo ra một “vùng xám pháp lý”, trong đó các hành vi vũ khí hóa nguồn nước không dễ dàng bị phân loại hoặc đánh giá theo các khuôn khổ pháp lý hiện hành. Hệ quả là, mặc dù hậu quả nhân đạo gây ra là hết sức nghiêm trọng, việc xác định vi phạm và truy cứu trách nhiệm pháp lý vẫn gặp nhiều trở ngại. Từ góc độ thực tiễn, nhiều cuộc xung đột gần đây cho thấy xu hướng gia tăng của việc sử dụng nước như một công cụ chiến tranh, qua đó làm nổi bật khoảng cách giữa quy phạm pháp lý hiện hành và thực tiễn áp dụng. 3.2. Vấn đề bảo vệ nguồn nước trong xung đột vũ trang  Trước những thách thức ngày càng gia tăng liên quan đến việc vũ khí hóa nguồn nước, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực nhằm củng cố cơ chế bảo vệ tài nguyên này trong bối cảnh xung đột vũ trang. Một trong những diễn đàn đáng chú ý là các cuộc họp theo Công thức Arria của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tiêu biểu là phiên họp về chủ đề “Protecting Water in Armed Conflicts” do Slovenia cùng nhiều quốc gia đồng tổ chức và nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ cả các nước thành viên và không thành viên Hội đồng Bảo an,[58] cho thấy mức độ quan tâm ngày càng gia tăng đối với vấn đề này. Sự tham gia của các tổ chức quốc tế chủ chốt như Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc không chỉ phản ánh tính chất liên ngành của vấn đề, mà còn nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa an ninh nguồn nước, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ dân thường.[59] Các tài liệu chuẩn bị cho cuộc họp đã chỉ ra rằng nước đang ngày càng trở thành “vừa là nạn nhân, vừa là công cụ của chiến tranh”, khi các cơ sở hạ tầng nước bị tấn công, phá hủy hoặc làm gián đoạn, gây ra những hậu quả nhân đạo nghiêm trọng.[60] Điều này phù hợp với xu hướng được ghi nhận trong nhiều báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình trạng khan hiếm nước và mất an ninh lương thực trong các khu vực xung đột như Gaza, Sudan hay Syria.  Đây cũng là minh chứng cho thấy xu hướng ngày càng gia tăng của cộng đồng quốc tế về vấn đề bảo vệ nguồn nước tại các điểm nóng về xung đột vũ trang nhưng thực tế vẫn chỉ đang mang tính khuyến nghị và chưa có cơ chế rõ ràng đảm bảo tính thực thi. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường trách nhiệm giải trình nhằm bảo đảm rằng nguồn nước với tư cách là điều kiện sống thiết yếu  được bảo vệ một cách thực chất trong các tình huống xung đột vũ trang.  4. Kết luận  Quyền được tiếp cận nguồn nước trong xung đột vũ trang là một quyền thiết yếu bảo đảm các điều kiện sinh tồn tối thiểu cho con người, được ghi nhận trong nhiều quy phạm của luật quốc tế. Thông qua các chuẩn mực của Luật quốc tế về Quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế, nguồn nước và các công trình liên quan được đặt dưới sự bảo vệ nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của chiến tranh đối với dân thường và các đối tượng được bảo hộ. Tuy nhiên, thực tiễn các cuộc xung đột hiện nay cho thấy nguồn nước vẫn có nguy cơ bị nhắm mục tiêu hoặc bị “vũ khí hóa”, dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng đối với đời sống con người và môi trường. Do đó, việc củng cố và bảo đảm tuân thủ các quy định của luật quốc tế liên quan đến bảo vệ nguồn nước là cần thiết nhằm duy trì các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu và bảo vệ quyền con người ngay cả trong bối cảnh xung đột vũ trang. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] UN Water, Human Rights to Water and Sanitation , ( UN Water ), https://www.unwater.org/water-facts/human-rights-water-and-sanitation , truy cập ngày 20/03/2026. [2] Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người 1948, Điều 3.  [3][4]  Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội 1966, Điều 11(1), Điều 12(1).  [5]  Nguyên văn bằng tiếng Anh: “ All peoples, whatever their stage of development and their social and economic conditions, have the right to have access to drinking water in quantities and of a quality equal to their basic needs ”. Xem thêm tại Báo cáo Hội nghị Nước Liên hợp quốc 1977, Nghị quyết II về Cung cấp nước cho cộng đồng. [6] Đại Hội đồng, Nghị quyết A/RES/64/292 về Quyền con người đối với nguồn nước và vệ sinh.  [7] [8] [9] [10] [11][12][13][14][15] Bình luận chung số 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 2002, đoạn 12.  [8] Trong bối cảnh này, “uống” có nghĩa là nước được sử dụng để tiêu thụ thông qua đồ uống và thực phẩm. “Vệ sinh cá nhân” (personal sanitation)  có nghĩa là việc xử lý chất thải của con người. Nước cần thiết cho vệ sinh cá nhân khi các phương thức vệ sinh dựa trên nước được áp dụng. “Chuẩn bị thực phẩm” bao gồm vệ sinh thực phẩm và việc chế biến thực phẩm, dù nước được sử dụng như một thành phần trong thực phẩm hay chỉ tiếp xúc với thực phẩm. “Vệ sinh cá nhân và hộ gia đình” (personal and household hygiene)  có nghĩa là sự sạch sẽ của cá nhân và vệ sinh của môi trường sinh hoạt trong gia đình . [9] Xem thêm J. Bartram and G. Howard, “Domestic water quantity, service level and health: what should be the goal for water and health sectors”, WHO, 2002.  [10] Xem thêm WHO, Guidelines for drinking water quality, ấn bản lần thứ 2, tập 1-3 (Geneva, 1993).  [16]  Mara Tignino, ‘Water in Armed Conflicts’ (International Institute of Humanitarian Law, 2024)   https://iihl.org/mara-tignino-water-in-armed-conflicts/   truy cập ngày 18/03/2026. [17] Mark Zeitoun, Karim Eid-Sabbagh, and Jeremy Loveless, “The analytical framework of water and armed conflict: a focus on the 2006 Summer War between Công ước Geneva (IV) năm 1949 về việc bảo vệ dân thường trong thời chiến đã quy định về việc tiếp cận nguồn nước cho các đối tượng dân sự trong thời chiến. Israel and Lebanon”, tr.24.  [18] [20][21][22]Công ước Geneva (IV) liên quan đến việc bảo vệ dân thường trong thời chiến, Điều 55, Điều 85(3),  Điều 89(3).  [19] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Bình luận năm 2025 về Điều 55 Công ước Geneva IV năm 1949 liên quan đến việc bảo vệ thường dân trong thời chiến   https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/gciv-1949/article-55/commentary/2025  truy cập 20/3/2026. Xem thêm Mara Tignino,   ‘Water, international peace, and security’ , International Review of the Red Cross,  Vol. 92, No. 879, September 2010, tr. 647-674 .  [23]  Nghị định thư bổ sung I, Điều 56.  [24][25][26] Công ước Geneva (III) về đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh, Điều 20(1), Điều 26(3), Điều 29(3).  [27] [32] [33][34][35] Quy tắc Berlin về tài nguyên nước 2004, Điều 50, Điều 51.  [28] [36] [44] [45] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), “Water and Armed Conflicts” , Case Study trong bộ tài liệu How Does Law Protect in War?   https://casebook.icrc.org/case-study/water-and-armed-conflicts  truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026. [29] [37]  Công ước La Hay (IV) về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền và Phụ lục của Công ước: Quy chế về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền 1907, Điều 23(a),(g). Xem thêm  Ameur Zemmali, ‘The Protection of Water in Times of Armed Conflict’ (1995) 9 International Review of the Red Cross   550 , tr. 552.   [30] Dự thảo Tuyên bố Brussels về các luật và tập quán chiến tranh 1874, Điều 13(a).  [31]  Ameur Zemmali, ‘The Protection of Water in Times of Armed Conflict’ (1995) 9 International Review of the Red Cross  550, tr. 553.  [38]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Luật Nhân đạo Quốc tế tập quán, Nguyên tắc phân biệt giữa mục tiêu dân sự và mục tiêu quân sự , https://ihl-databases.icrc.org/en/customary-ihl/v1/rule7  truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2026. [39]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) Bình luận năm 1987  về Điều 54 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư I), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/api-1977/article-54/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [40]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Bình luận năm 1987 về Điều 14 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư II), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/apii-1977/article-14/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [41] Yoram Dinstein, Siege Warfare and the Starvation of Civilians, in humanitarian law of armed conflict: challenges ahead ; frits kalshoven 145-46 (Astrid Delissen & Gerard Tania eds 1991)  [42] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Обычное мгп , Практика, связанная с Норма 54, Attacks against Objects Indispensable to the Survival of the Civilian Population,   https://ihl-databases.icrc.org/ru/customary-ihl/v2/rule54  , truy cập ngày 19/3/2026. [43]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) Bình luận năm 1987  về Điều 56 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư I), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/api-1977/article-54/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [46]  Paola Gaeta and Etienne Henry, ‘Hands Off Water in War: Weaponization of Water in the Occupied Palestinian Territory’ Opinio Juris (2025). https://opiniojuris.org/2025/07/24/hands-off-water-in-war-weaponization-of-water-in-the-occupied-palestinian-territory/ .  truy cập ngày 19/3/2026. [47] Peter H Gleick, Rivers and Water Systems as Weapons and Casualties of the Russia-Ukraine War  (2023) 11(10) Earth’s Future. [48] Cecilia Grech-Madin, Water and Warfare: The Evolution and Operation of the Water Taboo  (Routledge 2021) 84-125.  [49] Michael D King,  The Weaponization of Water in Syria and Iraq (2015) 153-69; Pacific Institute, The World’s Water. [50]  Peter P Mollinga, Water and Politics: Levels, Rational Choice and South Indian Canal Irrigation (2001) 33(8-9) Futures 733-52. [51] Mark Zeitoun and others, Analysis for Water Conflict Transformation  (2020) 45(4) Water International 365-84;  xem them  James Fergusson, In Search of the River Jordan: A Story of Palestine, Israel and the Struggle for Water  (Yale University Press 2023). [52]  Geneva Academy of International Humanitarian Law and Human Rights, Water Wars: How Sudan’s Conflict Weaponizes a Basic Human Need  (2025) https://geneva-academy.ch/water-wars-how-sudans-conflict-weaponizes-a-basic-human-need/  truy cập ngày 21/3/2026. [53][54] Yedur Mihir and Emin Carpentier, The Weaponization of Water: Water Politics in the Middle East,  Oxford Political Review (2023) https://oxfordpoliticalreview.com/2023/06/24/the-weaponization-of-water-water-politics-in-the-middle-east/   truy cập ngày 20/3/2026. [55] Antonia Zimmermann, Russia’s war on water in Ukraine  (2023) https://www.politico.eu/article/russias-war-on-water-in-ukraine ? truy cập ngày 21/3/2026. [56]  Agnieszka Szpak. The use of Water as a Weapon under International Humanitarian law with special emphasis on the destruction of the Nova Kakhovka Dam. (Studia Iuridica, 2024) https://doi.org/10.31338/2544-3135.si.2024-103.4   tr.67 [57] Milanovic M. The Destruction of the Nova Kakhovka Dam and International Humanitarian Law: Some Preliminary Thoughts,  (2023) https://www.ejiltalk.org/the-destruction-of-thenova-kakhovka-dam-and-international-humanitarian-law-some-preliminary-thoughts/  truy cập ngày 21/3/2026. [58][59]  Security Council Report, Arria-Formula Meeting on Protecting Water in Armed Conflict  (2025) https://www.securitycouncilreport.org/whatsinblue/2025/05/arria-formula-meeting-on-protecting-water-in-armed-conflict.php   truy cập ngày 21/3/2026. [60]  Slovenia, Protecting Water in Armed Conflict: Protecting Civilian Lives, https://buildingtrust.si/protecting-water-in-armed-conflict-protecting-civilian-lives/  truy cập ngày 21/3/2026.

  • [78] CƠ BẢN VỀ CÁC TỘI PHẠM QUỐC TẾ

    Tác giả:   Thái Nguyệt Anh, Cao Ngọc Khánh Linh Tóm tắt:  Luật Hình sự Quốc tế hiện đại đang phát triển ngày càng mạnh mẽ và trở thành một phần quan trọng trong luật pháp quốc tế, được xây dựng trên nhu cầu cấp thiết của cộng đồng nhằm trừng trị những tội ác nghiêm trọng, bảo vệ nền hòa bình và an ninh nhân loại. Trong quá trình hoàn thiện Luật Hình sự Quốc tế, sự ra đời của Quy chế Rome năm 1998 về thành lập Tòa án Hình sự quốc tế ICC đã xác lập thẩm quyền xét xử những tội ác vi phạm pháp luật quốc tế cho ICC, cũng như đưa ra những quy định quan trọng trong việc nhận biết và cấu thành tội phạm quốc tế. Trong bài viết này, nhóm tác giả tập trung làm rõ khái niệm và những đặc trưng về các tội phạm quốc tế, những tội phạm có tính chất nguy hiểm cao. Bài viết cũng giới thiệu những tội phạm quốc tế   thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC), được quy định chặt chẽ tại Quy chế Rome năm 1998. Qua việc phân tích, làm rõ các điều, khoản của Quy chế Rome, kết hợp so sánh sự khác biệt về tính chất, quy mô của các tội phạm quốc tế, nhóm tác giả mong muốn đem đến cái nhìn tổng quát cho độc giả về vấn đề tội phạm trong luật Hình sự Quốc tế. Từ đó, bài viết khẳng định được Quy chế Rome đã góp phần đáng kể trong việc ngăn chặn, răn đe các hành vi đặc biệt nguy hiểm cho nhân loại và giảm thiểu những hệ quả xấu do những tội ác này gây ra. Từ khóa: Tội phạm quốc tế, Quy chế Rome, tội Diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh, tội ác xâm lược Lời mở đầu   Vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế là vấn đề mang tính toàn cầu đặc biệt trong bối cảnh các hành vi phạm tội ngày càng tinh vi và vượt khỏi biên giới quốc gia. Tuy nhiên, cần phải xác định không phải mọi tội phạm xuyên biên giới đều được coi là tội phạm quốc tế[1], mà tồn tại hai khái niệm khác biệt là “tội phạm quốc tế” (international crimes)  và “tội phạm mang tính quốc tế” (transnational crimes) . Nếu tội phạm quốc tế tập trung hơn vào các tội ác mang tính cốt lõi và nghiêm trọng, đe dọa đến hòa bình, an ninh và sự tồn vong của nhân loại bao gồm: tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh [2] thì tội phạm mang tính quốc tế là những hành vi xâm phạm trật tự pháp luật của một quốc gia hoặc nhiều quốc gia khác nhau và  chứa đựng “thành phần nước ngoài”, có thể kể đến như tội buôn bán ma túy và các chất hướng thần, tội buôn bán nô lệ, tội cướp biển, không tặc [3] Trong khi tội phạm mang tính quốc tế chủ yếu dựa trên luật quốc gia để truy cứu và yêu cầu sự hợp tác tương trợ tư pháp giữa các nước thì tội phạm quốc tế lại vi phạm trực tiếp các giá trị căn bản được bảo vệ bởi Luật Hình sự Quốc tế.[4] Bài viết này chủ yếu đề cập đến các khái niệm và nội dung về tội phạm quốc tế căn cứ vào hệ thống pháp luật hình sự quốc tế hiện hành và các tập quán quốc tế đương đại. 1. Khái niệm tội phạm quốc tế 1.1 Các thuật ngữ Tội phạm quốc tế hay ‘ International crimes’ là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi xảy ra xuyên biên giới quốc gia, vi phạm luật quốc tế và thường bị truy tố bởi các tòa án quốc tế.[5] Tuy nhiên cho đến hiện tại không có một định nghĩa thống nhất nào cho khái niệm này, ngay cả tại Điều 5 Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) cũng chỉ định nghĩa các tội phạm thuộc thẩm quyền của tòa bao gồm tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người và tội xâm lược.  Xét về nguồn gốc, khái niệm tội phạm quốc tế lần đầu được xuất hiện trong các tác phẩm của luật gia Marcus Tullius Cicero thời Đế chế La Mã với tên gọi là hostes humani generis,  có nghĩa là kẻ thù của nhân loại.[6] Khái niệm này được các học giả đương thời sử dụng để chỉ những kẻ phạm tội quốc tế như cướp biển và buôn bán nô lệ.[7] Tuy nhiên, chỉ sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khi các Tòa án Nuremberg và Tokyo được thành lập để truy tố các nhà lãnh đạo phát xít về những tội ác nghiêm trọng, thì tội phạm quốc tế mới chính thức được pháp điển hóa và hình thành hệ thống khái niệm tương đối hoàn chỉnh như ngày nay.[8] Trong vụ án Hostages (tạm dịch: Con tin) năm 1948, tội phạm quốc tế được tòa Nuremberg định nghĩa là “ một hành vi được công nhận rộng rãi là tội phạm, được coi là vấn đề nghiêm trọng của mối quan ngại quốc tế và vì một số lý do chính đáng không thể để thuộc thẩm quyền độc quyền của quốc gia có quyền kiểm soát nó trong hoàn cảnh bình thường ”.[9] Nói cách khác, khái niệm này chỉ ra rằng những tội ác nghiêm trọng đến mức vượt ra ngoài lợi ích riêng của một quốc gia, thì việc xử lý chúng nên trở thành trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế. Có thể thấy từ khá sớm, cộng đồng quốc tế đã có các nỗ lực trong việc định nghĩa tội phạm quốc tế, và khái niệm này đang ngày càng phát triển dưới sự dẫn dắt của Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC).  Ngược lại, trong học thuật vẫn tồn tại những tranh luận đáng chú ý về phạm vi chủ thể của tội phạm quốc tế. Theo Antonio Cassese [10], tội phạm quốc tế về bản chất là những hành vi làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân trực tiếp theo luật quốc tế, kể cả trong trường hợp hành vi đó được thực hiện nhân danh hoặc thông qua bộ máy nhà nước; do đó, trọng tâm của khái niệm này nằm ở việc cá nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế. Trong khi đó, Cherif Bassiouni [11] tiếp cận theo hướng rộng hơn, cho rằng việc xác định tội phạm quốc tế không chỉ dựa trên yếu tố trách nhiệm cá nhân, mà còn phải xét đến tính chất xâm hại nghiêm trọng đối với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế và bối cảnh thực hiện tội phạm, qua đó để ngỏ khả năng coi các hành vi được thực hiện bởi những cấu trúc hoặc thực thể mang tính tập thể cũng thuộc phạm vi tội phạm quốc tế. Sự khác biệt này cho thấy tranh luận chủ yếu xoay quanh việc xác định phạm vi chủ thể và nền tảng trách nhiệm của tội phạm quốc tế. Nhìn chung, cho đến nay, luật quốc tế vẫn chưa hình thành được một định nghĩa thống nhất và được thừa nhận rộng rãi về tội phạm quốc tế, cũng như chưa có tiêu chí chung nào được thiết lập để xác định phạm vi và nội dung của tội phạm quốc tế, mà hiện tại cơ bản chỉ đề cập đến nghĩa hẹp và các hành vi cốt lõi cụ thể (như trong quy chế tòa ICC). Do đó bài viết chỉ xem xét đến các loại tội danh nghiêm trọng và cốt lõi đã được pháp điển hóa.  1.2 Đặc trưng của tội phạm quốc tế Trong học thuật, tuy vẫn tồn tại những cách tiếp cận khác nhau về việc xác định đặc trưng của tội phạm quốc tế, các học giả nhìn chung đều xoay quanh một số tiêu chí cốt lõi, như: hành vi phải xâm phạm những lợi ích và giá trị chung của cộng đồng quốc tế; làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân trực tiếp theo luật quốc tế; không phụ thuộc hoàn toàn vào việc nội luật hóa của quốc gia; và gắn liền với các cơ chế thẩm quyền và thực thi đặc biệt.[12] Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm tiêu biểu, có thể rút ra ba tiêu chí pháp lý cơ bản để nhận diện tội phạm quốc tế. Thứ nhất , tội phạm quốc tế là những hành vi xâm phạm trực tiếp các lợi ích và giá trị nền tảng mà toàn thể cộng đồng quốc tế cùng quan tâm, như hòa bình, an ninh quốc tế và nhân phẩm con người.[13] Chính tính chất xâm hại đến các giá trị chung này là cơ sở làm phát sinh lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trong việc trấn áp các tội ác, qua đó biện minh cho sự can dự của các quốc gia và các thiết chế quốc tế vượt ra ngoài phạm vi lợi ích quốc gia thuần túy. Thứ hai , tội phạm quốc tế làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân trực tiếp theo luật quốc tế. Một hành vi chỉ có thể được coi là tội phạm quốc tế khi, trước hết, nó làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân; đồng thời, hành vi đó bị cấm bởi luật quốc tế, cho dù pháp luật quốc gia chưa hoặc không hình sự hóa hành vi tương ứng.[14] Cách tiếp cận này cho thấy Luật Hình sự Quốc tế tác động trực tiếp đến cá nhân với tư cách là chủ thể của luật quốc tế, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cơ chế truy cứu trách nhiệm của pháp luật trong nước. Thứ ba , tội phạm quốc tế gắn liền với các cơ chế thẩm quyền và thực thi đặc biệt của cộng đồng quốc tế. Ở góc độ thực thi, một hành vi chỉ thực sự mang tính chất tội phạm quốc tế khi nó kéo theo các hệ quả pháp lý đặc thù, như mở rộng thẩm quyền tài phán, hạn chế hoặc loại trừ miễn trừ, cũng như đặt ra nghĩa vụ truy tố hoặc dẫn độ đối với các quốc gia.[15] Điều này cho thấy tính “quốc tế” của tội phạm không chỉ thể hiện ở nội dung bị cấm, mà còn ở cách thức cộng đồng quốc tế tổ chức xử lý và trừng trị các hành vi đó. Từ các cách tiếp cận trên, có thể khẳng định rằng tội phạm quốc tế không đơn thuần là những tội phạm có mức độ nghiêm trọng cao trong pháp luật quốc gia, mà là các hành vi xâm phạm trực tiếp trật tự pháp lý và các giá trị chung của cộng đồng quốc tế, làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân theo luật quốc tế và được gắn với những cơ chế thẩm quyền, thực thi đặc thù nhằm ngăn ngừa tình trạng bỏ lọt tội phạm. 2. Các tội phạm quốc tế thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) 2.1. Diệt chủng (Genocide) Tội Diệt chủng (Genocide), theo Nghị quyết 96 (I) về tội ác Diệt chủng của Đại hội đồng Liên hợp quốc, là “hành vi phủ nhận quyền tồn tại của toàn bộ một nhóm người”.[16] Đến năm 1948, Công ước Liên hợp quốc về Phòng ngừa và Trừng phạt tội Diệt chủng (Công ước Liên hợp quốc về tội Diệt chủng) tiếp tục định nghĩa tội ác trên là “hành vi   được thực hiện với với ý định tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần một quốc gia, dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo với tư cách là chính nhóm đó”.[17] Diệt chủng nhắm đến một người, hoặc một nhóm người không vì lý do nào khác ngoài lý do nạn nhân là thành viên thuộc nhóm của họ. Đây là tội ác mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, là “tội ác của tội ác”.[18]                         Theo Quy chế Rome, tội Diệt chủng được cấu thành nếu chủ thể tiến hành bất cứ hành vi nào trong 05 hành vi sau: (i) Giết hại các thành viên của nhóm; (ii) Gây ra những tổn thương nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần cho các thành viên của nhóm; (iii) Cố ý áp đặt lên nhóm các điều kiện sống nhằm mục đích hủy hoại một phần hoặc toàn bộ nhóm đó; (iv) Đặt ra các biện pháp nhằm ngăn chặn việc sinh sản trong nội bộ nhóm; (v) Cưỡng ép chuyển giao trẻ em của nhóm này sang nhóm khác.[19] Việc quy định cụ thể và giới hạn trong 05 nhóm hành vi này cho thấy tính chất đặc thù của tội Diệt chủng trong Luật Hình sự Quốc tế. Đồng thời, cách quy định này cũng tạo ra một khuôn khổ pháp lý thống nhất để trừng trị tội ác một cách minh bạch, tránh việc áp dụng luật một cách tùy tiện hoặc mở rộng quá mức đối với các hành vi khác không được quy định tại điều 6 của Quy chế Rome.           Khi thực hiện tội ác Diệt chủng, chủ thể phải thực hiện hành vi đó với mục tiêu, ý định nhằm tiêu diệt các nhóm người được bảo vệ ( protected groups ) hoặc nhằm tiêu diệt nhóm người đó thông qua việc tấn công các thành viên của nhóm.[20] Cụ thể, thuật ngữ dolus speciali s hay special intent  ( ý định đặc biệt )   chính là yếu tố quyết định khi xem xét một hành vi có được coi là hành vi diệt chủng hay không. Ý định này nằm ở bậc cao hơn so với những ý định thông thường ( general intent ) của chủ thể [21] và cũng chính là đặc điểm cốt lõi để phân biệt tội ác Diệt chủng với các tội phạm nghiêm trọng khác. Đối với các tội phạm có ý định thông thường, chủ thể chỉ tập trung vào việc gây ra kết quả là cái chết của các cá nhân cụ thể. Tuy nhiên, đối với tội Diệt chủng, việc sát hại cá nhân chỉ được coi là phương tiện để thực hiện mục tiêu xa hơn: tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần của một nhóm đặc thù “với tư cách là chính nhóm đó” ( as such ). [22] Nói cách khác, nạn nhân của tội ác Diệt chủng không bị tấn công vì danh tính cá nhân hay sự thù ghét riêng lẻ, mà vì họ là thành viên của một nhóm người mà tội phạm Diệt chủng muốn xóa sổ.  Như vậy, nếu chứng minh được chủ thể thực hiện tội phạm với dolus specialis  nhắm vào bất kỳ ai hay nhóm nào vì là thành viên của nhóm họ với mong muốn xóa sổ sự tồn tại của nhóm đó về mặt vật lý và sinh học thì hành vi đó có khả năng cấu thành tội phạm Diệt chủng. 2.2 Tội ác chống lại loài người (Crime against humanity) Tội ác chống lại loài người (crime against humanity) đã xuất hiện lâu đời, xuyên suốt sự phát triển và tiêu vong của nền văn minh nhân loại.[23] Tuy nhiên, những ghi chép và quy định về tội chống lại loài người vẫn còn rời rạc và thiếu thống nhất, không được cụ thể như tội diệt chủng (Genocide) hay tội ác chiến tranh (War crime).[24] Tội ác này chỉ được ghi nhận trong vài thập kỷ gần đây và lần đầu được nhắc đến vào năm 1915 khi Pháp, Nga và Vương quốc Anh cho ra đời một tuyên bố chung lên án mạnh mẽ cuộc thảm sát người Armenia của Thổ Nhĩ Kỳ.[25] Tội ác chống lại loài người được xác lập nếu chủ thể thực hiện những hành vi: (i) giết người; (ii) tiêu diệt trên diện rộng: Bao gồm việc cố ý áp đặt các điều kiện sống (như tước đoạt lương thực, thuốc men) nhằm hủy diệt một phần dân cư; (iii) nô dịch; (iv) trục xuất hoặc cưỡng bức di dời dân cư; (v) tù giam hoặc tước đoạt tự do thân thể nghiêm trọng khác vi phạm các quy tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; (vi) tra tấn; (vii) cưỡng hiếp, nô lệ tình dục, cưỡng dâm, cưỡng ép mang thai, cưỡng ép triệt sản, hoặc bất kỳ hình thức bạo lực tình dục nào khác có mức độ nghiêm trọng tương đương; (viii) ngược đãi: Tước đoạt nghiêm trọng các quyền cơ bản nhắm vào một nhóm hoặc một tập thể có thể nhận dạng được dựa trên các lý do chính trị, chủng tộc, quốc gia, sắc tộc, văn hóa, tôn giáo, giới tính hoặc các lý do khác đã được quốc tế thừa nhận là không thể chấp nhận được; (ix) cưỡng ép mất tích; (x) tội ác phân biệt chủng tộc Apartheid; (xi) các hành vi vô nhân đạo khác có tính chất tương tự, cố ý gây ra đau đớn tột cùng hoặc tổn thương nghiêm trọng đến thân thể, sức khỏe tâm thần hoặc thể chất.[26] Có thể thấy, tội ác chống loài người được hình thành với nhiều hành vi cụ thể như giết người trên diện rộng, cưỡng bức, nô dịch, tra tấn dã man cùng với các hành vi vô nhân tính có tính chất tương tự đã chứng minh được tính linh hoạt trong việc xác định tội danh trên, cho phép việc mở rộng lập luận và xác định cho những hành vi chưa có ghi chép cụ thể. Điểm khác biệt quan trọng của tội ác chống loài người với tội ác diệt chủng đó là trong khi tội ác diệt chủng nhấn mạnh vào mục tiêu đặc biệt: tiêu diệt một nhóm người, cộng đồng, tôn giáo, quốc gia, sắc tộc, tôn giáo (là những nhóm người được bảo vệ) của chủ thể, thì tội ác chống lại loài người (crime against humanity) tập trung vào quy mô và tính có hệ thống của tội ác.[27] Đó phải là tội phạm có quy mô trên diện rộng. Chủ thể thực hiện tội phạm có kế hoạch, mục tiêu cụ thể nhắm bất kỳ ai, không quan trọng họ thuộc nhóm nào như tội diệt chủng, có thể bao gồm cả các nhóm dân thường, nhóm có tư tưởng chính trị khác biệt, hay nhóm có xu hướng tính dục đặc biệt.[28]  2.3 Tội ác chiến tranh (war crime) Quy chế Rome quy định về tội ác chiến tranh (war crime) khá phức tạp và bao gồm nhiều hành vi. Tuy nhiên, về cơ bản tội ác chiến tranh có thể được chia làm: (i) các hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với các Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 [29] và (ii) các hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với các luật lệ và tập quán áp dụng trong xung đột vũ trang quốc tế cũng như phi quốc tế trong khuôn khổ của luật quốc tế.[30] Cụ thể hơn, Quy chế Rome cũng quy định về các nhóm hành vi nhắm đến các đối tượng làm cấu thành tội ác chiến tranh: Thứ nhất  là các hành vi nhắm đến các đối tượng được gọi là hors de combat (ngoài vòng chiến đấu) . Hors de combat  được xác định là những người: bị thương và bệnh tật thuộc lực lượng vũ trang trên bộ,[31] bị thương, bệnh tật và đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển,[32] tù binh chiến tranh [33] và dân thường.[34] Đây là nhóm đối tượng đặc biệt, được pháp luật quốc tế bảo vệ. Nếu chủ thể có bất cứ hành vi nào được quy định trong điều 8 khoản 2 của Quy chế Rome đối với nhóm người này, tội ác chiến tranh của chủ thể được xác lập và được coi là những vi phạm nghiêm trọng [35] đối với các Công ước Geneva năm 1949. Thứ hai  là hành vi nhắm đến các công trình, di sản có tính chất lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và các công trình không phải là mục tiêu quân sự (như bệnh viện, trường học). Trong bối cảnh xung đột vũ trang quốc tế hay phi quốc tế, mọi hành vi phá hủy, làm hư hại di sản văn hóa của nhân loại hay các cơ sở giáo dục, tôn giáo đều là các vi phạm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến cấu thành tội phạm chiến tranh. Thực tiễn quy định đã được cụ thể hóa qua vụ án Prosecutor v. Ahmad Al Faqi Al Mahdi đã được xét xử tại ICC. Trong cuộc xung đột vũ trang ở Mali do nhóm phiến quân Hồi giáo Ansar Dine gây ra, Ahmad Al Faqi Al Mahdi, thành viên của hội nhóm này đã bị ICC tuyên án phạm tội ác chiến tranh khi ra lệnh phá hủy các công trình tôn giáo và văn hóa ở Timbuktu, Mali.[36] Như vậy, có thể khẳng định rằng luật pháp quốc tế luôn coi trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa, tinh thần của nhân loại. Có thể thấy, những quy định về tội ác chiến tranh được quy định tại các Công ước và các luật lệ, tập quán quốc tế, đặc biệt là tại Quy chế Rome đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ những người yếu thế và bảo tồn những giá trị văn hóa trước sự tàn phá của chiến tranh. 2.4. Tội ác xâm lược (Aggression) Tội ác xâm lược (Aggression) có tiền thân là tội ác chống hòa bình (Crime against peace), lần đầu được hình thành và trao quyền xét xử cho Tòa án Quân sự quốc tế Nuremberg sau những thảm kịch do Đức Quốc xã gây ra trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.[37] Tội danh này được định nghĩa là những hành vi: “ Lập kế hoạch, chuẩn bị, khơi mào hoặc tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược, hoặc một cuộc chiến tranh vi phạm các điều ước, thỏa thuận hoặc cam kết quốc tế, hoặc tham gia vào một kế hoạch chung hay một âm mưu nhằm thực hiện bất kỳ hành vi nào nêu trên ”.[38] Thực chất, khi Quy chế Rome ra đời vào năm 1998, tội ác xâm lược chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và cụ thể, hay được quy định về thẩm quyền xét xử của tòa ICC.[39] Phải đến Hội nghị Kampala (2010) thì các nước mới đồng ý sửa đổi và bổ sung vào Quy chế Rome và đưa tội ác xâm lược trở thành một trong những tội ác nghiêm trọng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) vào năm 2017. [40] Theo đó, định nghĩa về tội ác xâm lược được kế thừa và bổ sung thêm một số điểm mới: Bởi một người ở vị trí có khả năng kiểm soát hoặc chỉ đạo một cách hiệu quả các hành động chính trị hoặc quân sự của một quốc gia, và hành vi đó cấu thành một sự vi phạm rõ rệt đối với Hiến chương Liên hợp quốc ”.[41]  Quy chế Rome bổ sung thêm định nghĩa về tội ác xâm lược là được thực hiện bởi “ một người có khả năng lãnh đạo, kiểm soát ” đã giúp người đọc phân biệt được sự khác biệt của tội ác xâm lược đối với các tội phạm quốc tế khác. Định nghĩa trong Quy chế Rome đã làm rõ hơn về chủ thể của tội phạm: các nhà lãnh đạo. Bởi, tội ác xâm lược chỉ có thể được thực hiện bởi giới lãnh đạo, những người có khả năng lập kế hoạch và nằm quyền đối với quân đội của quốc gia, chỉ có thể được thực hiện trên danh nghĩa là một quốc gia và là một phần của kế hoạch hoặc chính sách của quốc gia đó thay vì là một chủ thể hoặc cá nhân riêng lẻ.[42] Nói cách khác, đây là tội ác của những nhà cầm quyền (leadership crime).   Tội ác xâm lược được cấu thành nếu các hành vi sau được tiến hành: (i) xâm chiếm lãnh thổ hoặc sáp nhập lãnh thổ nước khác vào nước mình; (ii) ném bom, tên lửa, bắn, phá lãnh thổ nước khác; (iii) dùng tàu chiến/máy bay vây hãm cảng biển hoặc bờ biển, không cho tàu thuyền ra vào; (iv) tấn công thẳng vào quân đội, tàu chiến hoặc máy bay của nước khác (kể cả khi chúng đang ở vùng biển quốc tế); (v) cho phép nước khác dùng lãnh thổ nước mình để tấn công nước thứ ba.[43] Tuy vậy, rất khó để xác định một quốc gia phạm tội ác xâm lược cũng như để tòa ICC trực tiếp xét xử. Hành vi được thực hiện phải cho thấy đây là tội phạm được thực hiện bởi (i) những người giữ vị trí lãnh đạo trong một quốc gia và (ii) đã tham gia lập kế hoạch, chuẩn bị, khơi mào, điều phối và (iii) phải dẫn đến, hiện thực hóa cuộc xâm lược đó.[44] Cùng với đó là tính chất (character), quy mô (scale) và mức độ nghiêm trọng (gravity) cũng phải được ghi nhận là việc vi phạm rõ rệt [45] Hiến chương Liên hợp quốc. Chỉ khi xem xét tổng thể và chứng minh được 03 yếu tố này đã tạo nên một vi phạm rõ rệt như Hiến chương Liên hợp quốc đã quy định thì tòa ICC mới có thể xác định đó là hành vi xâm lược.[46] Tựu trung, mặc dù việc xác định và xét xử tội ác xâm lược vẫn tồn tại nhiều khó khăn, nhưng việc đưa tội ác này làm một trong những tội phạm được đưa ra xét xử dưới thẩm quyền của ICC, cũng như có những quy định rõ ràng trong Quy chế Rome đã cho thấy những bước tiến quan trọng của luật pháp quốc tế. Từ đó cho thấy ngay cả những nguyên thủ quốc gia cũng có thể bị xét xử nếu phạm phải tội ác làm nguy hại đến quốc gia khác, xâm phạm đến an ninh và nền hòa bình thế giới: “Khơi mào một cuộc chiến tranh xâm lược... không chỉ là một tội ác quốc tế; nó là tội ác quốc tế tối cao, chỉ khác biệt với các tội ác chiến tranh khác ở chỗ nó chứa đựng trong mình toàn bộ sự tích tụ tàn ác của tất cả các tội ác khác”.[47] 3. Kết luận  Qua việc phân biệt cơ bản tội phạm quốc tế (International crimes) với tội phạm mang tính quốc tế (Transnational crimes), phân tích các thuật ngữ, các đặc trưng của tội phạm quốc tế  cũng như làm rõ tính nghiêm trọng của chúng, bài viết cung cấp góc nhìn sâu rộng và đa chiều hơn về những tội ác có tính chất đặc biệt nguy hiểm, gây tổn hại nặng nề cho sự phát triển của nhân loại. Từ đó có thể thấy sự hợp tác tích cực trên tinh thần trách nhiệm cao của các quốc gia đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc chiến xóa bỏ những tội ác đi ngược lại với lịch sử văn minh loài người. Đồng thời, cũng cho thấy những điều ước quốc tế, những quy chế được các nước đồng thuận thông qua, đặc biệt là Quy chế Rome năm 1998 về thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) là một bước tiến vượt bậc trong nỗ lực chống lại các tội phạm quốc tế. Nỗ lực này đã kiềm chế đáng kể những hành vi của các chủ thể có ý định thực hiện tội ác, trừng phạt thích đáng những kẻ gây tổn hại cho an ninh nhân loại và xoa dịu nỗi đau của những nạn nhân.  DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:  [1][2]Robert Cryer, Håkan Friman, Darryl Robinson and Elizabeth Wilmshurst,  An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (CUP 2007) 3-5. [3]Nguyễn Thị Thuận, Luật Hình sự Quốc tế  (NXB Công an Nhân dân 2007) 24. [4]Neil Boister, ‘Transnational Criminal Law?’ (2003) 14 European Journal of International Law  953, 967–77. [5]Legal Information Institute, ‘International Crimes’ (Cornell Law School, 2023).x   https://www.law.cornell.edu/wex/international_crimes  Truy cập ngày 03/01/2026. [6][7][11]M Cherif Bassiouni, ‘International Crimes: The Ratione Materiae  of International Criminal Law’ in M Cherif Bassiouni (ed), International Criminal Law: Sources, Subjects and Contents  (vol I, 3rd edn, Martinus Nijhoff 2008) 129-203. [8]International Crimes Database, ‘Introduction of International Crimes’   https://www.internationalcrimesdatabase.org/crimes/introduction  Truy cập ngày 03/01/2026. [9]Quincy Wright, ‘The Law of the Nuremberg Trial’ (1947) 41(1) American Journal of International Law  38, 56. [10] Đọc thêm Cẩm nang luật hình sự quốc tế năm 2003 của Cassese giải thích rằng tội phạm quốc tế có thể được định nghĩa là “vi phạm các quy tắc quốc tế kéo theo trách nhiệm hình sự cá nhân của các cá nhân có liên quan (trái ngược với trách nhiệm của Nhà nước mà các cá nhân có thể hành động với tư cách là cơ quan)”. [12][14]Gerhard Werle, Principles of International Criminal Law  (2nd edn, TMC Asser Press 2009) 29. [13]Antonio Cassese, International Criminal Law  (OUP 2003) 23. [15]Yasmin Naqvi, Impediments to Exercising Jurisdiction over International Crimes  (TMC Asser Press 2010) 31. [16]UN General Assembly, Resolution 96 (I): The crime of Genocide (11 December 1946) UN Doc A/RES/96(I). [17]Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide (Genocide Convention) (adopted 9 December 1948, entered into force 12 January 1951) 78 UNTS 277. [18]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (4th edn, Cambridge University Press 2019) 203. [19] Rome Statute of the International Criminal Court   (Rome Statute)  (last amended 2010) 2187 UNTS 3, art 6. [20]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 220. [21][22] Rome Statute (n 19) art 30. [23]Jean Graven, ‘Les crimes contre l’humanité’ (1950-I) 76 Recueil des Cours 427, 433. [24]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 230. [25]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 230-231. [26] Rome Statute  (n 19) art 7. [27]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 244. [28]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 206. [29]Xem thêm bốn Công ước Geneva 1949, bao gồm: Geneva Convention (I) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field; Geneva Convention (II) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick and Shipwrecked Members of Armed Forces at Sea; Geneva Convention (III) relative to the Treatment of Prisoners of War; và Geneva Convention (IV) relative to the Protection of Civilian Persons in Time of War.  [30]Rome Statute (n 20) art 8(2). [31]Geneva Convention for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 31 (Geneva Convention I) art 50. [32]Geneva Convention for the Amelioration of the Condition of Wounded, Sick and Shipwrecked Members of Armed Forces at Sea (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 85 (Geneva Convention II) art 51. [33]Geneva Convention relative to the Treatment of Prisoners of War (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 135 (Geneva Convention III) art 130. [34]Geneva Convention relative to the Protection of Civilian Persons in Time of War (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 287 (Geneva Convention IV) art 147. [35]Nguyên văn dùng cụm “ grave beaches ”. [36]Prosecutor v Ahmad Al Faqi Al Mahdi (Judgment and Sentence) ICC-01/12-01/15 (27 September 2016).  [37]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 313. [38]Charter of the International Military Court (London Charter) (adopted 8 August 1945) 82 UNTS 279 art 6a. [39]Coalition for the International Criminal Court, “The Crime of Aggression” < https://coalitionfortheicc.org/crime-aggression-July-2025 > truy cập ngày 03/01/2026. [40] ICC, The Crime of Aggression  (11 June 2010) Res RC/Res.6. [41][43] Rome Statute (n 19) art 8 bis . [42]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 318. [44]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 318. [45]Nguyên văn trong Rome Statute sử dụng cụm “ manifest violation ”. [46]International Criminal Court, Assembly of States Parties, 'Resolution RC/Res.6: The Crime of Aggression' (11 June 2010), Annex III, Understanding No. 6 and No. 7. [47] Trial of the Major War Criminals before the International Military Tribunal  (Nuremberg, 14 November 1945 - 1 October 1946) vol 22, 427.

bottom of page