top of page

TRANG TÌM KIẾM

Search this site

Tìm thấy 91 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

  • [89] TỔNG QUAN VỀ LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ

    Tác giả: Cao Ngọc Khánh Linh, Bùi Gia Nguyên Phúc Tóm tắt: Sau chiến tranh Thế giới thứ II, quyền con người chính thức được công nhận bởi Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên ngôn toàn cầu về quyền con người 1948. Qua đó, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn khác của luật quốc tế dần được hình thành nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Bài viết cung cấp các nguồn cơ bản của Luật Nhân quyền quốc tế cũng như thực tế các đặc tính các văn bản quyền con người trong các khu vực; đồng thời, diễn giải các thế hệ quyền con người khác nhau. Từ khóa: Quyền con người, Luật Nhân quyền quốc tế, Liên Hợp Quốc, nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế 1. Tổng quan về luật Nhân quyền quốc tế (International Human Rights Law - IHRL) 1.1. Khái niệm Luật Nhân quyền quốc tế Luật Nhân quyền quốc tế (IHRL) là hệ thống các quy phạm pháp lý được xác lập thông qua các hình thức điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc chung và các nguồn khác của luật quốc tế nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền cơ bản của con người. Luật Nhân quyền quốc tế và Luật Nhân đạo quốc tế thường bị nhầm lẫn với nhau, song sự khác biệt giữa hai luật này nằm ở phạm vi áp dụng. Cụ thể, Luật Nhân đạo quốc tế áp dụng trong xung đột vũ trang và không có ngoại lệ; Luật Nhân quyền quốc tế lại bảo vệ quyền con người trong mọi hoàn cảnh dù là thời bình hay trong xung đột, và trong một số tình trạng khẩn cấp các quốc gia có thể được miễn trừ một số nghĩa vụ.[1] 1.2. Nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế Giống như nguồn cơ bản của Luật quốc tế nói chung, nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế bao gồm các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn bổ trợ như án lệ hay ý kiến của các học giả có uy tín cao.[2] Trong các điều ước quốc tế về quyền con người, Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc là nguồn đầu tiên công nhận sự tồn tại và nghĩa vụ bảo vệ quyền con người.[3] Hiến chương được ký kết sau Thế chiến thứ II vào năm 1948 với mục đích duy trì hòa bình. Sự kiện đánh dấu lần đầu tiên việc đảm bảo quyền con người trở thành một mục tiêu của một tổ chức quốc tế. Một trong những nền tảng cơ bản cho việc pháp điển hóa Quyền con người trong luật quốc tế là Tuyên ngôn Toàn cầu về Quyền con người (UDHR), được thông qua ngày 10/12/1948 theo Nghị quyết 217 A (III).[4] Bản Tuyên ngôn là định hướng cho rất nhiều các quy định pháp luật nội địa và quốc tế nhằm đảm bảo các quyền con người về dân sự và chính trị.[5] Song, cần lưu ý rằng dù là nền tảng cho nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý sau này, Tuyên ngôn Toàn cầu về Quyền con người không phải một văn bản có hiệu lực pháp lý mà chỉ đóng vai trò định hướng. Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966) là một nguồn quan trọng về các quyền dân sự và chính trị. Văn bản quy định các quyền tiêu biểu như Quyền được sống, quyền không bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo, quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng và lập hội, quyền xét xử công bằng, quyền tham gia quản lý nhà nước và bầu cử. Đây là các quyền chủ động. Các quyền này không cần các quá trình thiết lập quyền thông qua sự can thiệp của chính phủ như ra chính sách hay các dịch vụ công. Vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ các quyền được quy định ở công ước này là không được xâm phạm hay can thiệp trái pháp luật, đồng thời có các chế tài để đảm bảo quyền của các cá nhân Nếu như ICCPR 1966 là công ước quy định các quyền chủ động thì các quy định về các quyền bị động được quy định tại Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR 1966). Được thông qua vào năm 1976, Công ước ghi nhận các quyền như Quyền làm việc và hưởng điều kiện lao động công bằng, Quyền an sinh xã hội, quyền được chăm sóc sức khỏe, Quyền được giáo dục, Quyền tham gia đời sống văn hóa. Đây là các quyền cần phải có sự can thiệp của nhà nước để có thể đảm bảo. Sự can thiệp này có thể thể hiện thông qua việc ban hành các chính sách về các lĩnh vực liên quan như giáo dục hay y tế; hay thành lập và cung cấp các dịch vụ công như bệnh viện công hay các cơ sở giáo dục công với chi phí thấp. Ngoài ra, còn rất nhiều điều ước quốc tế khác về các quyền cụ thể thuộc quyền con người. Có thể kể đến Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1965 (ICERD), Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (CEDAW), Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác năm 1984 (CAT), Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (CRC), Công ước Quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ 1990 (ICRMW) … Quyền con người cũng được quy định trong các điều ước quốc tế khu vực. Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR) là một nguồn quan trọng của quyền con người trong nỗ lực xác lập một trật tự pháp lý tập thể tại châu Âu sau Thế chiến thứ II.[6] ECHR pháp điển hóa cá quyền tự do trừu tượng từ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) 1948 thành những nghĩa vụ pháp lý ràng buộc, tập trung bảo hộ các quyền dân sự và chính trị cốt lõi như quyền sống (Điều 2), cấm tra tấn (Điều 3), quyền tự do và an ninh (Điều 5) và quyền được xét xử công bằng (Điều 6).[7] Hệ thống bảo hộ này không chỉ giới hạn ở các nghĩa vụ tiêu cực (negative obligations) yêu cầu quốc gia kiềm chế sự can thiệp bất hợp pháp, mà còn mở rộng sang các nghĩa vụ tích cực (positive obligations) buộc quốc gia phải thiết lập cơ chế bảo vệ quyền lợi cá nhân trước các hành vi xâm phạm từ bên thứ ba.[8] Công ước vận hành dựa trên nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), trao quyền ưu tiên cho các hệ thống pháp luật trong nước và cho phép các quốc gia một “biên độ tự do định đoạt” (margin of appreciation) nhất định trước khi cơ chế tài phán khu vực can thiệp.[9] Sau Nghị định thư số 11 (Protocol 11) năm 1998, Hội đồng Châu Âu thành lập tòa án thường trực Tòa án Nhân quyền Châu Âu (ECHR), cho phép cá nhân trực tiếp khởi kiện quốc gia vi phạm sau khi đã sử dụng hết các biện pháp trong nước. Cơ chế này được các học giả nhận định là cơ chế khiến cho hệ thống bảo vệ Nhân quyền tại Châu Âu là hệ thống hiệu quả nhất.[10] Công ước Mỹ về Nhân quyền 1969, hay còn gọi là “Pact of San José” là điều ước quốc tế quan trọng được pháp điển hóa để bảo vệ quyền con người tại khu vực châu Mỹ. Công ước tập trung thiết lập các quyền dân sự và chính trị căn bản, tiêu biểu như quyền sống tại Điều 4 và quyền toàn vẹn thân thể tại Điều 5 với Ủy ban Nhân quyền Mỹ đóng vai trò là cơ quan điều tra và sàng lọc khiếu nại, Tòa án Nhân quyền liên Mỹ đóng vai trò là cơ quan tài phán, đưa ra các phán quyết ràng buộc và các ý kiến tư vấn. Công ước làm phát sinh nghĩa vụ áp dụng các cơ chế nội luật hóa để đảm bảo thực thi quyền, bao gồm nguyên tắc “đạt được dần dần” (achieving progressively) thông qua các nguồn lực sẵn có (available resources) để thực thi đầy đủ các quyền được công nhận.[11] Đồng thời, việc pháp điển hóa Công ước cho phép Tòa án Liên Mỹ thực hiện quyền “giải thích rộng rãi” (broad interpretation) không chỉ đối với Công ước mà còn với “các điều ước quốc tế khác” liên quan đến việc bảo vệ nhân quyền tại các quốc gia châu Mỹ.[12] Hiến chương Châu Phi về Quyền con người và Quyền các dân tộc 1981 (Hiến chương Banjul), là nền tảng pháp lý quan trọng pháp điển hóa và hình thành các quy định bảo vệ quyền con người ở châu Phi. Hiến chương quy định các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng thời tiên phong tích hợp các quyền đoàn kết (rights of solidarity) - hay quyền thế hệ thứ ba - như quyền phát triển và quyền hòa bình vào hệ thống quy phạm quốc tế. Trong đó, thay vì tiếp cận luật pháp như một sự đối trọng giữa cá nhân và nhà nước theo quan điểm phương Tây, Hiến chương nhìn nhận luật pháp là công cụ bảo vệ cá nhân ở trong cộng đồng (within the community).[13] Nếu như Hiến chương Liên Hợp Quốc chỉ quy định quyền dân tộc tự quyết là một nguyên tắc erga omnes (nguyên tắc có hiệu lực với tất cả nhưng không có giá trị pháp lý cao nhất), hệ thống pháp luật châu Phi điều chỉnh quyền của các cá nhân gắn với lợi ích cộng đồng bằng việc cho phép các hành vi pháp lý nhằm bảo vệ các lợi ích cao hơn lợi ích cá nhân theo nguyên tắc actio popularis, khiến nguyên tắc gần với tính chất của một nguyên tắc jus cogens hơn (nguyên tắc có hiệu lực pháp lý tối cao.[14] Lập luận này, vốn bắt nguồn từ lịch sử chống thực dân và nhu cầu tự quyết sâu sắc, đã tạo nên một cơ chế bảo vệ quyền lợi tập thể song hành cùng quyền tự do cá nhân, khẳng định rằng quyền dân tộc là tiền đề không thể thiếu cho phẩm giá con người.[15] Trong khu vực Đông Nam Á, Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN (AHRD) là nguồn quan trọng điều chỉnh và bảo vệ các vấn đề nhân quyền trong khu vực. Văn kiện này quy định các nhóm quyền cốt lõi bao gồm: các nguyên tắc chung, quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, cùng các quyền phản ánh đậm nét tính đặc thù khu vực như quyền phát triển và quyền hòa bình. Tuy nhiên, các quyền được pháp điển hóa trong Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN sẽ được xem xét dựa trên bối cảnh chứ không phải mọi thực thể đều được hưởng quyền như nhau.[16] Điều này là hệ quả của việc Công ước cần tuân theo các nguyên tắc về chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và nguyên tắc jus de non-interventio (không can thiệp vào công việc nội bộ, dẫn đến các cơ chế bảo vệ mang tính ràng buộc hay chế tài tài phán trong AHRD bị hạn chế.[17] Do vậy, Phương cách ASEAN (The ASEAN Way) đã ưu tiên cơ chế đồng thuận và tham vấn kín nhằm mục đích bảo toàn sự tồn tại của các thể chế nhà nước (regime survival) thay vì bảo vệ các quyền con người một cách cá nhân.[18] 2. Các thế hệ quyền con người theo Luật Nhân quyền quốc tế Khái niệm thế hệ quyền con người phân loại các quyền cơ bản theo tiến trình lịch sử thành ba nhóm chính: thế hệ thứ nhất tập trung vào các quyền dân sự và chính trị nhằm bảo vệ tự do cá nhân trước sự can thiệp của nhà nước; thế hệ thứ hai mở rộng sang các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa để đảm bảo bình đẳng và an sinh; thế hệ thứ ba hướng tới các quyền tập thể mang tính toàn cầu như hòa bình, tự quyết và môi trường trong lành. 2.1. Thế hệ thứ nhất: Các quyền về dân sự và chính trị Sự hình thành của thế hệ quyền con người thứ nhất đánh dấu sự thay đổi từ việc ưu tiên tuyệt đối quyền lực nhà nước sang sự bảo vệ và đề cao vị thế cá nhân. Trong thời kỳ cổ đại và trung cổ, quyền lực trong mối quan hệ giữa cá nhân và các thực thể công luôn nghiêng hẳn về phía nhà nước. Các học thuyết triết học tiến bộ của John Locke, Montesquieu, Hobbes và Rousseau đã thúc đẩy cuộc đấu tranh chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, thực hiện sứ mệnh lịch sử là hoàn trả lại các nghĩa vụ và quyền lợi vốn bị thâu tóm bởi quân chủ về cho công dân và xã hội dân sự.[19] Về bản chất, sự tiến hóa của các thế hệ quyền chính là một quá trình hoàn trả những nghĩa vụ và quyền năng mà công dân từng phải ủy thác cho quân chủ về lại cho chính cá nhân và xã hội dân sự.[20] Qua đó, con người được được đảm bảo các quyền cơ bản, biến nhà nước từ một thực thể có quyền hành tuyệt đối thành một thực thể pháp lý đảm bảo sự chung sống hòa bình.[21] Dựa trên nền tảng tư duy đó, thế hệ quyền thứ nhất tập trung vào hai nhóm cốt lõi là quyền dân sự và quyền chính trị, đóng vai trò như những rào cản pháp lý ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực công. Về phương diện dân sự, các văn kiện pháp lý thời kỳ này đã xác lập quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, quyền sở hữu cá nhân và đặc biệt là quyền an ninh cá nhân trước các thủ tục tư pháp và cảnh sát, đảm bảo rằng mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị tước đoạt tự do hay tài sản mà không tuân thủ đúng trình tự tố tụng. Song song đó, nhóm quyền chính trị cho phép công dân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào bộ máy quyền lực thông qua việc tiếp cận các chức vụ công, tham gia xây dựng quá trình lập pháp, kiểm soát thuế và giám sát các hoạt động quản lý hành chính. Sự tham gia của người dân vào các hoạt động này giúp kiềm chế sự lạm quyền của nhà nước, đảm bảo việc giới hạn của quyền lực công không hạn chế quyền của các công dân quá nhiều.[22] Khác với các thế hệ quyền sau này vốn đòi hỏi sự can thiệp và hỗ trợ định chế tích cực từ chính phủ, thế hệ thứ nhất có thể được thực thi một cách độc lập và riêng rẽ bởi cá nhân. Sự khác biệt này làm rõ “trạng thái tự do” (free status) đặc trưng của thế hệ thứ nhất, đối lập với “trạng thái xã hội” (social status) của các quyền kinh tế và xã hội sau này. [23] Quá trình pháp điển hóa các giá trị này đã góp phần tạo nên một hệ thống bảo vệ đa tầng từ cấp độ quốc gia đến quốc tế thông qua các văn kiện lịch sử quan trọng. Những cột mốc pháp lý đầu tiên bao gồm Đại Hiến chương Magna Charta (1215), Thỉnh nguyện thư về Quyền lợi (Petition of Rights 1628) và Luật về các Quyền (Bill of Rights 1689) tại Anh. Các văn bản pháp lý trên đã được đề cập trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776) và đặc biệt là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789) - văn bản khẳng định rằng mục đích của mọi tổ chức chính trị là bảo toàn các quyền tự nhiên của con người.[24] Trong kỷ nguyên hiện đại, các quyền này đã được pháp điển hóa thông qua các Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Tại khu vực Châu Âu, các cơ chế bảo vệ đã được thiết lập chặt chẽ với Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR) và Tòa án Nhân quyền Châu Âu, biến các lý thuyết triết học thành các nghĩa vụ pháp lý có tính cưỡng chế. Việc chuyển hóa này đã tạo nên một hệ thống bảo vệ vững chắc, khẳng định sự tôn trọng tự do cá nhân là nghĩa vụ bắt buộc của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế.[25] 2.2. Thế hệ thứ hai: Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Thế hệ quyền con người thứ hai hình thành chủ yếu từ nhu cầu giải quyết những hệ lụy của cuộc khủng hoảng xã hội tư bản cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Trước tình cảnh bần cùng hóa của giai cấp lao động, các nhà tư tưởng tự do mới đã thúc đẩy cải cách xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Những áp lực này buộc các nhà nước tư sản phải ban hành các chính sách phúc lợi, tiêu biểu là hệ thống bảo hiểm xã hội thống nhất do Thủ tướng Đức Bismarck khởi xướng sau Tuyên ngôn Keider (1881). Các quyền về an sinh xã hội như bảo hiểm khi già yếu, bệnh tật sau đó đã chính thức được Hiến pháp Đức ghi nhận vào năm 1919.[26] Thế hệ quyền con người thứ hai tập trung vào các quyền con người liên quan đến đối xử bình đẳng, công bằng, văn minh trong xã hội, bao gồm: quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở,..[27] Các quyền này bắt nguồn từ luật thực định (positive law), tức là chúng không có cùng phạm vi như các quyền về dân sự và chính trị ở thế hệ quyền thứ nhất, cùng với đó là việc hiện thực hóa các quyền này đòi hỏi nhà nước, chính phủ phải hành động.[28] Cụ thể, các quyền con người thế hệ thứ hai đòi hỏi sự hỗ trợ về mặt thể chế từ nhà nước trong khi các quyền thế hệ thứ nhất có thể được thực hiện một cách độc lập và riêng lẻ.[29] Nhà nước phải can thiệp thông qua các hành động mang tính chất lập pháp để tạo ra một hệ thống thể chế cho phép thực thi các quyền này, ví dụ như quyền giáo dục hoặc quyền nghỉ hưu.[30] Người ta ước tính rằng nếu các quyền thế hệ thứ nhất tạo nên “trạng thái tự do” (free status), thì các quyền kinh tế - xã hội lại liên quan đến “trạng thái xã hội” (social status) của cá nhân.[31] Về mặt pháp lý, các quyền con người về kinh tế, văn hóa, xã hội chính thức được ghi nhận từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai bằng Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 (UDHR) do Liên Hợp Quốc thông qua cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR).[32] Dựa trên nội dung của Công ước, thế hệ quyền con người thứ hai được chia làm các nhóm quyền chính: quyền làm việc và các điều kiện lao động công bằng,[33] quyền được bảo đảm an sinh xã hội,[34] quyền đối với các tiêu chuẩn sống thỏa đáng,[35] quyền về sức khỏe,[36] quyền giáo dục[37] và quyền văn hóa.[38]. ICESCR đã đặt ra các quy định về trách nhiệm thực thi và nguyên tắc thực thi cho các quốc gia thành viên. Cụ thể, văn bản này quy định nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên trong việc thực hiện các bước,[39] một cách riêng lẻ hoặc thông qua hỗ trợ và hợp tác quốc tế, đặc biệt là về kinh tế và kỹ thuật, với mức tối đa các nguồn lực sẵn có của mình, nhằm đạt được dần dần việc thực hiện đầy đủ các quyền được công nhận trong Công ước bằng mọi biện pháp thích hợp, bao gồm đặc biệt là việc thông qua các biện pháp lập pháp, mà không có sự phân biệt đối xử.[40] Như vậy, vì đây là nhóm quyền không thể đạt được ngay lập tức, các quốc gia trong quá trình thực thi cần đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử để đảm bảo mọi cá nhân được bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Các quốc gia cũng cần tận dụng mọi nguồn lực để hiện thực hóa các nhóm quyền trong thế hệ quyền con người thứ hai cho công dân. 2.3. Thế hệ thứ ba: Các quyền tập thể Ý tưởng nền tảng của quyền thế hệ thứ ba là sự đoàn kết. Các quyền này bao hàm các quyền tập thể của xã hội hoặc các dân tộc. Tại nhiều nơi trên thế giới, tình trạng nghèo đói cùng cực, chiến tranh và thảm họa thiên nhiên khiến nhân quyền bị hạn chế đáng kể. Do đó, nhiều người tin rằng công nhận thế hệ thứ ba của quyền con người sẽ giúp xã hội, đặc biệt là các nước kém và đang phát triển được đảm bảo các thế hệ quyền thứ nhất và thứ hai.[41] Thế hệ này bao gồm các quyền tiêu biểu như quyền tự quyết dân tộc (right to self-determination); quyền phát triển (right to development); quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên (right to natural resources); quyền được sống trong hoà bình (right to peace); quyền được sống trong môi trường trong lành (right to a healthy environment)…Danh mục các quyền thuộc thế hệ quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đó những quyền được đề cập gần đây bao gồm: quyền được thông tin và các quyền về thông tin (right to communicate; communication rights); quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa (right to participation in cultural heritage)...[42] Có thể thấy, thế hệ quyền con người thứ ba có tính chất trung hòa hai nhóm quyền về dân sự, chính trị và quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa.[43] Trên thực tế, có những tranh cãi và lo ngại xoay quanh thế hệ quyền thứ ba này. Có chuyên gia phản đối nhóm quyền tập thể, cho rằng nhân quyền chỉ có thể thuộc về cá nhân. Cũng có những chuyên gia cho rằng các chế độ độc tài có thể phủ nhận quyền cá nhân nhân danh quyền tập thể như cắt giảm quyền dân sự để ưu tiên phát triển kinh tế, khiến cho các quyền khác của cá nhân bị kìm hãm.[44] Dù vẫn còn tồn tại một số tranh luận, cộng đồng quốc tế đều cho rằng nhóm nhân quyền thứ ba cần được chú trọng hơn nữa. Một số quyền tập thể đã được ghi nhận trong Hiến chương Châu Phi về Quyền con người (ACHPR)[45] và các Dân tộc và Tuyên ngôn về Quyền của các Dân tộc bản địa.[46] Quyền tự quyết cũng được công nhận trong cả hai công ước quan trọng là Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR)[47] và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR),[48] và quyền được phát triển đã được luật hóa trong Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1986.[49] Kết luận Qua bài viết, nhóm tác giả cơ bản giới thiệu được tổng quan về Luật Nhân quyền quốc tế (IHRL) thông qua các khía cạnh cơ bản: khái niệm, hệ thống các nguồn pháp lý đa tầng (từ cấp độ toàn cầu đến các cơ chế đặc thù khu vực) cùng sự phát triển của Luật Nhân quyền quốc tế qua ba thế hệ quyền con người. Qua đó, người đọc có cái nhìn bao quát và hệ thống hơn về cách thức pháp luật quốc tế vận hành để bảo vệ phẩm giá con người từ quyền cá nhân đến quyền tập thể. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Cordula Droege, “The Interplay Between International Humanitarian Law and International Human Rights Law in Situations of Armed Conflict” (2007) 40 Israel L Rev 310, 314-7, 320-24. [2] Statute of the International Court of Justice art 38(1). [3]. Phạm Lan Dung (ed), Giáo trình Luật Quốc tế (Học viện Ngoại giao 2022) 287. [4]. Hurst Hannum, “The Status of the Universal Declaration of Human Rights in National and International Law” (1995) 25 Georgia Journal of International and Comparative Law 289 (https://www.researchgate.net/profile/Hurst-Hannum/publication/228128060_The_Status_of_the_Universal_Declaration_of_Human_Rights_in_National_and_International_Law/links/5cd322d392851c4eab8c3c9c/The-Status-of-the-Universal-Declaration-of-Human-Rights-in-National-and-International-Law.pdf ). [5] ibid. [6] Douglas A Lea, “European Convention on Human Rights Is Signed” (EBSCO Research Starters 2023). [7] The European Convention on Human Rights 1953: Foundations, Structural Metamorphosis, and Contemporary Jurisprudential dynamics. [8] LR Kiestra, The impact of the ECHR on private international law: An analysis of Strasbourg and selected national case law (Thesis, Universiteit van Amsterdam 2013) 45. [9]. ibid 35. [10]. ibid 36. [11] Additional Protocol to the American Convention on Human Rights in the Area of Economic, Social and Cultural Rights (Protocol of San Salvador) (adopted 17 November 1988, entered into force 16 November 1999) OAS Treaty Series No 69, art 1. [12] Timothy M McCann, “The American Convention on Human Rights: Toward Uniform Interpretation of Human Rights Law” (1982) 6 Fordham Int’l LJ 612. [13] Keba Mbaye, “Keynote Address on the African Charter on Human and Peoples Rights” trong International Commission of Jurists, Human and Peoples’ Rights in Africa and the African Charter: Report of a Conference held in Nairobi from 2 to 4 December 1985 (ICJ 1986) 19, 26. [14] Patient Mpunga-Biayi, “The Assertion of a Regional Specificity of the Right of Peoples to Self-determination by the African Court on Human and Peoplesʼ Rights” (2025) 17(3) Journal of Human Rights Practice 1, 5. [15] African Charter on Human and Peoples’ Rights (adopted 27 June 1981, entered into force 21 October 1986) 21 ILM 58 (ACHPR) art 20. [16] Andreas Øien Stensland, Walter Lotze and Joel Ng, “Linking Regional Security and Human Rights in ASEAN” (Policy Brief 7, NUPI 2012) 1, 46. [17] Richard Burchill, “Regional Integration and the Promotion and Protection of Democracy in Asia: Lessons from ASEAN” (2009) 13 Asian Yearbook of International Law 51, 65. [18] ibid. [19] John Locke, Two Treatises of Government (Peter Laslett ed, CUP 1988) Second Treatise, ch 19. [20] Adrian Vasile Cornescu, “The Generations of Human’s Rights” in Dny práva - 2009 - Days of Law: the Conference Proceedings (Masaryk University 2009) 1. [21] ibid 1,2. [22] ibid 3. [23] ibid 4. [24] ibid [25] ibid 4. [26] Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2011) 59. [27] ibid. [28] Adrian Vasile Cornescu (n 70) 4. [29] ibid. [30] ibid. [31] ibid. [32] Nguyễn Đăng Dung (n 26) 60. [33] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 3 January 1976) 993 UNTS 3, art 6, 7, 8 (ICESCR). [34] ibid, art 9. [35] ibid, art 11. [36] ibid, art 12. [37] ibid, art 13, 14. [38] ibid, art 15. [39] ibid, art 2. [40] Mónica Pinto, “International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights” (United Nations Audiovisual Library of International Law) https://legal.un.org/avl/ha/icescr/icescr.html truy cập ngày 29/4/2026. [41] Council of Europe, “The Evolution of Human Rights” (Manual for Human Rights Education with Young People) https://www.coe.int/en/web/compass/the-evolution-of-human-rights truy cập ngày 30/4/2026. [42] Nguyễn Đăng Dung (n 26) 60, 61. [43] ibid 61. [44] Council of Europe (n 90). [45] African Charter on Human and Peoples’ Rights (adopted 27 June 1981, entered into force 21 October 1986) 1520 UNTS 217. [46] UNGA, United Nations Declaration on the Rights of Indigenous Peoples (2 October 2007) UN Doc A/RES/61/295. [47] Điều 1 ICCPR khẳng định quyền tự quyết là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các quyền con người cá nhân. Xem International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966) 999 UNTS 171, art 1. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc trong Bình luận chung số 12 (1984) cũng nhấn mạnh đây là quyền không thể tách rời của mọi dân tộc. [48] ICESCR (n 33) art 1. [49] UNGA Res 41/128 “Declaration on the Right to Development” (4 December 1986) UN Doc A/RES/41/128.

  • [88] TỔNG QUAN VỀ NHÂN QUYỀN

    Tác giả: Cao Ngọc Khánh Linh, Bùi Gia Nguyên Phúc Tóm tắt: Nhân quyền từ khi hình thành đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học, nhiều trường phái với nhiều quan điểm khác nhau được nghiên cứu và ghi nhận. Tuy vậy, từ những tư tưởng của trường phái quyền tự nhiên và những nhận xét của học thuyết quyền thực định, đến định nghĩa được công nhận rộng rãi trên toàn cầu hiện nay đều phản ánh rằng đây chính là quyền cơ bản của con người. Qua bài viết, nhóm tác giả cơ bản giới thiệu được những tư tưởng phổ biến về quyền này. Đồng thời, tiến trình lịch sử với nhiều biến động của nhân quyền và các đặc điểm gắn liền với nó như tính không thể tước đoạt, tính không thể phân chia, tính phụ thuộc và tính liên quan đến nhau cũng được trình bày chi tiết. Từ khóa: nhân quyền, văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Quyền con người (OHCHR), tính phổ quát, tính không thể tước đoạt, tính không thể phân chia, tính phụ thuộc và liên hệ lẫn nhau 1. Định nghĩa về nhân quyền Quyền con người hay nhân quyền (human rights) là một thuật ngữ mang tính đa diện. Cho đến hiện nay, khoảng 50 định nghĩa đã được đưa ra với nhiều góc nhìn từ các học giả,[1] nhưng chưa thực sự có một định nghĩa nào có thể bao quát thuật ngữ này một cách hoàn chỉnh.[2] Trong đó, có một số trường phái tiêu biểu đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về quyền này. Trường phái quyền tự nhiên (natural law), với các học giả tiêu biểu như Zeno[3] (333‐262 TCN), Thomas Hobbes[4] (1588‐1679), John Locke[5] (1632‐1704), Thomas Paine (1731‐1809), cho rằng nhân quyền là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân sinh ra đều được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là con người.[6] Chính vì tự nhiên nên quyền con người hoàn toàn không phụ thuộc vào bất kỳ hoàn cảnh hay văn hóa, phong tục, tập quán nào. Cũng vì vậy, quyền con người của một cá nhân là bất khả xâm phạm và không thể được ban phát hay tước đoạt đi bởi bất kỳ ai khác.[7] Trong khi đó, học thuyết quyền thực định cùng với các tác giả tiêu biểu như Edmund Burke[8] (1729‐1797), Jeremy Bentham[9] (1748‐1832) cho rằng quyền con người vốn không tự nhiên xuất hiện mà phải do nhà nước, pháp luật quy định. Vì vậy, tùy thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị cũng như văn hóa, phong tục, tập quán ở mỗi quốc gia mà quyền con người có thể bị hạn chế ở một số góc độ.[10] Cụ thể, trong tác phẩm Anarchical Fallacies (Các ngụy biện vô chính phủ) của Jeremy Bentham, ông đã phê phán mạnh mẽ học thuyết quyền tự nhiên và đưa ra những lập luận khẳng định rằng quyền con người chỉ có thể tồn tại khi có chính phủ đặt ra và bảo đảm.[11] Nhà luật gia lập luận rằng việc tuyên bố con người sinh ra có các quyền tự nhiên, tự do và bình đẳng là một sự ngụy biện nguy hiểm có thể dẫn đến bạo loạn và vô chính phủ, là “sự nhảm nhí trên đôi cà kheo”.[12] Bentham phản đối lập luận cho rằng quyền con người có tính chất bất biến hoặc không thể tước bỏ (imprescriptible). Ông cho rằng quyền lợi cá nhân luôn nằm dưới quyền định đoạt của Nhà nước và có thể bị điều chỉnh hoặc thu hồi dựa trên các điều kiện về lợi ích công cộng và cơ chế pháp lý.[13] Tuy nhiên, có thể thấy rằng định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người (Office of High Commissioner for Human Rights - OHCHR) đã được công nhận rộng rãi trên toàn cầu và được các học giả sử dụng trong các bài nghiên cứu, bài báo viết về nhân quyền.[14] Theo đó, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.[15] 2. Nguồn gốc, lịch sử hình thành nhân quyền Trong quá trình hình thành và phát triển của nhân quyền, sự ghi nhận đối với các quyền ấy trong hệ thống pháp luật quốc tế ngày nay phản ánh một tiến trình lịch sử phức tạp. Những ý niệm sơ khai nhất về nhân quyền đã xuất hiện từ thời tiền sử. Trong cuốn “Minds and Rights: The Philosophy of Human Rights and Intentionalism” của Matthias Mahlmann, ông đã đưa ra một số luận điểm khái quát rằng con người từ cổ đại đã có ý thức phải tôn trọng, chăm sóc người già và người bị thương tật.[16] Cụ thể, những hài cốt của một cá nhân bị mất răng tại Swartkrans (Nam Phi),[17] hài cốt người bị thương đã lành từ nhiều di chỉ khảo cổ đã được các nhà khảo cổ tìm ra, cho thấy họ đã được chăm sóc, đảm bảo sức khỏe để sống sót trong thời gian dài.[18] Đây là những bằng chứng rõ ràng chứng minh được dù chưa có sự phát triển của khoa học pháp lý hay những quy định chặt chẽ của luật pháp hiện đại, con người đã ban đầu biết cách thỏa thuận để ưu tiên những người có cần được bảo vệ lợi ích. Đến những năm 3000 đến 1500 TCN, khi những nền văn minh cổ đại như nền văn minh Trung Đông phát triển rực rỡ thì những tư tưởng về quyền con người được nhà vua Hammurabi xứ Babylon tạo ra và phát triển bằng bộ luật Hammurabi nổi tiếng.[19] Vào những năm 576 - 529 TCN, các năm 272 - 231, năm 622, các văn bản pháp luật cổ đại lần lượt là Bộ luật của vua Cyrus Đại đế, Bộ luật do nhà vua Ashoka (Ashoka’s Edicts) và Hiến pháp Medina (the Constitution of Medina) của nhà tiên tri Muhammad ra đời.[20] Một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của quyền con người chính là sự ra đời của Đại Hiến chương Magna Carta năm 1215.[21] Sau khi Vua John của Anh vi phạm vô số các luật lệ và phong tục khiến đất nước rơi vào trạng thái khó khăn, các quý tộc, các lực lượng nổi dậy và phía giáo hoàng đã cùng nhau yêu cầu ông phải ký Đại Hiến chương này.[22] Magna Carta đã hạn chế đáng kể quyền lực của quân chủ và trao cho con người một số quyền cơ bản. Đây chính là văn bản có tính hiến pháp đầu tiên trên thế giới và là văn kiện quan trọng trong sự phát triển của nền dân chủ hiện đại nói chung và quyền con người nói riêng.[23] Ở những thời kỳ sau, Bill of Rights năm 1689 của Vương quốc Anh ra đời đã quy định về các quyền dân sự và quyền tự do cho con người.[24] Năm 1776, Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ do mười ba thuộc địa ở Bắc Mỹ tuyên bố với đế chế Anh vào năm 1776 đã khẳng định:“Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.[25] Tuyên ngôn Độc lập 1776 của nước Mỹ có thể coi là sự xác nhận chính thức đầu tiên trên phương diện nhà nước về quyền con người.[26] Năm 1789, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền (Declaration of the Rights of Man and of the Citizen/Déclaration des droits de l'homme et du citoyen) được Cộng hòa Pháp thông qua. Bản Tuyên ngôn tuyên bố rằng mọi công dân phải được bảo đảm các quyền về “tự do, tài sản, an ninh và chống lại sự áp bức”.[27] Nhiều văn bản pháp lý mang dấu ấn của bản Tuyên ngôn này ra đời chỉ trong vòng 35 năm (từ 1795-1830) xuyên suốt châu Âu, khẳng định sự nhận thức ngày càng rộng rãi về quyền con người.[28] Quyền con người nổi lên thành hiện tượng quốc tế khi con người bắt đầu nổi dậy đòi xóa bỏ chế độ nô lệ, đồng thời bảo vệ quyền lợi người lao động cùng với các nạn nhân trong các vụ xung đột vũ trang. Kể từ đó, nhiều sự kiện mang tính lịch sử cùng với các hội nghị và hiệp ước được diễn ra và ký kết liên tục, có thể kể đến Công ước về cải thiện điều kiện của người bị thương trong các cuộc chiến tranh trên bộ (Convention (I) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field)[29] thông qua năm 1864, một loạt văn kiện khác của luật nhân đạo quốc tế đã được thông qua trong Hội nghị La Hay, tại các Hội nghị của Hội Chữ Thập đỏ quốc tế (International Committee of the Red Cross - ICRC)[30] và của Hội Quốc liên.[31] Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 cùng với sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của các tư tưởng về quyền con người, đặc biệt là các quyền tự do, dân chủ.[32] Ngành luật quốc tế về quyền con người chính thức được khai sinh sau Chiến tranh thế giới thứ II, khi Liên hợp quốc ra đời.[33] Liên hợp quốc khi đó đã thông qua Hiến chương Liên hợp quốc (24/10/1945), Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) (10/12/1948)[34] cùng hai công ước quốc tế về các quyền cơ bản (năm 1966)[35] là Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR)[36] và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR).[37] Sau thời kỳ này, Hội nghị Viên được tổ chức vào năm 1993 đã thông qua Tuyên bố Viên nhằm thúc đẩy những nỗ lực giám sát và bảo vệ quyền con người trên toàn thế giới.[38] Sau hội nghị, những phát triển lớn trên lĩnh vực quyền con người ở phạm vi quốc tế bao gồm việc thành lập các tòa án hình sự quốc tế lâm thời và thường trực để xét xử các tội ác chiến tranh, tội ác chống nhân loại, tội diệt chủng và tội xâm lược, và đặc biệt là việc thành lập Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (UNHRC) (năm 2006, thay thế cho Ủy ban của Liên hợp quốc về quyền con người trước đó).[39] Không chỉ vậy, những tư tưởng và hiểu biết về nhân quyền ngày càng được củng cố và phát triển sâu rộng trên phạm vi toàn cầu, tạo nền tảng vững chắc cho hành trình nghiên cứu nhân quyền của các nhà khoa học pháp lý hiện đại. 3. Đặc điểm, tính chất của nhân quyền Từ các các nguồn gốc và khái niệm nêu trên về quyền con người, có thể thấy quyền con người có bốn tính chất chính, bao gồm tính phổ quát (universality), tính không thể tước đoạt (inalienability), tính không thể phân chia (indivisibility) và tính phụ thuộc và liên hệ lẫn nhau (interdependence and interrelation). Quyền con người là một quyền mang tính mang tính phổ quát.[40] Điều này được thể hiện qua các việc: quyền con người áp dụng cho mọi thành viên của nhân loại (all member of humanity),[41] quyền con người là căn bản và “không thể nghi ngờ (beyond question),[42] là “trụ cột” (cornerstone) trong luật quốc tế.[43] Tức là mọi người từ khi sinh ra đã được hưởng quyền con người. Tính phổ quát của quyền con người chính là cơ sở cho nguyên tắc bình đẳng và không phân biệt đối xử.[44] Cụ thể tất cả con người đều được sinh ra tự do và bình đẳng về nhân cách và quyền,[45] cũng như được hưởng các quyền mà không bị phân biệt đối xử vì bất kỳ lý do nào, dù là chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hoặc ý kiến khác.[46] Tính không thể tước đoạt (inalienability) thể hiện qua việc quyền con người không thể bị tước đoạt trái pháp luật hoặc tùy tiện bởi bất kỳ chủ thể nào, bao gồm cả nhà nước.[47] Trong một số trường hợp cụ thể một số quyền con người nhất định có thể bị hạn chế để đảm bảo quyền của nhiều cá nhân khác không bị xâm phạm. Tuy nhiên việc này cần tuân theo trình tự chặt chẽ, trên cơ sở vẫn tôn trọng các quyền khác mà cá nhân được hưởng theo pháp luật.[48] Một trường hợp điển hình về việc hạn chế quyền con người đó là việc hạn chế quyền sống. Mặc dù được quy định tại Tuyên ngôn toàn cầu về quyền con người năm 1948 (UDHR 1948), quyền con người có thể bị hạn chế ở những nước mà hình phạt tử hình chưa được xóa bỏ, nhà nước được phép áp dụng án tử đối với những tội ác nghiêm trọng nhất, căn cứ vào pháp luật hiện hành tại thời điểm tội phạm được thực hiện.[49] Tính không thể phân chia (indivisibility) của quyền con người thể hiện ở việc các quyền con người đều quan trọng, đều có vai trò và ý nghĩa, đều đóng góp vào việc khẳng định và giữ gìn phẩm giá của con người.[50] Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, nhà nước có thể ưu tiên bảo vệ một hoặc một số quyền cụ thể so với các quyền còn lại. Ví dụ như trong trường hợp dịch bệnh nhà nước có thể sẽ ưu tiên quyền được bảo vệ sức khỏe hơn quyền tự do đi lại.[51] Tính phụ thuộc và liên quan đến nhau (interdependence and interrelation) của quyền con người thể hiện qua các quyền con người dù là quyền dân sự, chính trị hay quyền kinh tế, văn hóa, xã hội, đều liên quan, phụ thuộc, tác động lẫn nhau.[52] Do vậy, sự tiến bộ trong việc bảo đảm và thúc đẩy một quyền có thể tác động tích cực đến việc thụ hưởng một quyền khác, chẳng hạn quyền lao động có thể tác động đến quyền có mức sống thích đáng cho bản thân và gia đình.[53] Kết luận Qua bài viết, nhóm tác giả cơ bản giới thiệu được nhân quyền qua các khía cạnh cơ bản: định nghĩa, lịch sử hình thành và phát triển cùng các đặc điểm, tính chất quan trọng. Đọc bài viết, người đọc có cái nhìn bao quát hơn về quyền con người. Đối với các quốc gia nói chung và các nhà làm luật nói riêng, quyền con người là cơ sở pháp lý quan trọng để hình thành, phát triển và củng cố khung pháp lý về luật Nhân quyền quốc tế, góp phần đảm bảo quyền lợi của mỗi công dân trên toàn cầu, hướng tới một xã hội công bằng, bình đẳng và phát triển bền vững. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] United Nations, Human Rights: Question and Answers (Geneva 1994) 4. [2][14][19][20][26][28][32][33][35][39] Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2011). [3] Zeno xứ Citium (tiếng Hy Lạp: Ζήνων ὁ Κιτιεύς, Zēnōn ho Kitieus, 334 TCN-262 TCN) là nhà triết học người Hy Lạp. Ông là người sáng lập ra chủ nghĩa khắc kỷ. Tư tưởng của ông về lý trí phổ quát và sự bình đẳng bản chất giữa con người được coi là một trong những mầm mống sơ khai nhất của học thuyết quyền con người. Xem thêm Eduard Zeller, The Stoics, Epicureans, and Sceptics (Longmans, Green, and Co 1870) 36 - 43. [4] Thomas Hobbes (5 tháng 4 năm 1588 – 4 tháng 12 năm 1679), trong một số văn bản cổ có tên là Thomas Hobbes của Malmesbury, là một nhà triết học người Anh, được coi là một trong những người sáng lập triết học chính trị hiện đại. Ông nổi tiếng với tác phẩm Leviathan (1651), nơi ông đưa ra lý thuyết về “Khế ước xã hội” để giải thích nguồn gốc của nhà nước và luật pháp, lập luận rằng con người cần một chính quyền trung ương mạnh mẽ để duy trì trật tự và an ninh. Xem thêm Thomas Hobbes, Leviathan (Richard Tuck ed, CUP 1996). [5] John Locke (1632–1704) là một bác sĩ, nhà triết học, nhà hoạt động chính trị người Anh. Ông là nhà triết học theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận. Học thuyết của ông về quyền tự nhiên (Natural Rights) khẳng định rằng mọi cá nhân sinh ra đều có quyền bẩm sinh đối với “sống, tự do và tài sản” (life, liberty, and estate). Xem John Locke, Two Treatises of Government (Peter Laslett ed, CUP 1988). [6][7][10]Nguyễn Đăng Dung, Hỏi đáp về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2018) 22, 23. [8] Edmund Burke (12 tháng 1 năm 1729 - 9 tháng 7 năm 1797) là một chính khách, nhà văn, nhà hùng biện, nhà lý thuyết học chính trị, và nhà triết học người Ireland. Ông được xem là nhà sáng lập tư tưởng của chủ nghĩa bảo thủ hiện đại, và là đại diện của chủ nghĩa tự do cổ điển. Xem Edmund Burke, Reflections on the Revolution in France (L. G. Mitchell ed, OUP 1999). [9] Jeremy Bentham (1748–1832) là một luật gia, triết gia người Anh và là người sáng lập ra Chủ nghĩa vị lợi (Utilitarianism). Bentham là một trong những học giả kịch liệt phản đối học thuyết quyền tự nhiên. Xem Jeremy Bentham, “Anarchical Fallacies” trong John Bowring (ed), The Works of Jeremy Bentham, vol 2 (William Tait 1843) 489 - 501. [11][13] Jeremy Bentham, “Anarchical Fallacies” trong John Bowring (ed), The Works of Jeremy Bentham, vol 2 (William Tait 1843) 489 - 501. [12] Nguyên văn tác giả sử dụng cụm “Nonsense upon stilts”. [15] OHCHR, Frequently Asked Questions on a Human Rights-based Approach to Development Cooperation (New York and Geneva 2006) 1. [16] Xem thêm Chương 3 trong Matthias Mahlmann, Mind and Rights: The Philosophy of Human Rights and Intentionalism (OUP 2023). [17] U Ripamonti et al, “A Suggested Intentional Extraction of a Wisdom Tooth: Implies Capacity for Prosocial Behaviour in Homo Erectus” (2020) 75(3) South African Dental Journal. [18] Anderson Trevor, “Healed Trauma in an Early Bronze Age Human Skeleton from Buckinghamshire, England” (2002) 12(3) International Journal of Osteoarchaeology. [21][22][23]United for Human Rights, “A Brief History of Human Rights” https://www.humanrights.com/what-are-human-rights/brief-history/magna-carta.html truy cập ngày 24/4/2026. [24] UK Parliament , “Bill of Rights 1689” https://www.parliament.uk/about/living-heritage/evolutionofparliament/parliamentaryauthority/revolution/collections1/collections-glorious-revolution/billofrights/ truy cập ngày 25/4/2026. [25] Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Lời nói đầu trong Tư tưởng về quyền con người - Tuyển tập tư liệu thế giới và Việt Nam (Nxb Lao động - Xã hội 2011) 114. [27] United for Human Rights, “A Brief History of Human Rights” https://www.humanrights.com/what-are-human-rights/brief-history/declaration-of-human-rights.html truy cập ngày 25/4/2024. [29] Geneva Convention (I) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 31. [30] Năm 1929, Hội nghị của tổ chức này họp tại Geneva, qua đó thông qua Công ước Geneva năm 1929 về đối xử với tù binh (tiền thân của Công ước Geneva thứ III năm 1949 về đối xử nhân đạo với tù binh (GPW)). [31] Năm 1925, tổ chức này thông qua Nghị định thư về cấm sử dụng hơi cay ngạt và hơi độc. [34][40][41][44][45][46][47] UNGA, Universal Declaration of Human Rights (10 December 1948) Res 217 A (III) (UDHR). [36][48][49] International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 23 March 1976) 999 UNTS 171 (ICCPR). [37] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 3 January 1976) 993 UNTS 3 (ICESCR). [38][42][50][52] UNGA, Vienna Declaration and Programme of Action (12 July 1993) UN Doc A/CONF.157/23 (VDPA). [43] OHCHR, “What are Human Rights?” https://www.ohchr.org/en/what-are-human-rights truy cập ngày 15/5/2026. [51][53] Phạm Lan Dung (ed.), Giáo trình Luật Quốc tế (Học viện Ngoại giao 2022) 285.

  • [81] QUY ĐỊNH NGOẠI LỆ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (WTO)

    Tác giả: Nguyễn Hoàng Trang, Phùng Đăng Khôi Dẫn nhập: Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại một cuộc họp của Uỷ ban Thương mại và Môi trường (CTE) của Tổ chức Thương mại Thế giới (“WTO”), đại diện các Thành viên WTO tham gia cuộc họp đã thực hiện tổng kết rà soát tiến độ của các nước thực hiện nỗ lực đẩy mạnh thực hiện chính sách thương mại trong mối liên hệ với môi trường, theo đó xác tầm nhìn sắp tới là tăng cường tính minh bạch trong việc áp dụng các biện pháp nội địa về môi trường. Theo đó, các Thành viên khi áp dụng chính sách thương mại cần đặc biệt lưu ý để không tạo ra các rào cản thương mại không cần thiết. Mặt khác, việc tham gia WTO không đồng nghĩa rằng các Thành viên không được phép các biện pháp hạn chế thương mại, nếu việc áp dụng biện pháp đó nhằm bảo vệ các mục tiêu chính sách của mình, đặc biệt là các mục tiêu về môi trường. 1. Mối liên hệ giữa chính sách môi trường và nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO Lời mở đầu của Hiệp định Marrakesh năm 1994 khẳng định việc thành lập WTO nhằm thực hiện mối liên hệ giữa kinh tế và thương mại "...với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ…". Thương mại quốc tế, tuy vậy, vẫn cần "bảo đảm việc sử dụng tối ưu nguồn lực [...] theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường [...]".[1] Tầm quan trọng và tính chính đáng của việc bảo vệ môi trường đã được thừa nhận như một mục tiêu của chính sách quốc gia và quốc tế; và phát triển bền vững là mục tiêu của tất cả các Hiệp định trong khuôn khổ WTO.[2] Thực tế, thương mại phụ thuộc mật thiết vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên, nguồn lực này hữu hạn và không thể tái tạo. Khi môi trường bị suy thoái, không chỉ nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất bị cạn kiệt, mà chất lượng đời sống và sức khỏe của con người cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Theo đó, năng suất lao động và sức mua suy giảm, triệt tiêu động lực của thị trường và sự phát triển của thương mại. Do vậy, chính sách thương mại và chính sách môi trường quốc gia có mối quan hệ tương trợ, bởi hệ thống thương mại đa phương hướng tới và hiện thực hóa việc phân bổ và sử dụng tài nguyên hiệu quả, thúc đẩy việc gia tăng sản xuất và cải thiện thu nhập. Đồng thời, bảo vệ môi trường là bảo vệ nguồn tài nguyên đầu vào và nền tảng thị trường cho việc mở rộng nền kinh tế và thương mại.[3] Do vậy, ngoại lệ môi trường, cùng với các ngoại lệ chung theo quy định Điều XX GATT, là cơ chế nhằm hài hoá sự mâu thuẫn tiềm tàng giữa việc tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường với các giá trị và lợi ích xã hội căn bản[4] và bảo đảm an ninh và tính dễ dự đoán của việc tiếp cận thương mại cho thương nhân và nhà đầu tư.[5] 2. Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường trong các Hiệp định WTO Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường xuất hiện trong nhiều Hiệp định WTO. Cụ thể, Điều XX Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (“GATT”) và Điều XIV Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) đều quy định việc cho phép các Thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong trường hợp “cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật.[6] Điều XX GATT có quy định thêm về ngoại lệ trong trường hợp “liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”.[7] Các Hiệp định WTO về các vấn đề chuyên biệt cũng chứa đựng các quy định tương tự cho phép áp dụng ngoại lệ về môi trường khi các chính sách thương mại được áp dụng nhằm theo đuổi các mục tiêu chính sách chính đáng.[8] Điều XX GATT về Ngoại lệ chung liệt kê một danh sách hữu hạn các trường hợp mà Thành viên được phép áp dụng các biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ GATT một cách có điều kiện.[9] Cụ thể, điều khoản có quy định như sau về các ngoại lệ về môi trường: “Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp: […] (b) cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật; […] (g) liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước; Có thể nói rằng quy định về ngoại lệ môi trường của GATT là những quy định tiêu biểu, nền tảng và mang tính chất giải thích cao, đặc biệt là đối với những nội dung tương tự tại các Hiệp định WTO khác. Trong giai đoạn từ 1947 đến 1994, vụ Tuna Dolphin I (1991) và Tuna Dolphin II (1994) đã đặt nền móng cho việc giải thích ngoại lệ về môi trường được quy định trong GATT. Hai vụ việc này xoay quanh việc Mỹ đưa ra lệnh cấm đơn phương nhập khẩu cá ngừ đuôi vàng được đánh bắt theo phương thức cũng giết cá heo.[10] Ban Hội thẩm của cả hai vụ việc cho rằng, việc một biện pháp thương mại được đưa ra hướng đến tác động quốc gia khác thay đổi chính sách môi trường không "cần thiết" theo nghĩa của Điều XX(b)[11] và không "liên quan" theo nghĩa của Điều XX(g).[12] Sau khi WTO được thành lập, Cơ quan Phúc thẩm tiếp cận theo hướng mở rộng sự công nhận các biện pháp bảo vệ môi trường chính đáng theo ngoại lệ Điều XX(b) và XX(g).[13] 2.1. Phép thử hai tầng Thoạt nhìn theo quy định của Điều XX, để một biện pháp phù hợp với các quy định về ngoại lệ cần thỏa mãn hai yếu tố: Phần Lời mở đầu ("Chapeau") và các trường hợp cụ thể trong Đoạn (a) đến (j). Trong vụ US - Gasoline và vụ US - Shrimp, Cơ quan Phúc thẩm nhấn mạnh để xem xét liệu một biện pháp có thoả mãn quy định về ngoại lệ theo Điều XX, Ban Hội thẩm phải trước hết xem xét liệu biện pháp có phù hợp với các quy định trong các đoạn từ (a) đến (j), sau đó mới đánh giá liệu biện pháp đó có thoả mãn các yêu cầu của Chapeau.[14] 2.2. Ngoại lệ tại Điều XX(b) về bảo vệ sự sống, sức khoẻ (người, động, thực vật) Nhằm thoả mãn điều kiện tại Điều XX(b), biện pháp thương mại đó (i) phải được xây dựng để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật và (ii) biện pháp cần thiết để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật. Về điều kiện thứ nhất, tính phù hợp của mục tiêu biện pháp theo Điều XX(b) được đánh giá dựa trên sự tồn tại của rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật, và rủi ro đó phải hiện hữu, rõ ràng chứ không phải nguy cơ chung chung.[15] Đồng thời, phải có mối quan hệ rõ ràng giữa biện pháp được đưa ra và việc bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[16] Ví dụ, trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, Ban Hội thẩm chấp nhận lập luận của Brazil rằng biện pháp của Brazil phù hợp với trường hợp cụ thể của Điều XX(b).[16] Theo đó, sự tích tụ lốp xe thải tạo ra môi trường sinh sôi của muỗi - là chủ thể chứa bệnh dịch nguy hiểm, và những bệnh dịch đó có thể lây truyền trong quá trình xử lý lốp thải. Đồng thời, lốp xe thải tích tụ có thể rỉ nước, gây cháy và thải ra môi trường khí độc. Trên cơ sở đó, Ban Hội thẩm cho rằng tồn tại rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật[18] và biện pháp được đưa ra nhằm thực hiện bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[119] Về điều kiện thứ hai, biện pháp có được coi là "cần thiết" được xem xét trên cơ sở sự quan trọng của lợi ích hoặc giá trị bị tổn hại, mức độ đóng góp đối với sự hoàn thành mục đích của biện pháp và tính hạn chế thương mại của biện pháp đó. Biện pháp chỉ được coi là cần thiết nếu không tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn mà có mức độ đóng góp tương đương với sự hoàn thành mục đích và biện pháp đó phải tồn tại một cách hợp lý.[20] Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh sự tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn.[21] Theo đó, biện pháp sẽ càng dễ dàng được xem là cần thiết nếu biện pháp có mục đích bảo vệ giá trị xã hội càng quan trọng và đóng góp đáng kể tới việc bảo vệ biện pháp đó. Trong vụ EC - Asbestos, Ban Hội thẩm công nhận việc loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ đe doạ đến sức khoẻ và đến sự sống của sợi amiăng là "quan trọng ở mức độ cao nhất".[22] Trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, biện pháp không được coi là tồn tại một cách hợp lý khi mà biện pháp đó chỉ phù hợp trên lý thuyết hoặc bên bị đơn không có khả năng thực hiện hoặc biện pháp cấu thành gánh nặng chi phí hoặc kỹ thuật cho bị đơn.[23] Trong vụ EC - Asbestos, Canada (Nguyên đơn) cho rằng tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn - việc sử dụng có kiểm soát amiăng.[24] Tuy nhiên, Ban Hội thẩm cho rằng biện pháp sử dụng có kiểm soát không hợp lý - bởi biện pháp sẽ không đủ để chấm dứt rủi ro từ amiăng và bảo vệ sức khoẻ con người.[25] 2.3. Ngoại lệ tại Điều XX(g) về giữ gìn nguồn tài nguyên có thể cạn kiệt Điều XX(g) GATT cho phép Thành viên áp dụng biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ nêu tại GATT trong trường hợp việc áp dụng biện pháp đó là “liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước”. Trước đây, ngoại lệ Điều XX(g) đã được các Thành viên viện dẫn nhằm biện minh cho đa dạng các biện pháp nhằm hướng tới việc bảo tồn nguyên liệu thô,[26] đất hiếm,[27] cá hồi và cá trích,[28] cá ngừ và cá heo,[29] rùa biển[30] và không khí sạch.[31] Có thể thấy rằng Điều XX(g) áp dụng việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên với nội hàm rộng. Để đáp ứng việc viện dẫn điều khoản này, một biện pháp được áp dụng phải thoả mãn 03 điều kiện: (i) biện pháp phải là về việc “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; (ii) biện pháp liên quan tới “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; và (iii) biện pháp áp dụng hạn chế đối với cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước. Về điều kiện thứ nhất. Trong vụ China – Raw Materials, cụm từ “gìn giữ” đã được giải thích là “việc bảo tồn môi trường, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên.[33] Sau đó, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth đã mở rộng nội hàm này và cho rằng gìn giữ không đơn thuần là ngăn cấm việc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà còn bao gồm cả những nỗ lực áp dụng các biện pháp nhằm điều tiết và quản lý các hoạt động khai thác này.[34] Trong đó, “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” theo nghĩa tại Điều XX(g) không chỉ bao gồm tài nguyên phi sinh vật (ví dụ: khoáng sản) mà còn bao gồm tài nguyên sinh vật, trong đó bao gồm cả động vật. Trong vụ US – Shrimp, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan và Malaysia cho rằng cụm từ “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” chỉ ám chỉ khoáng sản hay các tài nguyên phi sinh vật khác bởi tài nguyên sinh vật được xem là có khả năng tái tạo.[35] Tuy nhiên, quan điểm này đã hoàn toàn bị bác bỏ bởi Cơ quan Phúc thẩm, bởi sinh vật hoàn toàn có nguy cơ bị tuyệt chủng và giống với khoáng sản hay bất cứ tài nguyên phi sinh vật nào khác, sinh vật cũng có thể “cạn kiệt”.[36] Nhìn chung, một quan điểm đầy đủ nhất được Cơ quan Phúc thẩm đưa ra trong China – Rare Earth. Theo đó, việc “gìn giữ” khoáng sản có thể được hiểu là bảo tồn loại tài nguyên này thông qua việc giảm thiểu hoặc yêu cầu dừng đối với các hoạt động khai thác. Đối với sinh vật, “gìn giữ” không chỉ có các hoạt động nhằm giảm thiểu hoặc cho dừng các hoạt động thúc đẩy tuyệt chủng đối với các loài động vật quý hiếm, mà còn cả bao gồm việc tạo điều kiện thuận lợi nhằm tái tạo, phục hồi những loài động vật này.[37] Tuy nhiên, tới nay chưa có án lệ WTO nào chỉ ra thực vật cũng được xem là “tài nguyên cạn kiệt” cần được “gìn giữ” theo nghĩa của Điều XX(g). Về điều kiện thứ hai. Biện pháp cản trở thương mại của Thành viên chỉ được chấp nhận là thuộc vào ngoại lệ tại Điều XX(g) khi biện pháp đó “liên quan tới” việc thực hiện mục tiêu chính sách đã được xác định - “gìn giữ tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt”. Điều kiện “liên quan tới” đưa ra yêu cầu về mối quan hệ giữa biện pháp và mục tiêu chính sách ít nghiêm ngặt hơn so với điều kiện “cần thiết” tại Điều XX(b). Theo đó, khi xem xét liệu một biện pháp có “liên quan tới” mục tiêu mà Thành viên đề ra trước đó hay không thì cơ quan giải quyết tranh chấp WTO chỉ cần cân nhắc và phân tích cách thức thiết kế và cấu trúc vận hành của biện pháp thay vì phải đánh giá cả các hệ quả trên thực tế của biện pháp đó.[38] Giữa biện pháp và mục tiêu chính sách phải có một mối liên hệ gần gũi và thực chất.[39] Về điều kiện thứ ba. Điều XX(g) yêu cầu việc áp dụng biện pháp mang tính hạn chế thương mại đồng thời với cả sản xuất trong nước, hay nói cách khác yêu cầu sự đối xử công bằng, không thiên vị (nguyên gốc: even-handedness) giữa hàng hoá trong và ngoài nước.[40] Theo đó, “even-handedness” không đơn thuần là việc áp dụng biện pháp giống hệt với các đối tượng khác nhau - nhà sản xuất trong nước và nước ngoài, mà cần phải được hiểu là sự đối đãi công bằng về thực chất.[41] Như vậy, khi một biện pháp thực sự chính đáng và “liên quan tới gìn giữ tài nguyên cạn kiệt”, biện pháp phải hướng tới việc chia đều trách nhiệm “gìn giữ” này tới tất cả nhà sản xuất, bất kể trong nước hay ngoài nước.[42] 2.4. Lời mở đầu ("Chapeau") của Điều XX Bên cạnh những điều kiện gắn cụ thể với mục tiêu bảo vệ môi trường của chính sách như nêu trên. Một biện pháp cản trở thương mại chỉ được xem là hợp pháp theo Điều XX khi đạt đủ cả các điều kiện nêu tại phần lời mở đầu của điều khoản này, theo đó, một chính sách thương mạikhông thể được áp dụng trên cơ sở (i) tạo ra sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý; hoặc (ii) tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế. Nói cách khác, một biện pháp hạn chế thương mại, ngay cả khi rơi vào trường hợp ngoại lệ tại Điều XX vẫn cần phải được áp dụng một cách hợp lý, phù hợp với các nghĩa vụ pháp lý của các bên có liên quan.[43] Cơ quan Phúc thẩm trong vụ US – Shrimp cho rằng mục đích của phần lời mở đầu Điều XX là nhằm yêu cầu các Thành viên duy trì sự cân bằng giữa quyền viện dẫn ngoại lệ của bản thân và nghĩa vụ nhằm tự do hoá thương mại của chính Thành viên đó đối với các Thành viên khác.[44] Thứ nhất, biện pháp được coi là "phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý" khi việc áp dụng biện pháp đó phải dẫn đến việc phân biệt đối xử, biện pháp đó có bản chất độc đoán và phi lý, và biện pháp phân biệt giữa các quốc gia có cùng điều kiện[45] hoặc áp dụng cứng nhắc mà không tính đến sự khác biệt trong điều kiện của từng quốc gia.[46] Phân biệt đối xử không chỉ dừng lại ở việc đối xử khác nhau với các quốc gia có cùng điều kiện, mà còn thể hiện ở việc không cho phép tiến hành bất kỳ cuộc điều tra nào về tính phù hợp của chương trình quản lý đối với các điều kiện hiện hành tại các quốc gia xuất khẩu đó.[47] Việc phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc phi lý không được xem xét theo góc độ tác động của việc phân biệt đối xử, mà được xem xét dựa trên liệu lý do của biện pháp có không có mối liên hệ tới mục đích của biện pháp.[48] Thứ hai, trong vụ US – Gasoline, Cơ quan Phúc thẩm cho rằng một biện pháp hạn chế thương mại tức là biện pháp đó cấu thành sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý, tuy nhiên lại được thực hiện dưới vỏ bọc của biện pháp, trên danh nghĩa, có thể thuộc vào ngoại lệ được liệt kê tại Điều XX.[49] Trên cơ sở nhận định này, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth đã chỉ ra thêm rằng, một biện pháp phân biệt đối xử có thể cấu thành một hạn chế thương mại trá hình; tuy nhiên một hạn chế thương mại trá hình không luôn luôn là một biện pháp mang tính chất phân biệt đối xử.[50] Nội hàm của cụm từ “hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế” không nằm ở “hạn chế” mà nằm ở từ “trá hình”, có ý nghĩa là “làm biến đổi nhằm đánh lừa” nếu xét theo nghĩa thông thường.[51] Như vậy, ngay cả khi một biện pháp đáp ứng các điều kiện hình thức của Điều XX, lại nhằm che giấu một mục tiêu hạn chế thương mại khác thì không thể được miễn trừ trách nhiệm theo Điều XX.[52] 3. Kết luận Thông qua xem xét thực tiễn giải quyết tranh chấp, những quy định về ngoại lệ trong các hiệp định WTO về đa dạng các lĩnh vực đã thiết lập nên căn cứ pháp lý hỗ trợ các Thành viên điều tiết các chính sách thương mại quốc tế một cách phù hợp với mục tiêu, tầm nhìn của quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường. Như vậy, khuôn khổ pháp luật WTO đã xác lập một nguyên tắc chung về việc yêu cầu các Thành viên duy trì một cách hợp lý sự cân bằng giữa quyền tự chủ xác lập chính sách bảo vệ môi trường và các nghĩa vụ tự do hóa thương mại được xác lập khi gia nhập WTO - một hệ thống thương mại đa phương. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hiệp định Marrakesh, Lời mở đầu. [2] Appellate Body, US – Shrimp, para. 129, 130. [3] Agenda 21, § 2.19, UN Doc. A/CONF. 151/4 (1992) [4] Peter Van den Bossche and Werner Zdouc, The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases, and Materials (4th edition, CUP) p. 544-545 [5] Report by the Consultative Board to the Director-General Supachai Panitchpakdi, Report on the Future of the WTO: Addressing Institutional Challenges in the New Millennium (World Trade Organization, 2014), para. 39 [6] Điều XX(b) GATT; Điều XIV(b) GATS. [7] Điều XX(g) GATT. [8] Điều 27.2 TRIPS; Điều 8.2 SCM; Điều 2.2 SPS; Điều 2.2, Điều 2.4 TBT [9] Panel, US – Section 337 Tariff Act, para 5.9 [10] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy, (3rd edition, OUP) page 723 [11] Tuna Dolphin I, para. 5.27; Tuna Dolphin II, paras. 5.36–5.38. [12] Tuna Dolphin I, para. 5.33; Tuna Dolphin II, para. 5.26. [13] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy, (3rd edition, OUP) page 724 [14] Appellate Body, US – Shrimp, paras. 119–20; Appellate Body, US – Gasoline, p. 22 [15] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.46. [16] Appellate Body, Colombia - Textiles, para 5.68. [17] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.53, 7.84. [18] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.96 [19] Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.99, 7.100 [20] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 178 [21] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 156 [22] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 172. [23] Appellate Body, Brazil – Retreaded Tyres, para. 156 [24] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 169 [25] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 174. [26] China – Raw Materials [27] China – Rare Earth [28] Canada – Herring and Salmon [29] Tuna Dolphin I và Tuna Dolphin II; US – Tuna II [30] US – Shrimp [31] US – Gasoline [32] Nguyên gốc: relating to. [33] Appellate Body, China – Raw Materials, para. 355 [34] Panel, China – Rare Earth, para 7.266. [35] Appellate Body, US – Shrimp, para. 127. [36] Appellate Body, US – Shrimp, para. 128. [37] Appellate Body, China – Rare Earth, para. 5.89. [38] Panel, China – Rare Earth, para 7.290 và 7.379 [39] US – Shrimp. See also: China – Raw Materials para 355 [40] Appellate Body, US – Gasoline, para 20-1. [41] Ibid. [42] Appellate Body. China – Rare Earth, para. 5.134. [43] Appellate Body, US – Gasoline p. 22, trích dẫn từ US – Spring Assemblies, para 56. [44] Appellate Body, US – Shrimp, para 156. See also: Appellate Body, EC – Seal Products, para 5.297. [45] Appellate Body, US - Shrimp, para 150 [46] EC – Seal Products, Appellate Body Report, para. 5.305. [47] Appellate Body, US - Shrimp, para 164, 165 [47] Indonesia – Import Licensing Regimes, Panel Report, para. 7.824 [49] Appellate Body, US – Gasoline, p.25 [50] Panel, China – Rare Earth, para. 7. 826 [51] Panel, EC – Abestos, para. 7.823 [52] Panel, EC – Abestos, para. 7.823

  • [87] TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC ĐỐI XỬ CÔNG BẰNG VÀ THỎA ĐÁNG TRONG LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

    Tác giả: Đặng Quốc Dũng, Nguyễn Hàn Bách Mở đầu: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài trở thành một trong những vấn đề trung tâm của pháp luật đầu tư quốc tế. Vì thế, bài viết này khám phá nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET) trong Luật đầu tư quốc tế theo góc độ thực tế, đi từ lịch sử tới áp dụng thực tiễn và quan hệ của nguyên tắc FET với các nguyên tắc khác trong luật đầu tư quốc tế. Bài viết hướng đến làm rõ những điểm đồng thuận, những điểm còn mở mà nguyên tắc đặt ra trong bối cảnh pháp luật đầu tư quốc tế hiện đại. Từ khóa: Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng, luật đầu tư quốc tế, tiêu chuẩn đối xử tối thiểu. 1. Khái quát chung về FET Nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (Fair and Equitable Treatment - FET) là một nguyên tắc trong luật đầu tư quốc tế, được áp dụng bởi các quốc gia nhằm bảo vệ quyền lợi của những nhà đầu tư nước ngoài. Đây được coi là một trong những nguyên tắc phổ biến nhất trong các BIT.[1] 1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành của nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng trong Luật Đầu tư Quốc tế Sự hình thành của nguyên tắc FET đi trước cả lịch sử của các Hiệp định đầu tư Quốc tế (International Investment Agreements - IIAs), được nhắc tới trong cả những hiệp định thương mại quốc tế thời kỳ đầu như Hiến chương Havana (1948).[2] Nguồn gốc của nguyên tắc FET được sử dụng trong bối cảnh hiện đại và các IIAs là Dự thảo hội nghị Abs–Shawcross về đầu tư quốc tế (1959),[3] nhắc tới "đối xử công bằng và thỏa đáng với tài sản của công dân những quốc gia thành viên khác", ngôn ngữ này lần nữa được lặp lại tại Dự thảo hội nghị Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) sau đó.[4] Từ những năm 1960, nguyên tắc FET thường xuyên xuất hiện trong những hiệp định thương mại song phương (Bilateral Investment Treaty - BIT). Trong một số trường hợp, FET chỉ xuất hiện trong lời mở đầu[5] và trong số còn lại thì giữ vai trò là nguyên tắc điều chỉnh quan hệ thương mại song phương. Những nguyên tắc FET cũng xuất hiện trong những hiệp định thương mại tự do của những năm 2000, tiêu biểu như Hiệp định Tự do Thương mại Bắc Mỹ (NAFTA)[6] hay Hiệp ước Hiến chương Năng lượng (ECT)[7]. 1.2. Định nghĩa của FET Cho đến nay, chưa tồn tại một định nghĩa thống nhất và được thừa nhận rộng rãi về tiêu chuẩn FET trong luật đầu tư quốc tế. Phần lớn các hiệp định đầu tư chỉ ghi nhận FET mà không giải thích nội hàm của tiêu chuẩn này, khiến việc xác định ý nghĩa của FET chủ yếu dựa trên cách diễn giải của học giả và thực tiễn trọng tài đầu tư. Thứ nhất, xét theo nghĩa thông thường của ngôn ngữ, “đối xử công bằng và thỏa đáng” được hiểu là yêu cầu quốc gia tiếp nhận đầu tư phải hành động một cách công bằng, khách quan, không thiên vị và phù hợp với các quy tắc pháp luật. Theo nghĩa thông thường của ngôn ngữ, "fair" hàm ý sự công bằng và không thiên vị, còn "equitable" nhấn mạnh tính hợp lý và công bằng theo lẽ phải. FET được hiểu là tiêu chuẩn đòi hỏi Nhà nước thực hiện quyền lực công trên cơ sở thiện chí, minh bạch và hợp lý, bảo đảm sự cân bằng giữa lợi ích của nhà đầu tư với lợi ích công cộng của quốc gia tiếp nhận đầu tư.[8] Tuy nhiên, các ý nghĩa ngôn ngữ này không đủ để xác định nội hàm pháp lý của FET; nội dung cụ thể của tiêu chuẩn này chủ yếu được phát triển thông qua thực tiễn trọng tài đầu tư quốc tế. Thứ hai, thực tiễn trọng tài đầu tư quốc tế đã góp phần định hình nội hàm của FET thông qua việc giải thích tiêu chuẩn này trong từng vụ việc cụ thể. Trong vụ Tecmed kiện Mexico, hội đồng trọng tài nhấn mạnh rằng FET bảo vệ các kỳ vọng cơ bản của nhà đầu tư, đồng thời yêu cầu quốc gia tiếp nhận đầu tư hành động nhất quán, minh bạch và không tùy tiện.[9] Tiếp đó, trong vụ MTD kiện Chile, hội đồng trọng tài phát triển cách tiếp cận này khi cho rằng FET không chỉ yêu cầu Nhà nước tránh gây thiệt hại cho nhà đầu tư mà còn phải có những hành động tích cực nhằm tạo lập môi trường đầu tư thuận lợi.[10] Tuy nhiên, sau đó, Ủy ban ad hoc trong vụ MTD kiện Chile đã chỉ trích cách tiếp cận này và lưu ý rằng nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư phải xuất phát từ các cam kết trong điều ước đầu tư, thay vì chỉ dựa trên kỳ vọng của nhà đầu tư.[11] Trong Saluka kiện Séc, hội đồng trọng tài tiếp tục cụ thể hóa FET thông qua các yêu cầu về tính nhất quán, minh bạch, hợp lý và không phân biệt đối xử, qua đó góp phần hình thành những tiêu chí được viện dẫn phổ biến trong thực tiễn giải quyết tranh chấp đầu tư.[12] Từ các cách tiếp cận trên có thể thấy, mặc dù FET vẫn là một tiêu chuẩn có nội hàm mở và chưa có định nghĩa thống nhất, thực tiễn trọng tài đã dần hình thành một số yếu tố cốt lõi của tiêu chuẩn này. Theo đó, FET nhìn chung được hiểu là nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư trong việc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài một cách công bằng, minh bạch, nhất quán, thiện chí, tuân thủ thủ tục pháp lý và không tùy tiện, đồng thời bảo vệ các kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư trong phạm vi các cam kết được thiết lập theo điều ước đầu tư. 2. Mối quan hệ của nguyên tắc FET với luật tập quán quốc tế 2.1. Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu theo luật tập quán quốc tế Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu (minimum standard of treatment) trong luật tập quán quốc tế là tổng hợp những tiêu chuẩn tối thiểu áp dụng với các nhà nước trong cách đối xử với nhà đầu tư nước ngoài.[13] Tiêu chuẩn này thường được liên hệ từ vụ Neer kiện Mexico. Trong vụ kiện trên, Ủy ban xét xử cho rằng một hành vi chỉ cấu thành vi phạm quốc tế khi đạt đến mức độ đặc biệt nghiêm trọng như ác ý, cố ý bỏ mặc nghĩa vụ hoặc sự thiếu sót rõ ràng so với chuẩn mực quốc tế.[14] Tập quán này, sau đó, đã được nỗ lực pháp điển hóa bởi Ủy ban Luật pháp Quốc tế (ILC) và các tổ chức luật quốc tế khác thành các quy định liên quan tới quy trình tố tụng công bằng (due process), từ chối công lý và ngược đãi thân thể.[15] Vụ Neer thường được viện dẫn bởi bị đơn trong các vụ kiện về đầu tư quốc tế, song phần lớn hội đồng trọng tài đã bác bỏ ngưỡng vi phạm cao được nêu trong đó và nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn tối thiểu quốc tế là một khái niệm tiến hóa (tức là một khái niệm phát triển dần theo thực tiễn xét xử và sự thay đổi của luật pháp quốc tế).[16] Cụ thể, trọng tài trong vụ Merrill & Ring kiện Canada thừa nhận sự tiến hóa đó với nhận định rằng tiêu chuẩn tối thiểu hiện nay rộng hơn tiêu chuẩn được xác định trong Neer.[17] 2.2. Mối quan hệ của nguyên tắc FET và tiêu chuẩn đối xử tối thiểu 2.2.1. Nguyên tắc FET đồng nhất với tiêu chuẩn đối xử tối thiểu Luật đầu tư quốc tế tồn tại một cuộc tranh luận rằng liệu nguyên tắc FET có phải chỉ đơn thuần phản ánh tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong luật tập quán quốc tế, hay là một tiêu chuẩn độc lập vượt ra ngoài luật tập quán quốc tế.[18] Để xem xét mối quan hệ của nguyên tắc FET và luật tập quán quốc tế, điều cần phân tích đầu tiên là nội dung tại các điều khoản quy định về nguyên tắc FET trong các IIAs. Trong khi một số IIAs chỉ quy định về đối xử công bằng thỏa đáng và không viện dẫn thêm tập quán quốc tế, bao gồm các BIT của Đức, Hà Lan, Thụy Điển và Thụy Sĩ.[19] Số khác lại viện dẫn trực tiếp luật tập quán quốc tế về tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong điều khoản quy định về nguyên tắc FET, bao gồm NAFTA hay USMCA. Cụ thể, Điều 1105 của NAFTA với tiêu đề “Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu” quy định rằng “Mỗi Bên phải dành cho các khoản đầu tư của nhà đầu tư của Bên kia sự đối xử phù hợp với luật quốc tế, bao gồm đối xử công bằng và thỏa đáng và bảo hộ đầy đủ và an ninh”.[20] Điều khoản này sau đó đã được Ủy ban Thương mại Tự do NAFTA (FTC) ban hành giải thích ràng buộc và chính thức, rằng khái niệm về “đối xử công bằng thỏa đáng” không yêu cầu sự đối xử bổ sung hoặc vượt ra ngoài mức độ mà tiêu chuẩn đối xử tối thiểu của luật tập quán quốc tế.[21] Tương tự, USMCA cũng quy định tại Điều 14.6(1) rằng “sự đối xử phù hợp với luật tập quán quốc tế, bao gồm đối xử công bằng và thỏa đáng và bảo hộ đầy đủ và an ninh” và giải thích thêm ở khoản 2 rằng khái niệm “đối xử công bằng thỏa đáng” không yêu cầu sự đối xử bổ sung hay vượt ra khỏi mức độ mà luật tập quán quốc tế yêu cầu.[22] Trong thực tiễn xét xử, sự khác biệt trong cách quy định của các điều ước đã dẫn đến hai hướng tiếp cận khác nhau. Đối với các điều ước có viện dẫn trực tiếp tới luật tập quán quốc tế, nhiều hội đồng trọng tài - đặc biệt trong các tranh chấp theo NAFTA - có xu hướng đồng nhất FET với tiêu chuẩn tối thiểu.[23] Tuy nhiên, ngay cả trong khuôn khổ này, các hội đồng vẫn thừa nhận tính chất động của luật tập quán quốc tế. Điển hình là vụ Mondev kiện Hoa Kỳ, dù phải áp dụng bản giải thích ràng buộc của FTC (giới hạn FET trong luật tập quán), hội đồng trọng tài đã nhấn mạnh rằng luật tập quán quốc tế không phải là một thực thể tĩnh hay bị “đóng băng” ở quá khứ.[24] Thay vào đó, nó là một tiêu chuẩn đang tiến hóa, được định hình bởi chính mạng lưới hàng nghìn BIT hiện nay.[25] Quan điểm tương tự cũng được nêu ra trong phán quyết trọng tài của vụ ADF kiện USA.[26] 2.2.2. Nguyên tắc FET như một nguyên tắc độc lập, vượt ra khỏi tập quán quốc tế a. Trường hợp ngôn ngữ trong IIAs không liên hệ tới luật quốc tế Đối với các trường hợp mà điều khoản FET trong các IIAs có viện dẫn tới luật quốc tế nói chung hoặc tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong luật tập quán quốc tế nói riêng, tồn tại nhiều quan điểm cho rằng FET nên được diễn giải như một tiêu chuẩn độc lập.[27] Theo F.A.Mann, FET vượt xa yêu cầu đối xử của tiêu chuẩn đối xử tối thiểu và được coi là một tiêu chuẩn độc lập. Các học giả khác cũng quan điểm tương tự rằng sự thiếu vắng của liên kết cụ thể tới tiêu chuẩn đối xử tối thiểu trong IIAs sẽ dẫn tới việc FET được giải thích như một tiêu chuẩn độc lập. Quan điểm trên cũng được ủng hộ bởi các hội đồng trọng tài trong thực tiễn xét xử. Trong vụ Urbaser kiện Argentina, hội đồng trọng tài nhận định rằng không có đủ căn cứ để tuyên bố rằng FET vốn được duy trì theo luật tập quán quốc tế.[28] Tương tự, trong vụ CME kiện Séc, nhận định của hội đồng trọng tài là FET vượt ra khỏi các yêu cầu của luật tập quán quốc tế về đối xử thiệu chí.[29] Cuối cùng, theo phán quyết trọng tài trong vụ OKO Pankki Oyj kiện Estonia, điều khoản về FET không chứa dẫn chiếu đến luật quốc tế phải được gán cho một “ý nghĩa độc lập” và “không được đồng nhất với tiêu chuẩn đối xử tối thiểu thấp hơn theo luật tập quán quốc tế”.[30] b. Trường hợp ngôn ngữ trong IIAs liên hệ tới luật quốc tế Đối với trường hợp thứ hai, các hội đồng trọng tài, trong các tranh chấp mà IIA có dẫn chiếu tới luật quốc tế, cũng cho rằng FET nên được giải thích như một tiêu chuẩn độc lập và tiêu chuẩn đối xử tối thiểu chỉ nên được xem như một mức sàn của FET thay vì là mức trần. Điển hình, trong vụ Azurix kiện Argentina, hội đồng trọng tài đã phân tích Điều II(2)(a) trong BIT Hoa Kỳ - Argentina. Điều khoản này quy định rằng “trong mọi trường hợp không được dành sự đối xử thấp hơn mức yêu cầu của luật quốc tế”.[31] Trên cơ sở đó, hội đồng nhận định rằng quy định này chỉ thiết lập một mức sàn cho tiêu chuẩn FET, thay vì đặt ra một mức trần.[32] Hội đồng trọng tài trong vụ Vivendi kiện Argentina cũng đưa ra nhận định tương tự. Theo đó, khi phân tích Điều 3 BIT Argentina - Pháp với quy định “đối xử công bằng và thỏa đáng theo các nguyên tắc của luật quốc tế”, hội đồng trọng tài đã kết luận rằng không có căn cứ nào để đồng nhất tiêu chuẩn đối xử tối thiểu với FET, và coi đó chỉ là mức sàn của FET.[33] 3. Thực tiễn các yếu tố cấu thành nên vi phạm FET 3.1. Từ chối cho hưởng công lý (Denial of justice) với quy trình tố tụng công bằng (Due process) Nghĩa vụ không được từ chối cho hưởng công lý là một trong những nghĩa vụ chính của nguyên tắc FET. Nghĩa vụ này được quy định trong nhiều IIAs hiện nay. Điển hình, theo Điều 11(2)(a) Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACIA) có quy định rằng FET yêu cầu mỗi Quốc gia thành viên phải “không được từ chối cho hưởng công lý trong bất kỳ tố tụng pháp lý hay hành chính nào phù hợp với thủ tục pháp luật (due process)”.[34] Quy định tương tự cũng được ghi nhận trong USMCA, với quy định tại Điều 14.6(2)(a) rằng FET bao gồm “bao gồm nghĩa vụ không từ chối cho hưởng công lý trong các thủ tục xét xử hình sự, dân sự hoặc hành chính phù hợp với nguyên tắc quy trình tố tụng công bằng (due process) được thể hiện trong các hệ thống pháp luật chính trên thế giới”.[35] Theo quan điểm truyền thống, từ chối cho hưởng công lý được xác định là tình trạng quản lý tư pháp sai trái nghiêm trọng của hệ thống tòa án nội địa, phát sinh từ sự vận hành thiếu hiệu quả của hệ thống tư pháp quốc gia sở tại.[36] Tồn tại một cách hiểu chung rằng chỉ những biểu hiện bất công rõ ràng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới cấu thành hành vi này; do đó, một sai sót đơn thuần hay việc giải thích hay áp dụng sai luật nội địa tự thân (per se) không được coi là hành vi từ chối cho hưởng công lý.[37] 3.2. Không tôn trọng kỳ vọng chính đáng (Legitimate Expectation) Trong thực tiễn xét xử, các hội đồng trọng tài đã nhiều lần đề cập tới kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư như là một yếu tố then chốt của FET.[38] Cụ thể, trong vụ Alpha kiện Ukraine, hội đồng trọng tài nhận định rằng nguyên tắc FET bao gồm cả nghĩa vụ không vi phạm kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư.[39] Hội đồng trọng tài trong vụ Saluka kiện Séc cũng có cùng quan điểm rằng tiêu chuẩn FET gắn liền với khái niệm kỳ vọng chính đáng, và là yếu tố chủ đạo của tiêu chuẩn này.[40] Kỳ vọng chính đáng là kỳ vọng xuất phát từ những cam kết mà nước nhận đầu tư dành cho nhà đầu tư nước ngoài.[41] Những kỳ vọng này có thể dựa trên khung pháp lý của quốc gia sở tại hay bất kỳ cam kết, tuyên bố nào được đưa ra một cách rõ ràng hoặc ngầm định bởi quốc gia sở tại, trong các nghị định, giấy phép, văn bản hành chính, cũng như hợp đồng.[42] Do vậy, nếu quốc gia sở tại tùy tiện hủy bỏ các cam kết cụ thể với nhà đầu tư bằng những biện pháp, chính sách hay pháp luật, thì quốc gia đó đã phá vỡ kỳ vọng chính đáng của nhà đầu tư và vi phạm nghĩa vụ FET. Dẫu vậy, kỳ vọng chính đáng không yêu cầu nhà nước nhận đầu tư tạo ra một môi trường ổn định tuyệt đối hay ngăn cản sự thay đổi về pháp luật của quốc gia sở tại. Điều này đã được hội đồng trọng tài trong vụ EDF kiện Romania nhấn mạnh trong phán quyết của mình.[43] Theo đó, hội đồng trọng tài nhận định rằng kỳ vọng của nhà đầu tư vào một môi trường pháp lý và kinh doanh đóng băng là không phù hợp và không chính đáng. Hiện nay, có thể quan sát rõ xu hướng thu hẹp và tái cấu trúc vai trò của kỳ vọng chính đáng trong các hiệp định đầu tư thế hệ mới.[44] Theo đó, các hiệp định đầu tư thế hệ mới như Hiệp định Thương mại và Kinh tế Toàn diện Canada - EU (CETA), Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU - Singapore (EUSIPA), hay Hiệp định Bảo hộ Đầu tư EU - Việt Nam (EVIPA) đã đưa ra những danh sách đóng về những hành vi vi phạm nghĩa vụ FET trong đó “kỳ vọng chính đáng” chỉ có thể được xem xét như một yếu tố bổ trợ trong việc đánh giá các hành vi đã được liệt kê, chẳng hạn như vi phạm nghĩa vụ minh bạch, thủ tục tố tụng công bằng hoặc hành vi đối xử tùy tiện. Cụ thể, Điều 8.10(4) CETA đã nhấn mạnh tính bổ trợ của kỳ vọng chính đáng, với quy định rằng, khi xem xét nghĩa vụ FET trong quy định đã nêu, hội đồng trọng tài có thể cân nhắc tới yếu tố kỳ vọng chính đáng.[45] Điều tương tự cũng được ghi nhận trong Điều 2.4(3) của EUSIPA.[46] 3.3. Đối xử tùy tiện (Arbitrary treatment) Trong khuôn khổ luật đầu tư quốc tế, đối xử tùy tiện được xem là một trong những biểu hiện điển hình vi phạm tiêu chuẩn FET. Các hội đồng trọng tài đã thừa nhận một cách hợp lý rằng tiêu chuẩn FET không cho phép hành vi tùy tiện trong quan hệ giữa quốc gia tiếp nhận đầu tư và nhà đầu tư.[47] Trên thực tế, một số IIAs bao gồm cả quy định chung về FET và quy định cụ thể về cấm các biện pháp đối xử tùy tiện.[48] Điều này có thể dẫn đến sự trùng lặp khi giải thích các IIAs, dẫu vậy FET được cho là tạo ra sự bảo hộ rộng hơn khi không yêu cầu phải có tổn hại mới cấu thành vi phạm.[49] Trong vụ LG&E kiện Argentina, hội đồng đã kết luận rằng các biện pháp của Argentina tuy không vi phạm điều khoản về đối xử tùy tiện, song lại vi phạm yêu cầu về đối xử công bằng và thỏa đáng.[50] 3.4. Ý đồ xấu (Bad faith) Nguyên tắc thiện chí (good faith) được nhắc tới như một tiêu chuẩn trung tâm của nghĩa vụ đối xử công bằng và thỏa đáng, đồng thời đóng vai trò như một kim chỉ nam trong các vụ kiện về FET.[51] Theo đó, những hành vi có ý đồ xấu (bad faith) được cho là đi ngược lại với cam kết về FET.[52] Trong vụ Frontier kiện Séc, hội đồng trọng tài đã đưa ra những phân tích cụ thể về hành vi ý đồ xấu của nước nhận đầu tư. Theo đó, hành vi có ý đồ xấu của quốc gia tiếp nhận đầu tư bao gồm: lạm dụng công cụ pháp lý sai mục đích; thông đồng giữa các cơ quan nhà nước để gây thiệt hại cho khoản đầu tư; chấm dứt hoặc trục xuất đầu tư vì lý do không chính đáng hoặc mang tính thiên vị; và viện dẫn cơ cấu nội bộ để né tránh nghĩa vụ.[53] 3.5. Ép buộc, đe dọa nhà đầu tư Ép buộc và đe dọa là những dạng hành vi không phù hợp trong mối quan hệ giữa nhà đầu tư và nước nhận đầu tư, những hành vi này được coi là dẫn tới vi phạm nghĩa vụ FET của quốc gia.[54] Các quốc gia đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau để đối xử bất lợi một cách đặc thù, thường được ngụy trang dưới vỏ bọc của các cuộc điều tra hợp pháp, những lựa chọn không thể chấp nhận được, hoặc hành vi mang tính ép buộc.[55] Trong thực tiễn xét xử, các vụ việc về các biện pháp ép buộc hoặc đe dọa nhà đầu tư cũng đã được ghi nhận. Cụ thể, trong vụ Saluka kiện Séc, hội đồng trọng tài khẳng định rằng FET đòi hỏi quốc gia tiếp nhận đầu tư phải bảo đảm nhà đầu tư không bị cưỡng ép hay quấy rối bởi chính các cơ quan quản lý của mình.[56] 4. Mối quan hệ của FET với các nguyên tắc khác trong luật đầu tư quốc tế FET được các hội đồng trọng tài và học giả cho rằng là một nguyên tắc mang định nghĩa riêng và có thể được áp dụng độc lập với những nguyên tắc khác.[57] Mặc dù FET hay đi kèm với nhiều những nguyên tắc khác như Bảo vệ và an ninh đầy đủ (FPS), Đối xử quốc gia (NT) và Tối huệ quốc (MFN), nhiều hội đồng trọng tài coi FET và những nguyên tắc này là độc lập và những hành vi vi phạm tới các nguyên tắc ấy cũng được xem xét độc lập.[58] 4.1. Nguyên tắc FET và Bảo vệ an ninh đầy đủ (FPS - Full Protection and Security) Một tắc thường xuyên đi kèm với FET chính là nguyên tắc Bảo vệ và an ninh đầy đủ.[59] Một số hội đồng trọng tài cho rằng FPS đã được bao trùm bởi nguyên tắc FET[60] và một số khác thì cho rằng hai nguyên tắc này có sự khác biệt và cần phải được suy xét độc lập[61]. FPS cũng là nguyên tắc bao gồm những nghĩa vụ của quốc gia phải có hành động (đối xử) bảo vệ với những nhà đầu tư nước ngoài, giống với FET. Tuy nhiên nội hàm của những nguyên tắc này có một số những khác biệt, chẳng hạn như tòa xét xử trong vụ án Frontier Petroleum kiện Séc nhận xét:[62] “Nguyên tắc FPS yêu cầu hệ thống pháp luật của các quốc gia phải có các biện pháp bảo vệ khoản đầu tư của người nước ngoài khỏi các hành động tiêu cực đến từ các chủ thể tư nhân cũng như các cơ quan nhà nước, trong khi đó nguyên tắc FET chỉ chủ yếu yêu cầu các quốc gia không thực hiện những hành vi được coi là không công bằng và bình đẳng.” Hơn nữa, vi phạm đối với nguyên tắc FPS có thể đến từ hành động hoặc sự không hành động của các quốc gia,[63] bao gồm cả bảo vệ vật lý, thương mại và pháp lý với các khoản đầu tư nước ngoài. Từ đó có một số hội đồng trọng tài đưa ra sự phân biệt giữa FPS và FET chỉ ra việc nghĩa vụ “bảo vệ và an ninh” (protection and security) không nằm trong những xem xét về sự “công bằng và thỏa đáng” (fair and equitable) trong cách đối xử” () của các quốc gia đối với các nhà đầu tư quốc tế.[64] Một số hội đồng trọng tài đặc biệt nhấn mạnh sự khác biệt giữa hai nguyên tắc này nhằm áp dụng FPS với những trường hợp tài sản và khoản đầu tư nước ngoài không được bảo vệ khỏi bạo loạn dân sự.[65] 4.2. Nguyên tắc FET và Đối xử quốc gia (NT - National Treatment), Tối huệ quốc (MFN - Most Favoured Nation) Nguyên tắc FET thường được định nghĩa là một nguyên tắc có tiêu chuẩn riêng với cơ sở tham chiếu có thể xác định được trong luật quốc tế.[66] Vì thế, khác với nguyên tắc Đối xử quốc gia khi và nguyên tắc Tối huệ quốc, FET là một tiêu chí không dựa vào các yếu tố này mà vi phạm được xác định dựa trên duy nhất là các tiêu chí về công bằng và thỏa đáng.[67] Do vậy, hành vi đối xử của quốc gia với nhà đầu tư có thể vi phạm FET kể cả khi nó không vi phạm NT hay MFN, khi sự đối xử thiếu công bằng này được áp dụng bình đẳng với cả các nhà đầu tư từ tất cả các quốc gia khác và từ nội địa.[68] Các nguyên tắc này có nhiều điểm chồng chéo, thường sự thiên vị một quốc gia hay các nhà đầu tư trong nước có thể được coi là không công bằng và thỏa đáng, trên thực tế, những tiêu chuẩn này trong xét xử đang dựa vào những cột mốc khác nhau để xác định vi phạm. Các hội đồng trọng tài cũng nhấn mạnh sự khác biệt trong những nguyên tắc này và cũng áp dụng chúng là những nguyên tắc độc lập trong xét xử.[69] DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Markus Burgstaller, 'Fair and Equitable Treatment in International Investment Law' (Practical Law, 2026) https://uk.practicallaw.thomsonreuters.com/5-385-7129?transitionType=Default&contextData=(sc.Default)&firstPage=true. [2] Havana Charter for an International Trade Organization (United Nations Conference on Trade and Employment, 24 March 1948) UN Doc E/CONF.2/78, art 29. [3] Draft Convention on Investments Abroad (1959) art 1. [4] OECD Draft Convention on the Protection of Foreign Property (1967) (1968) 7 ILM 117, 119. [5] Rudolf Dolzer, Ursula Kriebaum and Christoph Schreuer, Principles of International Investment Law (3rd edn, OUP 2022). [6] North American Free Trade Agreement (signed 17 December 1992, entered into force 1 January 1994) (1993) 32 ILM 289 ('NAFTA') arts 1105, 1714. [7] Energy Charter Treaty (opened for signature 17 December 1994, entered into force 16 April 1998) 2080 UNTS 95 ('ECT') art 10. [8] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (UNCTAD Series on Issues in International Investment Agreements II, UN 2012) 6. [9] Técnicas Medioambientales Tecmed SA v United Mexican States (Award) ICSID Case No ARB(AF)/00/2 (29 May 2003) [154]. [10] MTD Equity Sdn Bhd and MTD Chile SA v Republic of Chile (Award) ICSID Case No ARB/01/7 (25 May 2004) [113]. [11] MTD Equity Sdn Bhd and MTD Chile SA v Republic of Chile (Decision on Annulment) ICSID Case No ARB/01/7 (21 March 2007) [67]. [12] Saluka Investments BV v Czech Republic (Partial Award) UNCITRAL (17 March 2006) [309]. [13] Borja Alvarez Sanz, 'Minimum Standard of Treatment (MST)' (Jus Mundi, 2022) https://jusmundi.com/en/document/publication/en-minimum-standard-of-treatment-mst. [14] LFA Neer and Pauline Neer (USA) v United Mexican States (Opinion) United States–Mexico General Claims Commission (15 October 1926) 4 RIAA 60. [15] August Reinisch and Christoph Schreuer, International Protection of Investments: The Substantive Standards (CUP 2020) 308. [16] Rudolf Dolzer, Ursula Kriebaum and Christoph Schreuer, Principles of International Investment Law (3rd edn, OUP 2022) 204. [17] Merrill & Ring Forestry LP v Government of Canada (Award) ICSID Case No UNCT/07/1 (31 March 2010) [213]. [18] Stephan W Schill, The Multilateralization of International Investment Law (CUP 2009) 152. [19] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16) 200. [20] NAFTA (n 6) art 1105. [21] NAFTA Free Trade Commission, Notes of Interpretation of Certain Chapter 11 Provisions (31 July 2001). [22] Agreement between the United States of America, the United Mexican States, and Canada (signed 30 November 2018, entered into force 1 July 2020) ('USMCA') art 14.6. [23] Katia Yannaca-Small (ed), Arbitration under International Investment Agreements: A Guide to the Key Issues (OUP 2010) 389. [24] Mondev International Ltd v United States of America (Award) ICSID Case No ARB(AF)/99/2 (11 October 2002) [125]. [25] Mondev (n 24) [125]. [26] ADF Group Inc v United States of America (Award) ICSID Case No ARB(AF)/00/1 (9 January 2003) [121]. [27] Reinisch and Schreuer (n 15) 325. [28] Urbaser SA and Consorcio de Aguas del Bilbao Bizkaia, Bilbao Biskaia Ur Kontsortzioa v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/07/26 (8 December 2016) [604]. [29] CME Czech Republic BV v Czech Republic (Partial Award) UNCITRAL (13 September 2001) [156]. [30] OKO Pankki Oyj v Republic of Estonia (Award) ICSID Case No ARB/04/6 (19 November 2007) [236]. [31] Treaty between the United States of America and the Argentine Republic concerning the Reciprocal Encouragement and Protection of Investment (signed 14 November 1991, entered into force 20 October 1994) ('US–Argentina BIT') art II. [32] Azurix Corp v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/01/12 (14 July 2006) [361]. [33] Compañía de Aguas del Aconquija SA and Vivendi Universal SA v Argentine Republic (Resubmitted Case: Award) ICSID Case No ARB/97/3 (20 August 2007) [7.4.7]. [34] ASEAN Comprehensive Investment Agreement (signed 26 February 2009, entered into force 29 March 2012) ('ACIA') art 11. [35] USMCA (n 22) art 14.6. [36] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (UNCTAD Series on Issues in International Investment Agreements II, UN 2012) 80. [37] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (n 36) 80. [38] UNCTAD, Fair and Equitable Treatment: A Sequel (n 36) 63. [39] Alpha Projektholding GmbH v Ukraine (Award) ICSID Case No ARB/07/16 (8 November 2010) [402]. [40] Saluka Investments BV v Czech Republic (Partial Award) UNCITRAL (17 March 2006) [302]. [41] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16) 208. [42] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16) 208. [43] EDF (Services) Limited v Romania (Award) ICSID Case No ARB/05/13 (8 October 2009) [217]. [44] OECD Secretariat, 'Fair and Equitable Treatment Provisions in Investment Treaties: A Large-Sample Survey of Treaty Provisions' (OECD Secretariat Research Note, 12 April 2023) 19. [45] Comprehensive Economic and Trade Agreement between Canada and the European Union (signed 30 October 2016, provisionally entered into force 21 September 2017) ('CETA') art 8.10. [46] EU-Singapore Investment Protection Agreement (signed 19 October 2018) ('EUSIPA') art 2.4(3). [47] Rudolf Dolzer, 'Fair and Equitable Treatment: Today's Contours' (2014) 12 Santa Clara J Int'l L 7, 31. [48] Treaty between the Government of the United States of America and the Government of Romania concerning the Reciprocal Encouragement and Protection of Investment (signed 28 May 1992, entered into force 15 January 1994) ('US–Romania BIT') art II. [49] Trần Anh Tuấn và Trịnh Hải Yến, Pháp luật Việt Nam về đầu tư nước ngoài, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế trong thời kỳ đổi mới (NXB Chính trị quốc gia Sự thật 2019) 146. [50] LG&E Energy Corp, LG&E Capital Corp, and LG&E International, Inc v Argentine Republic (Decision on Liability) ICSID Case No ARB/02/1 (3 October 2006) [162]. [51] Sempra Energy International v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/02/16 (28 September 2007) [299]. [52] Trần Anh Tuấn và Trịnh Hải Yến (n 49) 146. [53] Frontier Petroleum Services Ltd v Czech Republic (Final Award) UNCITRAL (12 November 2010) [300]. [54] Trần Anh Tuấn và Trịnh Hải Yến (n 49) 147. [55] Dolzer, 'Fair and Equitable Treatment: Today's Contours' (n 47) 31. [56] Saluka (n 40) [308]. [57] Rudolf Dolzer and Margrete Stevens, Bilateral Investment Treaties (Nijhoff 1995) 60; Peter T Muchlinski, Multinational Enterprises and the Law (Blackwell 1999) 626; UNCTAD, Fair and Equitable Treatment (UNCTAD Series on Issues in International Investment Agreements, UN 1999) 13, 17, 37–40, 53, 61; Stephen Vasciannie, 'The Fair and Equitable Treatment Standard in International Investment Law and Practice' (1999) 70 BYIL 99, 104–05, 139; Ioana Tudor, The Fair and Equitable Treatment Standard in the International Law of Foreign Investment (OUP 2008) 54; FA Mann, 'British Treaties for the Promotion and Protection of Investments' (1981) 52 BYIL 241. [58] Nations Energy Inc, Electricidad de Chiriquí 2 SA and Hydrox SA v Republic of Panama (Award) ICSID Case No ARB/06/19 (24 November 2010) [682] ff; Tidewater Inc and others v Bolivarian Republic of Venezuela (Decision on Jurisdiction) ICSID Case No ARB/10/5 (23 December 2012). [59] Agreement between the Government of the People's Republic of China and the Swiss Federal Council on the Promotion and Reciprocal Protection of Investments (signed 27 January 2009, entered into force 13 April 2010) ('China–Switzerland BIT') art 4. [60] Occidental Exploration and Production Co v Republic of Ecuador (Final Award) LCIA Case No UN3467 (1 July 2004) [187]; Azurix (n 32). [61] El Paso Energy International Co v Argentine Republic (Award) ICSID Case No ARB/03/15 (31 October 2011) [228]–[231]; Jan Oostergetel and Theodora Laurentius v Slovak Republic (Final Award) UNCITRAL (23 April 2012). [62] Frontier Petroleum (n 53). [63] Arne Fuchs and Maximilian Pika, 'Full Protection and Security (FPS)' (Jus Mundi, 2020) https://jusmundi.com/en/document/publication/en-full-protection-and-security-fps accessed 26 March 2026. [64] Saluka (n 40). [65] OECD, 'Fair and Equitable Treatment Standard in International Investment Law' (2004) OECD Working Papers on International Investment 2004/03 https://www.oecd.org/content/dam/oecd/en/publications/reports/2004/09/fair-and-equitable-treatment-standard-in-international-investment-law_g17a166b/675702255435.pdf accessed 26 March 2026. [66] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16). [67] Garanti Koza MJA v Turkmenistan (Award) ICSID Case No ARB/11/20 (19 December 2016) [380]; CME (n 29) [611]; ADF (n 26) [178]. [68] Dolzer, Kriebaum and Schreuer (n 16). [69] Azurix (n 32) [408].

  • [86] NGHĨA VỤ KHÔNG GÂY TỔN HẠI BẰNG BIỆN PHÁP TÙY TIỆN HOẶC/VÀ PHÂN BIỆT

    Tác giả: Đỗ Kim Ngân, Lê Thuỳ Dung Mở đầu Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hệ thống bảo hộ đầu tư quốc tế đã phát triển mạnh mẽ thông qua các hiệp định đầu tư song phương (BITs) và hiệp định thương mại tự do (FTAs), nhằm tạo dựng môi trường đầu tư ổn định và có thể dự đoán. Sự gia tăng dòng vốn đầu tư xuyên biên giới kéo theo yêu cầu cấp thiết về việc cân bằng giữa quyền điều chỉnh của quốc gia tiếp nhận đầu tư và quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài. Trong tiến trình này, nghĩa vụ không gây tổn hại bằng các biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử dần trở thành một tiêu chuẩn pháp lý quan trọng. Nghĩa vụ này thường được quy định trong các điều khoản bảo hộ đầu tư, nhằm hạn chế việc quốc gia áp dụng các biện pháp thiếu hợp lý hoặc mang tính thiên vị đối với nhà đầu tư. Bài viết dưới đây trung làm rõ cơ sở pháp lý, nội dung và vai trò của nghĩa vụ này trong luật đầu tư quốc tế hiện đại. Từ khóa: Luật Đầu tư Quốc tế, Tiêu chuẩn đối xử công bằng và thỏa đáng, Tối huệ quốc, Đối xử quốc gia, Bảo hộ đầu tư 1. Khái quát về nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt là một nghĩa vụ quan trọng trong hệ thống quy phạm của luật đầu tư quốc tế (LĐTQT). Nghĩa vụ này yêu cầu các bên ký kết không được bằng các biện pháp “tùy tiện, vô lý và/hoặc phân biệt” (unreasonable or discriminatory measures) gây tổn hại đến hoạt động, quản lý, duy trì, sử dụng, thu lợi, mua, mở rộng hoặc một hình thức chuyển nhượng đầu tư.[1] Nghĩa vụ này ra đời sau Thế chiến II trong bối cảnh rủi ro chính trị đe dọa đến các nhà đầu tư nước ngoài khiến cho họ cần đảm bảo rằng vốn đầu tư của mình không bị phân biệt đối xử so với các nhà đầu tư nội địa hay nhà đầu tư đến từ quốc gia khác.[2] 2. Nguồn của nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt 2.1. Khái quát về các nguồn của nghĩa vụ LĐTQT vẫn là một nhánh của luật quốc tế, do vậy, các nguồn của LĐTQT vẫn thường được tìm thấy trong các nguồn của luật quốc tế nói chung theo Quy chế của Tòa án Công lý Quốc tế, Điều 38(1) bao gồm: điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, các phán quyết của tòa án. Dựa trên chủ thể tham gia, các hợp đồng đầu tư hoặc thỏa thuận đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư nước ngoài và quốc gia tiếp nhận đầu tư cũng giữ vai trò quan trọng trong luật đầu tư quốc tế. Mặc dù không được coi là nguồn chính thức của luật đầu tư quốc tế theo nghĩa hình thức, các văn bản này là căn cứ trực tiếp xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đầu tư, đồng thời thường được hội đồng trọng tài viện dẫn như một bộ phận của luật áp dụng để giải quyết tranh chấp đầu tư. Tuy nhiên, quy định về nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt lại thường được tìm thấy trong phạm vi các Hiệp định đầu tư hay tập quán quốc tế mà không rộng rãi như các nguyên tắc khác của LĐTQT. 2.2. Điều ước quốc tế về đầu tư nước ngoài Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt có thể được tìm thấy trong các hiệp định đầu tư quốc tế (International Investment Agreement, gọi tắt là IIA). Trong Hiệp định Năng lượng 1994 (Energy Charter Treaty, ECT) - một hiệp định đầu tư quốc tế đa phương, Điều 10(1) quy định “Các khoản đầu tư đó cũng được hưởng sự bảo hộ và an ninh thường xuyên nhất, và không Bên ký kết nào được bằng bất kỳ cách nào làm suy giảm việc quản lý, bảo trì, sử dụng, hưởng thụ hoặc định đoạt các khoản đầu tư đó bởi các biện pháp vô lý hoặc phân biệt đối xử.”[3] Không chỉ được quy định trong các hiệp định đầu tư đa phương, nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt cũng xuất hiện trong các hiệp định chứa điều khoản đầu tư quốc tế (TIPs), các hiệp định thương mại tự do (foreign free-trade agreement - FTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPAs). Trong FTA giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, Điều 12.7(2) quy định “Không Bên nào được, trong lãnh thổ của mình, áp đặt các biện pháp vô lý hoặc phân biệt đối xử đối với khoản đầu tư được bảo hộ của nhà đầu tư của Bên kia liên quan đến các yêu cầu về hiệu suất xuất khẩu hoặc chuyển giao công nghệ.” 2.3. Tập quán quốc tế về đầu tư nước ngoài Trong các nguồn của LĐTQT, tập quán quốc tế thường không được áp dụng nhiều trong thực tiễn xét xử do có ít quy tắc về đầu tư quốc tế cũng như có nhiều nội dung gây tranh cãi, chưa được thừa nhận rộng rãi. Một trong những tập quán nổi bật của luật đầu tư quốc tế và cũng chứa đựng nghĩa vụ cấm gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt là tiêu chuẩn đối xử tối thiểu (international minimum standard of treatment - MST)[4]. MST là tiêu chuẩn đối xử tối thiểu mà mọi quốc gia phải dành cho nhà đầu tư nước ngoài và tài sản của họ. Trong vụ Waste Management kiện Mexico, Tòa trọng tài đã khẳng định “Tiêu chuẩn đối xử tối thiểu [...] bị vi phạm bởi các hành vi có thể quy trách nhiệm cho Nhà nước [...] nếu các hành vi đó tùy tiện, cực kỳ bất công, bất công hoặc lập dị, phân biệt đối xử và khiến người khiếu nại phải chịu thành kiến cục bộ hoặc phân biệt chủng tộc, hoặc liên quan đến việc thiếu quy trình tố tụng dẫn đến kết quả xúc phạm đến tính chính đáng tư pháp.”[5] Như vậy, các biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt đối với nhà đầu tư được coi là cấu thành vi phạm tiêu chuẩn tối thiểu, hay nói cách khác, chính tập quán về MST đã gián tiếp đặt ra nghĩa vụ không gây hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt. 3. Nội hàm của nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng các biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt đối xử là một tiêu chuẩn quan trọng trong luật đầu tư quốc tế, thường được ghi nhận trong các hiệp định bảo hộ đầu tư (BITs) như Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư Song phương Argentina - Hoa Kỳ (1991) tại Điều II(2)(b) và được phát triển thông qua thực tiễn xét xử của các hội đồng trọng tài. Nội hàm của nghĩa vụ này được hình thành qua hai trụ cột chính: (i) cấm các biện pháp tùy tiện (arbitrary measures)[6] và (ii) cấm các biện pháp phân biệt đối xử (discriminatory measures)[7]. 3.1. Biện pháp tùy tiện (arbitrary or unreasonable measures) Khái niệm “tùy tiện” không được định nghĩa một cách thống nhất trong các hiệp định đầu tư mà chủ yếu được làm rõ qua thực tiễn án lệ.[8] Định nghĩa có ảnh hưởng nhất xuất phát từ Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ) trong vụ Elettronica Sicula S.p.A (ELSI), theo đó tính tùy tiện là “sự coi thường có chủ ý đối với thủ tục pháp lý công bằng, một hành vi gây sốc, hoặc ít nhất gây ngạc nhiên, đối với cảm nhận về sự đúng đắn trong tư pháp”.[9] Điều này có nghĩa là, tiêu chuẩn ELSI khẳng định hành vi tùy tiện không chỉ đơn thuần là sự vi phạm pháp luật nội địa hay sai sót hành chính thông thường. Yếu tố này thể hiện qua sự xâm phạm nghiêm trọng đến thủ tục pháp lý công bằng, như việc tước bỏ quyền được giải trình hay phớt lờ quy trình tối thiểu của nhà đầu tư. Nhiều hội đồng trọng tài đầu tư sau này đã kế thừa định nghĩa này khi giải thích tính tùy tiện trong khuôn khổ các BIT.[10] Trên cơ sở đó, các hội đồng trọng tài dần phát triển một cách tiếp gắn với nguyên tắc thủ tục hợp lý (due process). Theo nguyên tắc này, một biện pháp bị coi là tùy tiện nếu nó thiếu cơ sở hợp lý, được đưa ra vì những lý do khác với lý do mà cơ quan ra quyết định viện dẫn hoặc thể hiện sự coi thường có chủ ý đối với thủ tục và trình tự đúng đắn.[11] Trong vụ Saluka Investments BV v. Cộng hòa Czech, khi xem xét khiếu nại về phân biệt đối xử liên quan đến việc hỗ trợ tài chính cho các ngân hàng, hội đồng trọng tài đã áp dụng tiêu chí: để không bị coi là tùy tiện hoặc phân biệt đối xử thì nhà nước phải đưa ra sự giải thích hợp lý cho việc đối xử khác biệt. Hội đồng đã kết luận rằng không có lý do nào trong số các lý do mà chính quyền Czech đưa ra cấu thành một sự biện minh hợp lý cho việc hỗ trợ nhà nước không đồng đều.[12] Trong vụ LG&E Energy Corp. và các bên khác v. Argentina, hội đồng trọng tài cũng xem xét riêng biệt hai yếu tố “tùy tiện” và “phân biệt đối xử” theo Điều II(2)(b) của BIT Hoa Kỳ - Argentina. Kết luận cuối cùng của hội đồng là các biện pháp của Argentina tuy không cấu thành hành vi tùy tiện nhưng có tính chất phân biệt đối xử và do đó vẫn vi phạm hiệp định.[13] 3.2. Biện pháp phân biệt đối xử (discriminatory measures) Bên cạnh việc cấm các biện pháp tùy tiện, nhiều hiệp định đầu tư song phương còn quy định riêng việc cấm các biện pháp mang tính phân biệt đối xử như Điều 3(1) Hiệp định đầu tư Argentina - Hà Lan quy định mỗi bên ký kết “sẽ bảo đảm đối xử công bằng và thỏa đáng đối với các khoản đầu tư [....] và sẽ không gây tổn hại bằng các biện pháp bất hợp lý hoặc phân biệt đối xử đến việc vận hành, quản lý, duy trì, sử dụng, hưởng lợi hoặc định đoạt các khoản đầu tư đó.”[14] Một biện pháp mang tính phân biệt đối xử là biện pháp phân biệt đối xử với nhà đầu tư hoặc gây bất lợi cho nhà đầu tư đó mà không có lý do chính đáng, thường nhưng không nhất thiết trên cơ sở quốc tịch.[15] Điều này có nghĩa là biện pháp bị coi là phân biệt đối xử khi nó khiến nhà đầu tư chịu thiệt thòi hoặc đối mặt với quy định khắt khe hơn những người khác mà nhà nước không đưa ra được lý do chính đáng như vì môi trường hay sức khỏe cộng đồng. Trong vụ Occidental Exploration and Production Co. v. Cộng hòa Ecuador (I), hội đồng trọng tài đã áp dụng tiêu chí: để không bị coi là phân biệt đối xử thì nhà nước phải đưa ra sự biện minh hợp lý cho việc đối xử khác biệt giữa các nhà xuất khẩu. Sau khi áp dụng tiêu chí này, hội đồng kết luận không có lý do nào trong số các lý do mà cơ quan thuế Ecuador (SRI) đưa ra cấu thành biện minh hợp lý cho việc từ chối hoàn thuế VAT cho Occidental trong khi vẫn tiếp tục hoàn thuế cho các nhà xuất khẩu khác.[16] Về nguyên tắc, việc xác định một biện pháp có mang tính phân biệt đối xử hay không đòi hỏi phải xác định được một đối tượng so sánh phù hợp và đánh giá xem chủ thể bị khiếu nại có bị đối xử khác biệt so với đối tượng đó trong hoàn cảnh tương tự hay không.[17] Tuy nhiên, nếu nguyên tắc đối xử quốc gia (national treatment) và nguyên tắc tối huệ quốc (most favoured nation) vốn giới hạn phép so sánh ở tiêu chí quốc tịch thì phạm vi so sánh trong điều khoản không gây tổn hại có thể rộng hơn và không nhất thiết đòi hỏi so sánh giữa nhà đầu tư nước ngoài và trong nước hay giữa các nhà đầu tư mang các quốc tịch khác nhau.[18] Đồng thời, phạm vi của yếu tố phân biệt đối xử bao trùm cả phân biệt đối xử trên văn bản (de jure) và phân biệt đối xử trên thực tế (de facto).[19] Phân biệt đối xử trên văn bản là trường hợp một quy định trực tiếp phân biệt dựa trên quốc tịch hay nguồn gốc. Phân biệt đối xử trên thực tế là trường hợp một biện pháp trung lập về hình thức nhưng khi áp dụng trên thực tế lại gây hệ quả bất lợi hơn cho nhà đầu tư hoặc hàng hóa nước ngoài. Vụ Corn Products International kiện Mexico là một ví dụ minh họa cho dạng phân biệt đối xử trên thực tế. Trong vụ này, Mexico áp một loại thuế lên đồ uống có sử dụng si-rô ngô hàm lượng fructose cao (HFCS). Về hình thức, loại thuế này trung lập và không nêu đích danh yếu tố quốc tịch. Tuy nhiên, hội đồng trọng tài kết luận rằng loại thuế này trên thực tế đã gây hệ quả bất lợi hơn cho nhà đầu tư nước ngoài vốn là những chủ thể chủ yếu sử dụng HFCS so với nhà đầu tư trong nước sử dụng đường mía.[20] Về vấn đề “ý định phân biệt đối xử” (intent to discriminate) và “hệ quả phân biệt đối xử” (discriminatory effect), đây vẫn là một điểm còn có nhiều quan điểm khác nhau trong thực tiễn trọng tài. Theo tổng hợp của Aceris Law, thực tiễn án lệ cho thấy chứng minh ý định phân biệt đối xử không phải là điều kiện bắt buộc để xác lập vi phạm tiêu chuẩn đối xử quốc gia.[21] Trong vụ S.D. Myers, Inc. v. Canada (NAFTA/UNCITRAL), hội đồng trọng tài nhận định rằng: “ dù ý định là quan trọng nhưng ý định bảo hộ (protection intent) không nhất thiết mang tính quyết định khi đứng riêng lẻ”.[22] Điều này có nghĩa là để kết luận nhà nước vi phạm tiêu chuẩn đối xử quốc gia, trọng tài nhìn vào hậu quả thực tế mà biện pháp gây ra chứ không bắt buộc phải truy tìm ý định ban đầu của chính quyền. Cụ thể hơn, ngay cả khi nhà nước hoàn toàn không có ý định gây khó dễ nhà đầu tư nước ngoài nhưng chính sách đưa ra lại thực sự gây thiệt hại và bất bình đẳng cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài so với các doanh nghiệp nội địa thì vẫn bị coi là vi phạm. Do đó, trọng tâm của việc đánh giá không nằm ở động cơ của nhà nước, mà ở việc liệu các chủ thể trong hoàn cảnh tương tự có bị đối xử khác biệt một cách không hợp lý hay không. 3.3. Phạm vi hành vi của nhà nước bị kiểm soát Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử có phạm vi áp dụng rộng vì thuật ngữ “biện pháp” (measure) bao gồm tất cả các hành vi, thủ tục, quy định của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp.[23] Trước hết, các quy định pháp luật (legislative measures) có thể bị xem xét nếu chúng tạo ra sự phân biệt hoặc thiếu hợp lý trong việc điều chỉnh hoạt động đầu tư. Mặc dù quyền lập pháp là một biểu hiện của chủ quyền quốc gia, song việc thực thi chủ quyền này không được dẫn đến sự vi phạm các nghĩa vụ phát sinh từ các điều ước quốc tế về đầu tư.[24] Tiếp theo, các quyết định và hành vi mang tính hành chính (administrative measures) - bao gồm quyết định của cơ quan hành pháp, việc cấp hoặc thu hồi giấy phép hay hành vi của cơ quan quản lý chuyên ngành - thường là đối tượng bị khiếu kiện trong thực tiễn trọng tài đầu tư. Ví dụ, trong vụ Genin v. Estonia, khiếu nại xuất phát từ việc Ngân hàng Trung ương Estonia thu hồi giấy phép hoạt động của ngân hàng của nhà đầu tư.[25] Ngoài ra, các biện pháp thuế (tax measures) cũng có thể bị xem xét, đặc biệt khi chúng được sử dụng như một công cụ nhằm phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi không hợp lý cho nhà đầu tư nước ngoài, dù lĩnh vực này thường có mức độ bảo lưu nhất định trong các hiệp định.[26] Như vậy, nghĩa vụ này không chỉ giới hạn ở một loại hành vi cụ thể mà áp dụng rộng rãi đối với toàn bộ hoạt động thực thi quyền lực công của nhà nước. 3.4. Mức độ kiểm tra của hội đồng trọng tài Trong quá trình áp dụng nghĩa vụ này, mức độ rà soát mà hội đồng trọng tài áp dụng đối với biện pháp của nhà nước được gọi là “tiêu chuẩn rà soát” (standard of review) vẫn là một vấn đề chưa được giải quyết thống nhất và gây ra nhiều tranh luận trong học thuật cũng như trong thực tiễn trọng tài.[27] Về cơ bản, tiêu chuẩn rà soát được hiểu là mức độ chặt chẽ mà một hội đồng trọng tài quốc tế áp dụng khi xem xét lại các phán đoán về sự kiện hay pháp lý mà quốc gia tại sở tại đã đưa ra trước đó.[28] Một xu hướng trong thực tiễn trọng tài là áp dụng sự tôn trọng nhất định (deference) đối với các quyết định điều tiết mang tính phức tạp của nhà nước, đặc biệt trong các lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật hoặc liên quan đến chính sách công.[29] Ví dụ, trong vụ Glamis Gold Ltd. v. Hoa Kỳ (NAFTA/ UNCITRAL), hội đồng trọng tài chấp nhận lập luận rằng không phải nhiệm vụ của mình là tự mình trở thành nhà khảo cổ học hay dân tộc học để đưa ra phán đoán riêng về một quy trình rà soát văn hóa mà chỉ cần xác định liệu quy trình đó có thể hiện “sự từ chối công lý nghiêm trọng, tính tùy tiện rõ ràng, sự bất công lộ liễu, sự thiếu hoàn toàn thủ tục đúng đắn, sự phân biệt đối xử rõ ràng hoặc sự thiếu vắng lý do một cách rõ ràng” hay không.[30] Ngược lại, trong vụ Philip Morris v. Uruguay liên quan đến các biện pháp kiểm soát thuốc lá vì mục tiêu y tế cộng đồng, đa số hội đồng trọng tài đồng ý rằng khái niệm “biên độ đánh giá” (margin of appreciation) cũng có thể áp dụng cho tranh chấp BIT. Khái niệm “biên độ đánh giá” (margin of appreciation) vốn quen thuộc trong luật nhân quyền nhưng thay vì viện dẫn án lệ của Tòa án Nhân quyền Châu Âu, hội đồng dựa vào các phán quyết trọng tài đầu tư khác để ủng hộ việc dành một mức tôn trọng nhất định cho nhà nước khi điều tiết các vấn đề phức tạp.[31] Về mặt học thuật, có quan điểm cho rằng học thuyết “biên độ đánh giá” (margin of appreciation) theo đúng nghĩa kỹ thuật mà Tòa án Nhân quyền Châu Âu phát triển khó có chỗ đứng trong tranh chấp giữa nhà đầu tư với nhà nước do sự khác biệt căn bản về khung thể chế vận hành nhưng nguyên tắc cân xứng (proportionality) có thể là công cụ pháp lý hữu ích hơn để trọng tài viên cân nhắc lợi ích nhà nước.[32] Nhìn chung, việc lựa chọn mức độ rà soát phụ thuộc vào bối cảnh cụ thể của từng vụ việc và phản ánh nỗ lực cân bằng giữa quyền điều tiết của nhà nước (right to regulate) và nghĩa vụ bảo hộ nhà đầu tư.[33] 4. Mối quan hệ giữa nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt với một số nguyên tắc quan trọng trong luật đầu tư quốc tế 4.1. Quan hệ giữa nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt với nguyên tắc không phân biệt (non-discrimination). Nghĩa vụ không áp dụng các biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử có mối quan hệ chặt chẽ với nguyên tắc không phân biệt (non-discrimination) trong luật đầu tư quốc tế, nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Theo cách phân loại được trình bày trong Investor-State Arbitration, các hiệp định đầu tư bảo đảm chống lại sự phân biệt đối xử theo ba cơ chế khác nhau: đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc và điều khoản cấm gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện và phân biệt đối xử.[34] Nguyên tắc không phân biệt đối xử được thể hiện qua hai tiêu chuẩn: đối xử quốc gia và đối xử tối huệ quốc . Cả hai đều yêu cầu so sánh: nhà đầu tư nước ngoài phải được đối xử ít nhất là tốt bằng nhà đầu tư trong nước (NT) hoặc nhà đầu tư nước thứ ba (MFN) trong hoàn cảnh tương tự.[35] Điều này có nghĩa là để xác định hành vi vi phạm NT hay MFN thì cần tìm một đối tượng để so sánh. Nghĩa vụ không gây tổn hại thì có phạm vi rộng hơn và không nhất thiết cần so sánh. Nicolas F. Diebold gọi đây là “một tiêu chuẩn độc lập được quy định thường xuyên trong các hiệp định đầu tư”.[36] Cụ thể, yếu tố tùy tiện hoàn toàn không cần so sánh với ai cả bởi vì một biện pháp có thể bị coi là vi phạm chỉ vì bản thân nó vô lý, thiếu cơ sở, dù áp dụng như nhau cho mọi nhà đầu tư, không phân biệt quốc tịch.[37] Nhưng đối với yếu tố phân biệt đối xử, hai chuẩn mực này có sự giao thoa đáng kể vì cùng xoay quanh việc so sánh đối xử giữa các chủ thể trong hoàn cảnh tương tự. Tuy nhiên, điểm khác biệt là yếu tố phân biệt đối xử trong điều khoản không gây tổn hại không nhất thiết phải gắn với khuôn khổ so sánh dựa trên quốc tịch như NT hay MFN mà có thể được áp dụng như một căn cứ đánh giá độc lập.[38] 4.2. Quan hệ giữa nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt với các quy định về tước quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài Tước quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có thể được coi là thuộc chủ quyền của quốc gia nhận đầu tư trong việc áp dụng các biện pháp điều chỉnh việc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong phạm vi lãnh thổ của nước nhận đầu tư. LĐTQT luôn thừa nhận quyền này khiến nó trở thành mối lo ngại lớn nhất đối với các nhà đầu tư quốc tế.[39] Trong bối cảnh đó, nghĩa vụ không gây tổn hại bằng biện pháp tùy tiện hoặc/và phân biệt trở thành một công cụ mạnh mẽ bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài khỏi sự quốc hữu hóa hoặc trưng thu tài sản của quốc gia nhận đầu tư một cách vô lý và gây thiệt hại lớn. Cụ thể, các hiệp định đầu tư thường không hạn chế chủ quyền của quốc gia nhận đầu tư trong việc điều chỉnh tài sản của nhà đầu tư trên lãnh thổ song phải đáp ứng được điều kiện rằng các biện pháp đó không mang tính tùy tiện và phân biệt đối xử.[40] Trong vụ Fireman kiện Mexico, phán quyết của hội đồng trọng tài có chứa nội dung “Trừ các hoàn cảnh đặc biệt, các biện pháp quản lý không mang tính phân biệt đối xử của một bên được đưa ra và áp dụng và nhằm bảo vệ các mục tiêu phúc lợi xã hội chính đáng, ví dụ như sức khỏe cộng đồng, an toàn và môi trường, không cấu thành việc tước quyền sở hữu gián tiếp”[41]. Như vậy, nghĩa vụ trên đã đặt ra một căn cứ vô cùng quan trọng trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của quốc gia nhận đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là trong các trường hợp nhà đầu tư yêu cầu bồi thường. Vẫn trong vụ Fireman kiện với Mexico, tòa trọng tài khẳng định “để phân biệt giữa tước quyền sở hữu được bồi thường với một biện pháp không phải bồi thường của nước nhận đầu tư, các biện pháp sau có thể được xem xét [...] liệu biện pháp có mang tính chất phân biệt đối xử”.[42] Kết luận Nghĩa vụ không gây tổn hại bằng các biện pháp tùy tiện hoặc phân biệt đối xử giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ nhà đầu tư và kiểm soát quyền lực nhà nước trong luật đầu tư quốc tế. Thông qua các hiệp định đầu tư và án lệ trọng tài, nghĩa vụ này đã được phát triển với nội hàm bao gồm việc cấm các biện pháp thiếu cơ sở hợp lý, vi phạm quy trình pháp lý, hoặc tạo ra sự đối xử bất bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong hoàn cảnh tương tự. Tuy vậy, thực tiễn áp dụng cho thấy vẫn tồn tại sự không thống nhất trong cách diễn giải, đặc biệt về tiêu chí xác định tính tùy tiện, vai trò của ý định phân biệt đối xử, và mức độ kiểm tra của hội đồng trọng tài. Đồng thời, nghĩa vụ này có mối liên hệ chặt chẽ với các nguyên tắc khác như FET hay đối xử quốc gia, đặt ra yêu cầu phân định rõ ranh giới giữa các tiêu chuẩn. Trong bối cảnh thương mại quốc tế biến động, nghĩa vụ này tiếp tục là công cụ quan trọng để cân bằng giữa bảo hộ đầu tư và không gian chính sách quốc gia. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Trịnh Hải Yến, Giáo trình “Luật đầu tư quốc tế”, Học viện Ngoại giao [2] Sarah M. Alshahrani, What Should We Know About the Origins of International Investment Law?, International Journal of Legal Information, Vol. 48, No. 3, 2020, tr. 122–131. [3] Hiệp định Năng lượng 1994 (Energy Charter Treaty, ECT), Điều 10(1) [4] Trịnh Hải Yến, Giáo trình Luật Đầu tư Quốc tế, Học viện Ngoại giao [5] Waste Management, Inc v United Mexican States, ICSID Case No ARB(AF)/00/3, Award (30 April 2004) para 98. [6] Elettronica Sicula S.p.A. (ELSI) (United States of America v. Italy), ICJ Reports 1989, p. 15, para. 128. [7] Joseph Charles Lemire v. Ukraine, ICSID Case No. ARB/06/18, Decision on Jurisdiction and Liability (14 January 2010) para. 261. [8] ‘Protection from Arbitrary or Discriminatory Treatment’, Jus Mundi Wiki Note https://jusmundi.com/en/document/publication/en-protection-from-arbitrary-or-discriminatory-treatment, truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2026. [9] Elettronica Sicula S.p.A. (ELSI) (United States of America v. Italy), ICJ Reports 1989, p. 15, para. 128. [10] Alex Genin, Eastern Credit Limited, Inc. and A.S. Baltoil v. Republic of Estonia, ICSID Case No. ARB/99/2, Award (25 June 2001) para. 371. [11] EDF (Services) Limited v. Romania, ICSID Case No. ARB/05/13, Award (8 October 2009) para. 303. [12] Saluka Investments B.V. v. The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award (17 March 2006) paras. 344 - 347, 460. [13] LG&E Energy Corp., LG&E Capital Corp., and LG&E International, Inc. v. Argentine Republic, ICSID Case No. ARB/02/1, Decision on Liability (3 October 2006) paras. 158 - 163. [14] Article 3(1), Argentina - Netherlands Agreement on Encouragement and Reciprocal Protection of Investments (1992). [15] Ronald S. Lauder v. The Czech Republic, UNCITRAL, Final Award (3 September 2001) para. 219. [16] Occidental Exploration and Production Company v. The Republic of Ecuador (I), LCIA Case No. UN3467, Final Award (1 July 2004) para. 173. [17] Jus Mundi, Wiki Note: National Treatment, section “Like Circumstances”. [18] Jus Mundi, Wiki Note: Discrimination in FET, section “Interpretation of the standard by arbitral tribunals”. [19] Jus Mundi, Wiki Note: National Treatment, section “De Jure and De Facto Discrimination”. [20] Corn Products International, Inc. v. United Mexican States, ICSID Case No. ARB(AF)/04/1, Decision on Responsibility (15 January 2008). [21] Aceris Law, “The National Treatment Standard - Investment Arbitration” (1 November 2018), https://www.acerislaw.com/the-national-treatment-standard-investment-arbitration/ , truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2026. [22] S.D. Myers, Inc. v. Government of Canada, UNCITRAL, Partial Award (13 November 2000) para. 254. [23] Fisheries Jurisdiction (Spain v. Canada), Jurisdiction of the Court, ICJ Reports 1998, p.460, para.66. [24] Dolzer, R. & Schreuer, C., Principles of International Investment Law, 3rd ed., Oxford University Press, 2022. [25] Alex Genin, Eastern Credit Limited, Inc. and A.S. Baltoil v. Republic of Estonia, ICSID Case No. ARB/99/2, Award (25 June 2001). [26] UNCTAD, Taxation and Investment Policy, 2015. [27] Anne Peters and Hélène Ruiz Fabri (eds), “Standard of Review: Investment Arbitration”, Max Planck Encyclopedias of International Law (MPEiPro). [28] Caroline Henckels, Proportionality and Deference in Investor-State Arbitration, Cambridge University Press, 2015, pp. 29 - 30. [29] Philip Morris Brands Sàrl, Philip Morris Products S.A. and Abal Hermanos S.A. v. Oriental Republic of Uruguay, ICSID Case No. ARB/10/7, Award (8 July 2016) para. 399. [30] Glamis Gold, Ltd. v. The United States of America, UNCITRAL, Award (8 June 2009) para. 779. [31] Philip Morris Brands Sàrl, Philip Morris Products S.A. and Abal Hermanos S.A. v. Oriental Republic of Uruguay, ICSID Case No. ARB/10/7, Award (8 July 2016) para. 399. [32] Gustavo Zarra, “Right to Regulate, Margin of Appreciation and Proportionality: Current Status in Investment Arbitration in Light of Philip Morris v. Uruguay”, Revista de Direito Internacional, 2017, pp. 95 - 120. [33] Caroline Henckels, Proportionality and Deference in Investor-State Arbitration: Balancing Investment Protection and Regulatory Autonomy, Cambridge University Press, 2015. [34] Borzu Sabahi, Noah Rubins and Don Wallace Jr, Investor-State Arbitration (2nd edn, OUP 2019) para. 17.01. [35] Andrea K. Bjorklund, “The National Treatment Obligation”, in Katia Yannaca-Small (ed.), Arbitration under International Investment Agreements: A Guide to the Key Issues, OUP, para. 21.01, p. 532. [36] Nicolas F. Diebold, “Protection Against Arbitrary or Discriminatory Measures in International Investment Law”. [37] Jus Mundi, Wiki Note: Discrimination in FET, section “Interpretation of the standard by arbitral tribunals”. [38] Ursula Kriebaum, “Arbitrary/Unreasonable or Discriminatory Measures” in Marc Bungenberg and others (eds), International Investment Law, Hart/Nomos 2015, pp. 790 - 817. [39] Rudolf Dolzer and Christoph Schreuer, Principles of International Investment Law (2nd edn, OUP 2012) chapter “Expropriation”. [40] Trịnh Hải Yến, Giáo trình Luật đầu tư quốc tế, Học viện Ngoại giao. [41] Fireman’s Fund Insurance Company v. The United Mexican States, ICSID Case No. ARB(AF)/02/1, Phán quyết ngày 17-7-2006, đoạn 176. [42] Như trên.

  • [85] TỔNG QUAN VỀ NGUYÊN TẮC BẢO HỘ VÀ AN NINH ĐẦY ĐỦ TRONG LUẬT ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

    Tác giả: Ngô Ngọc Tú Linh, Phạm Diệp Anh Mở đầu: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài trở thành một trong những vấn đề trung tâm của pháp luật đầu tư quốc tế. Trên cơ sở đó, bài viết này tiếp cận nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ (FPS) từ góc độ thực tiễn trọng tài đầu tư quốc tế, qua đó phân tích các khía cạnh từ nguồn gốc lịch sử, bản chất pháp lý và phạm vi áp dụng, đến tiêu chuẩn xác định trách nhiệm của nhà nước và mối quan hệ giữa FPS với nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET). Thông qua việc hệ thống các phán quyết nền tảng của Trung tâm Quốc tế Giải quyết Tranh chấp Đầu tư (ICSID) và các cơ quan tài phán đầu tư khác, bài viết hướng đến làm rõ những điểm đồng thuận, những điểm còn mở mà nguyên tắc đặt ra trong bối cảnh pháp luật đầu tư quốc tế hiện đại. Từ khóa: Nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ, trọng tài đầu tư quốc tế, sự cẩn trọng thích đáng. 1. Nguồn gốc và lịch sử của nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ Nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ có lịch sử hình thành lâu dài trong luật quốc tế. Một trong những văn kiện điều ước đầu tiên ghi nhận nghĩa vụ bảo hộ nhà đầu tư nước ngoài là Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải năm 1833 giữa Hoa Kỳ và Chile.[1] Sau đó, Hiệp định đầu tư song phương (BIT) giữa Đức và Pakistan năm 1959 được coi là BIT hiện đại đầu tiên và cũng đã bao gồm điều khoản FPS, phản ánh nhận thức sớm của cộng đồng quốc tế về nhu cầu bảo vệ nhà đầu tư trước các rủi ro phát sinh tại quốc gia tiếp nhận đầu tư.[2] Ban đầu, FPS được hiểu theo nghĩa hẹp, gắn chặt với nghĩa vụ bảo vệ an ninh vật chất đối với nhà đầu tư và tài sản đầu tư. Trong vụ Asian Agricultural Products Limited (AAPL) v. Sri Lanka[3], trang trại nuôi tôm của nhà đầu tư Hồng Kông này đã bị phá hủy hoàn toàn trong chiến dịch quân sự chống phiến quân LTTE của lực lượng an ninh Sri Lanka vào năm 1987. Thay vì xem xét liệu Chính phủ có chủ động gây thiệt hại hay không, Hội đồng trọng tài tập trung làm rõ liệu Nhà nước đã thực hiện sự cẩn trọng thích đáng để ngăn ngừa thiệt hại đó hay chưa.[4] Tòa xác định rằng Sri Lanka biết hoặc đáng lẽ phải biết về nguy cơ đối với tài sản đầu tư trong khu vực xung đột, nhưng đã không áp dụng các biện pháp phòng ngừa hợp lý, và do đó phải chịu trách nhiệm bồi thường. [5]Phán quyết này phản ánh nhận thức truyền thống của luật đầu tư quốc tế rằng FPS trước hết là nghĩa vụ bảo vệ nhà đầu tư trước các hành vi bạo lực và bất ổn dân sự.[6] Trong giai đoạn phát triển gần đây, thực tiễn trọng tài tiếp tục mở rộng nội hàm của FPS theo hướng bao gồm cả nghĩa vụ duy trì một khuôn khổ pháp lý hữu hiệu nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của nhà đầu tư nước ngoài,[7] tức là Nhà nước phải đảm bảo rằng hệ thống pháp lý và hành chính của mình không gây bất lợi cho nhà đầu tư. Bước ngoặt trong xu hướng này được đánh dấu bởi vụ CME v. Czech Republic (2001), cụ thể là Nhà đầu tư Hà Lan CME đầu tư vào lĩnh vực truyền thông tại Séc thông qua một đối tác nội địa, nhưng sau đó cơ quan quản lý phát thanh truyền hình Séc đã ban hành một loạt quyết định hành chính buộc CME tái cơ cấu thỏa thuận cấp phép theo hướng làm suy yếu nghiêm trọng quyền kinh doanh của nhà đầu tư.[8] Tóm lại, “khuôn khổ pháp lý hữu hiệu” trong ngữ cảnh FPS bao gồm sự ổn định của các quy định điều chỉnh hoạt động đầu tư, tính nhất quán trong hành vi của cơ quan nhà nước, và khả năng tiếp cận hệ thống tư pháp để bảo vệ quyền lợi, từ đó tạo thành môi trường mà nhà đầu tư có thể hoạt động mà không bị cản trở hay bất ngờ bởi sự thay đổi tùy tiện từ phía Nhà nước.[9] 1.2. Định nghĩa Về mặt ngôn ngữ, thuật ngữ “bảo hộ và an ninh đầy đủ” bao gồm hai yếu tố tạo thành một chỉnh thể thống nhất, không được giải thích và áp dụng một cách tách biệt.[10] Trong đó, “bảo hộ” chỉ nghĩa vụ hành động của Nhà nước, tức là nghĩa vụ chủ động thực hiện các biện pháp cần thiết và hợp lý để bảo vệ nhà đầu tư; còn “an ninh” chỉ trạng thái, điều kiện mà nhà đầu tư có quyền được hưởng một môi trường ổn định, không bị đe dọa bởi bạo lực hay can thiệp tùy tiện.[11] Nói cách khác, “bảo hộ” là phương tiện, còn “an ninh” là mục tiêu mà tiêu chuẩn FPS hướng tới. Đáng chú ý, trong thực tiễn ký kết điều ước hiện đại, nhiều hiệp định đã lược bỏ từ “đầy đủ” (full), chỉ còn giữ lại cụm “protection and security”. Dù thực tiễn trọng tài nhìn chung không coi đây là sự khác biệt đáng kể về nghĩa vụ thực chất,[12] xu hướng này vẫn phản ánh mong muốn của các quốc gia trong việc thu hẹp phạm vi cam kết, tránh để trọng tài diễn giải mở rộng tiêu chuẩn này. Xu hướng này xuất phát từ lo ngại rằng thuật ngữ ‘đầy đủ’ (full) có thể bị diễn giải theo hướng mở rộng phạm vi của tiêu chuẩn FPS sang các nghĩa vụ bảo vệ pháp lý, hành chính hoặc thương mại, vốn thuộc phạm vi của tiêu chuẩn FET, qua đó làm gia tăng nguy cơ quốc gia tiếp nhận đầu tư bị khởi kiện và phải bồi thường. Về định nghĩa, nguyên tắc FPS không có một định nghĩa thống nhất trong cả thực tiễn điều ước lẫn thực tiễn trọng tài.[13] Hầu hết các BIT chỉ ghi nhận nghĩa vụ FPS dưới dạng một cụm từ ngắn gọn mà không kèm theo định nghĩa hay giải thích cụ thể, để ngỏ việc xác định nội hàm cho các hội đồng trọng tài trong từng vụ tranh chấp.[14] Trong khi đó, các Tòa trọng tài có những diễn giải khác nhau về việc liệu nghĩa vụ FPS chỉ dừng lại ở bảo hộ an ninh vật chất hay mở rộng nội hàm ra cả bảo hộ an ninh pháp lý.[15] Tóm lại, mặc dù chưa có định nghĩa pháp lý thống nhất, nguyên tắc FPS được hiểu là nghĩa vụ tích cực của quốc gia tiếp nhận đầu tư, theo đó quốc gia này phải thực hiện các biện pháp hợp lý nhằm bảo vệ nhà đầu tư nước ngoài và tài sản đầu tư khỏi các hành vi gây thiệt hại, bất kể các hành vi đó xuất phát từ cơ quan nhà nước hay từ các chủ thể tư nhân.[16] 2. Nội dung của nguyên tắc FPS 2.1. Nghĩa vụ bảo hộ và an ninh vật chất Tiêu chuẩn áp dụng của FPS được một số hội đồng trọng tài giới hạn trong phạm vi bảo hộ an ninh vật chất. Cụ thể, dựa vào định nghĩa nêu trên, hội đồng trọng tài trong Vụ Crystallex v. Venezuela cho rằng việc giới hạn phạm vi áp dụng của FPS vào bảo hộ và an ninh vật chất là cách diễn giải mang tính truyền thống hơn và phù hợp với ý nghĩa thông thường của các thuật ngữ.[17] Một ví dụ điển hình khác là phán quyết trong vụ Saluka v. Cộng hòa Séc, trong đó ghi nhận tiêu chuẩn FPS áp dụng khi khoản đầu tư nước ngoài đã bị ảnh hưởng bởi xung đột dân sự hoặc tấn công vật lý và giới hạn việc áp dụng FPS đối với tính toàn vẹn vật chất của khoản đầu tư.[18] Trong một số phán quyết của ICSID, phạm vi áp dụng của nguyên tắc này còn gắn liền với nguồn gốc lịch sử của tiêu chuẩn FPS: “tiêu chuẩn này đã được hình thành trong bối cảnh lãnh đạo, nhân viên công ty và cơ sở vật chất của nhà đầu tư cần phải được bảo đảm an toàn về mặt vật chất”.[19] Ở cấp độ điều ước, các hiệp định đầu tư thế hệ mới có xu hướng giới hạn rõ phạm vi của FPS trong bảo hộ và an ninh vật chất. Căn cứ theo Điều 9.6(2) của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Điều 14.6(2) của Hiệp định thương mại tự do giữa Mỹ, Mexico và Canada (USMCA) 2020 đều quy định rằng “bảo hộ và an ninh đầy đủ” chỉ yêu cầu mỗi bên cung cấp mức độ bảo vệ của cảnh sát theo yêu cầu của luật tập quán quốc tế.[20] Điều 8.10(5) của CETA bổ sung rằng “bảo hộ và an ninh đầy đủ” đề cập đến nghĩa vụ của mỗi bên liên quan đến an ninh vật chất của nhà đầu tư và các khoản đầu tư được bảo hộ”. 2.2. Nghĩa vụ bảo hộ và an ninh pháp lý Thực tiễn trọng tài cho thấy nhiều hội đồng đã diễn giải FPS theo hướng mở rộng, theo đó quốc gia tiếp nhận đầu tư không chỉ có nghĩa vụ bảo vệ nhà đầu tư khỏi các hành vi bạo lực hay can thiệp vật chất, mà còn phải duy trì một môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và an toàn cho hoạt động đầu tư.[21] Nghĩa vụ này thường được suy luận từ các điều khoản FPS trong các BIT, đặc biệt khi hiệp định sử dụng thuật ngữ “full protection and security” mà không kèm theo bất kì tính từ hay giải thích bổ sung, thì về mặt ngôn ngữ, nội hàm của tiêu chuẩn này có thể giải thích vượt ra ngoài an ninh vật chất,[22] vì nếu FPS chỉ giới hạn ở bảo hộ và an ninh vật chất, thì từ "full" gần như không có giá trị bổ sung đáng kể. Các hành vi thuộc phạm vi bảo hộ và an ninh pháp lý thường bao gồm: (i) không thông qua sửa đổi pháp luật hoặc hành vi của các cơ quan hành chính mà làm suy giảm giá trị hay khiến sự bảo hộ và an ninh đã được thỏa thuận và chấp thuận đối với khoản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài bị rút lại;[23] (ii) yêu cầu về sự ổn định của môi trường đầu tư an toàn;[24] hoặc (iii) sự bảo đảm của Nhà nước về tính ổn định trong một môi trường an toàn, cả về vật chất, thương mại và pháp lý.[25] Trong vụ Azurix v. Argentina, Hội đồng Trọng tài khẳng định rằng: “tiêu chuẩn bảo hộ và an ninh đầy đủ có thể bị vi phạm ngay cả khi không có bạo lực hay thiệt hại về mặt vật chất”. Hội đồng nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn này không chỉ giới hạn ở bảo vệ vật chất, mà còn bao gồm sự ổn định của môi trường đầu tư.[26] Hay trong vụ Vivendi v. Argentina, Hội đồng bác bỏ lập luận rằng FPS chỉ áp dụng đối với can thiệp vật chất, và cho rằng nếu các bên muốn giới hạn như vậy thì họ đã có thể quy định rõ trong hiệp định.[27] Ngoài ra, một số Hội đồng trọng tài đã dựa vào việc hiệp định đầu tư áp dụng không chỉ với tài sản hữu hình mà còn với các loại tài sản khác để chứng minh cho việc mở rộng FPS sang bảo hộ pháp lý. Cụ thể, trong vụ Siemens v. Argentina, dựa trên định nghĩa “đầu tư” trong BIT áp dụng với cả tài sản hữu hình và vô hình, Hội đồng trọng tài nhận định nghĩa vụ bảo hộ và an ninh đầy đủ rộng hơn bảo vệ tài sản vật lý, vì tài sản vô hình không có khả năng được bảo hộ vật chất.[28] Có thể thấy, mức độ mở rộng này vẫn phụ thuộc đáng kể vào ngôn ngữ của điều ước đầu tư và cách tiếp cận của từng Hội đồng trọng tài. 3. Tiêu chuẩn xác định trách nhiệm của Nhà nước - Nguyên tắc Due diligence 3.1. Bản chất của “Due diligence” Về bản chất pháp lý, nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ đặt ra một nghĩa vụ chung buộc quốc gia tiếp nhận đầu tư phải thực hiện việc “xem xét cẩn trọng” (due diligence) trong việc bảo hộ khoản đầu tư nước ngoài, nhưng nghĩa vụ này không tạo ra trách nhiệm tuyệt đối.[29] Điều này có nghĩa là quốc gia tiếp nhận đầu tư không bị yêu cầu phải tuyệt đối ngăn chặn mọi thiệt hại phát sinh đối với nhà đầu tư, mà chỉ phải chứng minh rằng mình đã áp dụng các biện pháp hợp lý trong phạm vi quyền hạn và khả năng thực tế để phòng ngừa hoặc xử lý thiệt hại đó.[30] Đặc biệt, trong trường hợp thiệt hại phát sinh từ các hành vi của bên thứ ba, quốc gia tiếp nhận phải thực hiện các hành động hợp lý trong phạm vi quyền hạn của mình để tránh thiệt hại khi biết hoặc đáng lẽ phải biết về rủi ro.[31] Nghĩa vụ due diligence này đôi khi còn được gọi là “nghĩa vụ cảnh giác”.[32] 3.2. Các yếu tố xem xét mức độ cẩn trọng của Nhà nước Trên thực tế, mức độ xem xét cẩn trọng vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi. Câu hỏi đặt ra là liệu tiêu chuẩn FPS là tiêu chuẩn khách quan, hay phụ thuộc vào điều kiện, nguồn lực và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Một số phán quyết và học giả ủng hộ cách tiếp cận theo hướng tiêu chuẩn khách quan, theo đó cho rằng quốc gia tiếp nhận đầu tư phải thực hiện không nhiều hơn nhưng cũng không ít hơn các biện pháp hợp lý mà một nhà nước quản trị tốt được cho là sẽ thực hiện trong trường hợp tương tự.[33] Cụ thể, Hội đồng Trọng tài trong vụ AAPL v. Sri Lanka cho rằng quốc gia tiếp nhận đầu tư không phải bảo đảm tuyệt đối an toàn cho nhà đầu tư, nhưng phải áp dụng đầy đủ những biện pháp phòng ngừa hợp lý mà một quốc gia được tổ chức và quản trị tốt có thể được kỳ vọng sẽ thực hiện trong cùng hoàn cảnh.[34] Do đó, Nhà nước chỉ bị coi là vi phạm FPS khi không đáp ứng mức độ cẩn trọng khách quan mà luật quốc tế yêu cầu, chứ không phải chỉ vì thiệt hại đã xảy ra. Ngược lại, một số học giả và hội đồng trọng tài ủng hộ tiêu chuẩn due diligence mang tính chủ quan, có xét đến như nguồn lực và điều kiện thực tế của quốc gia. Ví dụ, trong vụ Cengiz v. Libya, Hội đồng trọng tài cho rằng: quốc gia phải thực hiện nghĩa vụ xem xét cẩn trọng để ngăn ngừa thiệt hại do bên thứ ba gây ra, và mức độ hợp lý phải được đánh giá dựa trên nguồn lực và tình hình của quốc gia.[35] Cụ thể hơn, Hội đồng trọng tài vụ Pantechniki v. Albania cho rằng trong bối cảnh bạo lực hoặc bất ổn công cộng, việc xác định trách nhiệm của quốc gia cần tính đến nguồn lực thực tế của quốc gia tiếp nhận đầu tư.[36] Cũng trong vụ việc này, Hội đồng trọng tài đề xuất áp dụng yếu tố tương xứng trong các trường hợp phát sinh xung đột dân sự hay bạo lực vật chất chưa từng có về mặt quy mô, và vượt quá khả năng kiểm soát của một quốc gia kém phát triển.[37] Trong lĩnh vực tư pháp, tiêu chuẩn FPS yêu cầu Nhà nước duy trì một hệ thống tòa án và cơ chế pháp lý hiệu quả để nhà đầu tư bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, không phải mọi phán quyết bất lợi hay sai sót đều cấu thành vi phạm FPS, miễn là cơ quan xét xử hành động thiện chí và đưa ra quyết định dựa trên cơ sở hợp lý.[38] 3.3 Trách nhiệm của Nhà nước Nghĩa vụ cung cấp bảo hộ và an ninh đầy đủ áp dụng đối với: (i) hành vi của Nhà nước, và (ii) hành vi và sự không hành động của Nhà nước liên quan đến hành vi của các chủ thể tư nhân thuộc thẩm quyền của Nhà nước.[39] 3.3.1. Trách nhiệm đối với hành vi trực tiếp của cơ quan Nhà nước Tiêu chuẩn FPS không chỉ đặt ra nghĩa vụ cho Nhà nước trong việc bảo vệ nhà đầu tư khỏi các hành vi của bên thứ ba mà còn yêu cầu Nhà nước không được tự mình thực hiện những hành vi gây tổn hại cho nhà đầu tư và khoản đầu tư. Vì vậy, khi thiệt hại phát sinh trực tiếp từ hành động của cơ quan Nhà nước, thì chính hành động đó là hành vi vi phạm FPS.[40] Theo đó, Nhà nước có nghĩa vụ kiềm chế, không xâm phạm đến sự an toàn về mặt vật chất của nhà đầu tư và tài sản của họ, và nghĩa vụ này áp dụng đối với toàn bộ các cơ quan, đại diện có hành vi được quy cho Nhà nước.[41] Nguyên tắc này đã được các quốc gia thừa nhận từ trước khi các hiệp định đầu tư ra đời[42] và phù hợp với luật tập quán quốc tế. Về nội dung, các vụ việc thường liên quan đến thiệt hại vật chất đối với nhà đầu tư, đặc biệt trong bối cảnh xung đột dưới sự kiểm soát của dân sự hay bất ổn xã hội.[43] Chẳng hạn, trong vụ Cengiz v. Libya, quân đội chính quy Libya và các lực lượng dân quân thuộc phong trào nổi dậy, khi đó nằm dưới sự kiểm soát của Chính phủ lâm thời Libya do Hội đồng Chuyển tiếp Quốc gia lãnh đạo, đã cướp phá và gây thiệt hại vật chất đối với các khu trại chính của Cengiz Libya.[44] Dựa trên các quy tắc về trách nhiệm quốc tế của quốc gia cho hành vi sai phạm quốc tế, Hội đồng kết luận rằng Nhà nước Libya phải chịu trách nhiệm đối với những hành vi đó.[45] Tuy nhiên, tiêu chuẩn FPS không chỉ được áp dụng trong các tình huống chiến tranh, nội chiến, bạo loạn hoặc bất ổn xã hội. Thực tiễn cho thấy ngay cả trong trường hợp không có xung đột, hành vi trực tiếp hoặc hỗ trợ của cơ quan Nhà nước gây tổn hại cho nhà đầu tư vẫn có thể cấu thành vi phạm FPS.[46] Song, không phải mọi thiệt hại do Nhà nước gây ra đều đương nhiên cấu thành vi phạm. Một số hội đồng trọng tài đánh giá vi phạm dựa trên việc hành vi của Nhà nước có được biện minh bởi mục tiêu chính sách công hợp pháp hay không.[47] Theo đó, nếu biện pháp của Nhà nước được thực hiện vì những quan ngại chính đáng và ở mức độ hợp lý, cần thiết để đạt được mục tiêu công, thì thiệt hại phát sinh đối với nhà đầu tư chưa đủ để kết luận rằng Nhà nước đã vi phạm FPS.[48] Ngược lại, nếu biện pháp mang tính không cần thiết, lạm quyền[49] hoặc thiếu cơ sở chính đáng,[50] đặc biệt là khi những hành vi đó gây thiệt hại đáng kể cho nhà đầu tư, hội đồng trọng tài có thể xác định rằng Nhà nước đã vi phạm nghĩa vụ FPS. 3.3.2. Trách nhiệm đối với hành vi của bên thứ ba Mặc dù nhiều hiệp định đầu tư không định nghĩa cụ thể FPS, cách hiểu phổ biến về nội hàm của tiêu chuẩn này là Nhà nước có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ ngăn ngừa, xử lý và trừng phạt các hành vi của bên thứ ba gây thiệt hại cho nhà đầu tư và khoản đầu tư.[51] Tức là, hành vi vi phạm không nằm ở chính hành vi gây thiệt hại, mà ở sự thiếu cẩn trọng của Nhà nước trong việc ngăn chặn hoặc xử lý hành vi đó theo tiêu chuẩn due diligence, đặc biệt trong bối cảnh xung đột vũ trang hoặc bất ổn xã hội.[52] Trong vụ AAPL v. Sri Lanka, Hội đồng cho rằng Sri Lanka đã vi phạm nghĩa vụ due diligence khi không thực hiện các biện pháp phòng ngừa cần thiết trước khi lực lượng an ninh Sri Lanka tiến hành chiến dịch truy quét phiến quân LTTE, dẫn đến thiệt hại về người và tài sản.[53] Một ví dụ gần đây hơn là vụ Ampal v. Egypt, Hội đồng xác định Ai Cập vi phạm FPS vì không thực hiện bất kỳ biện pháp phòng ngừa hay phản ứng, nhằm ngăn chặn các hành vi phá hoại đường ống của các nhóm khủng bố, gây thiệt hại cho huyết mạch của khoản đầu tư.[54] Bên cạnh đó, FPS còn bao gồm nghĩa vụ truy bắt và trừng phạt thủ phạm.[55] Nhà nước phải thực hiện mọi biện pháp hợp lý mà một Nhà nước được quản trị tốt sẽ thực hiện để xử lý những người gây thiệt hại.[56] Trong luật Đầu tư quốc tế, tiêu chí về một Nhà nước được quản trị tốt được xác định thông qua một số án lệ tiêu biểu, bao gồm các yêu cầu về tính ổn định của môi trường pháp lý và khả năng dự đoán của chính sách.[57] Nguyên tắc FPS không chỉ yêu cầu Nhà nước ngăn ngừa và xử lý các hành vi gây thiệt hại, mà còn đòi hỏi duy trì một hệ thống tư pháp và hành chính hiệu quả để nhà đầu tư có thể bảo vệ quyền lợi của mình.[58] Các hội đồng trọng tài nhấn mạnh rằng Nhà nước phải bảo đảm sự tồn tại của các cơ chế xét xử công bằng, khả dụng và phù hợp.[59] Nghĩa vụ này thường được liên hệ với tiêu chuẩn FET và nguyên tắc cấm từ chối công lý trong tập quán quốc tế.[60] Tuy nhiên, việc đánh giá nghĩa vụ này thường không dựa trên tiêu chuẩn due diligence mà dựa trên hiệu quả thực tế của hệ thống tư pháp và hành chính do Nhà nước cung cấp.[61] 4. Mối quan hệ giữa FPS và nguyên tắc đối xử công bằng và thỏa đáng (FET) Trước khi phân tích mối quan hệ giữa hai nguyên tắc, cần hiểu nội hàm cơ bản của FET. Về bản chất, FET là nghĩa vụ của quốc gia tiếp nhận đầu tư trong việc đối xử với nhà đầu tư nước ngoài một cách công bằng, thiện chí và có thể dự đoán được, bao gồm bảo đảm quy trình tố tụng công bằng và không từ chối công lý, tôn trọng kỳ vọng hợp lý của nhà đầu tư, hành xử minh bạch, nhất quán và không tùy tiện.[62] Trong một số hiệp định thế hệ mới như Hiệp định BIT mẫu của Hoa Kỳ (2012), FET được định nghĩa hẹp hơn, chỉ giới hạn ở nghĩa vụ không từ chối công lý trong tố tụng hình sự, dân sự hoặc hành chính theo nguyên tắc tố tụng hợp lệ được thừa nhận trong các hệ thống pháp luật chính của thế giới.[63] Trên thực tiễn soạn thảo điều ước, FPS và FET thường xuất hiện cùng nhau trong cùng một điều khoản bảo hộ đầu tư của BIT vì vậy khiến ranh giới giữa chúng đôi khi không hoàn toàn rõ ràng.[64] Chính vì lý do đó mà thực tiễn trọng tài hình thành hai luồng quan điểm đối lập. Theo quan điểm liên kết, FPS được xem là một biểu hiện cụ thể của tiêu chuẩn FET, chứ không phải là một nghĩa vụ pháp lý độc lập. Theo cách tiếp cận này, FPS chỉ cụ thể hóa khía cạnh bảo đảm môi trường đầu tư an toàn và ổn định vốn đã được bao hàm trong tiêu chuẩn FET. Vì vậy, khi một hành vi bị xác định là vi phạm FPS thì đồng thời cũng được xem là vi phạm FET. Ngược lại, quan điểm thứ hai cho rằng FPS và FET là hai tiêu chuẩn bảo hộ đầu tư độc lập, và đây cũng là cách tiếp cận được nhiều hội đồng trọng tài gần đây ủng hộ. Trong vụ Electrabel v. Hungary, hội đồng trọng tài khẳng định rằng FET và FPS theo Hiệp ước Hiến chương Năng lượng là hai tiêu chuẩn bảo hộ riêng biệt, mỗi tiêu chuẩn phục vụ một mục đích khác nhau. Dựa trên nguyên tắc effet utile, hội đồng cho rằng cần dành cho mỗi tiêu chuẩn một phạm vi áp dụng và chức năng riêng, nhằm bảo đảm mọi điều khoản của hiệp ước đều có ý nghĩa và hiệu lực thực tế, tránh việc một tiêu chuẩn trở nên thừa.[65] Đáng chú ý, trong vụ Azurix v. Argentina, hội đồng trọng tài cho rằng FPS chỉ quy định mức bảo hộ tối thiểu mà quốc gia phải bảo đảm cho nhà đầu tư, chứ không giới hạn phạm vi bảo hộ của tiêu chuẩn này.[67] Cách tiếp cận này cho thấy FPS có ý nghĩa và phạm vi áp dụng riêng, thay vì chỉ là một phần của FET. Vai trò độc lập của FPS thể hiện rõ trong hai trường hợp. Thứ nhất, khi hiệp định đầu tư không quy định FET hoặc chỉ quy định rất hạn chế. Thứ hai, khi tranh chấp phát sinh từ các hành vi xâm hại trực tiếp đến nhà đầu tư hoặc tài sản của họ, như bạo lực, cưỡng chế hoặc phá hủy tài sản. Vụ AAPL v. Sri Lanka (1990) là minh chứng điển hình.[68] Vụ kiện này được khởi xướng trên cơ sở của BIT giữa Vương quốc Anh và Sri Lanka năm 1980 và được mở rộng áp dụng cho Hong Kong từ năm 1981. Đáng chú ý, hiệp định này chỉ quy định FPS tại Điều 2(2) mà không ghi nhận một tiêu chuẩn FET độc lập.[69] Trong bối cảnh đó, FPS trở thành cơ sở pháp lý duy nhất để nhà đầu tư yêu cầu xác lập trách nhiệm của quốc gia tiếp nhận đầu tư. Hội đồng trọng tài cho rằng nghĩa vụ FPS theo Điều 2(2) chỉ yêu cầu quốc gia thực hiện nghĩa vụ due diligence, chứ không phải chịu trách nhiệm tuyệt đối đối với mọi thiệt hại xảy ra.[70] Tuy nhiên, sau khi xem xét các tình tiết của vụ việc, hội đồng kết luận Sri Lanka đã vi phạm nghĩa vụ này vì không chứng minh được rằng việc phá hủy toàn bộ cơ sở nuôi tôm là hệ quả tất yếu và không thể tránh khỏi của chiến dịch quân sự. Do đó, vụ AAPL v. Sri Lanka không chỉ là một trong những án lệ đầu tiên áp dụng trực tiếp tiêu chuẩn FPS trên cơ sở điều ước đầu tư, mà còn khẳng định rằng FPS có thể được áp dụng như một cơ sở trách nhiệm độc lập ngay cả khi điều ước không quy định tiêu chuẩn FET.[71] Kết luận: Tóm lại, nguyên tắc bảo hộ và an ninh đầy đủ (FPS) là một trong những tiêu chuẩn quan trọng của pháp luật Đầu tư quốc tế hiện đại. Từ nguồn gốc ban đầu gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh vật chất, thực tiễn trọng tài quốc tế đã từng bước mở rộng nội hàm của FPS sang cả lĩnh vực bảo hộ pháp lý và hành chính. Tuy nhiên, dù được diễn giải theo hướng rộng hay hẹp, FPS nhìn chung vẫn được hiểu là một nghĩa vụ hành xử dựa trên tiêu chuẩn “xem xét cẩn trọng”, chứ không yêu cầu Nhà nước phải chịu trách nhiệm tuyệt đối với mọi tổn thất mà nhà đầu tư phải gánh chịu. Thực tiễn xét xử cũng cho thấy FPS có mối liên hệ chặt chẽ với FET, nhưng vẫn duy trì bản chất độc lập với trọng tâm là nghĩa vụ bảo vệ tích cực của Nhà nước. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Hàng hải Hoa Kỳ - Chile (1833) [2][14] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (2nd edn, Oxford University Press 2012) 149 [3] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990 [4] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 53. [5][15][17] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, paras 85-86. [6] Jus Mundi, 'Full Protection and Security (FPS)' (Jus Mundi, 2026) truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2026 [7][59] Frontier Petroleum Services Ltd v The Czech Republic, UNCITRAL, Final Award, 12/11/2010, para 263. [8] CME Czech Republic BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 13/9/2001 [9] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (2nd edn, Oxford University Press 2012) 149-160 [10][11][13] Schreuer C, “Full Protection and Security” (2010) 2 Journal of International Dispute Settlement 353 [12] Parkerings-Compagniet AS v Republic of Lithuania, ICSID Case No ARB/05/8, Award, 11/9/2007, para 354. [16] Saluka Investments BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 17/3/2006, para 484; Biwater Gauff (Tanzania) Ltd v United Republic of Tanzania, ICSID Case No ARB/05/22, Award, 24/7/2008, para 729. [18] Crystallex International Corporation v Bolivarian Republic of Venezuela, ICSID Case No ARB(AF)/11/2, Award, 4 April 2016, para 634. [19] Saluka Investments BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 17/3/2006, paras 483-494. [20] PSEG Global Inc and Konya Ilgin Elektrik Üretim ve Ticaret Limited Şirketi v Republic of Turkey, ICSID Case No ARB/02/5, Award, 19 January 2007, para 258. [21] Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership (CPTPP), Art.9.6(2); United States-Mexico-Canada Agreement (USMCA), Art.14.6(2). [22][26] Biwater Gauff v Tanzania, para 729; National Grid plc v The Argentine Republic (Award, UNCITRAL, 3/11/2008), para.189. [23] Azurix Corp v Argentine Republic, ICSID Case No ARB/01/12, Award, 14/7/2006, para 408; Biwater Gauff (Tanzania) Ltd v United Republic of Tanzania, ICSID Case No ARB/05/22, Award, 24/7/2008, para 729. [24] CME Czech Republic BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 13/9/2001, para 408. [25][27] Azurix Corp v Argentine Republic, ICSID Case No ARB/01/12, Award, 14/7/2006, para 408. [28] Compañía de Aguas del Aconquija SA and Vivendi Universal SA v Argentine Republic, ICSID Case No ARB/97/3, Award, 20 August 2007, para 7.4.15. [29] Siemens AG v The Argentine Republic, ICSID Case No ARB/02/8, Award, 17/1/2007, para 36. [30][31] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (Oxford University Press 2008) 149-150 [32] El Paso Energy International Company v Argentine Republic, ICSID Case No. ARB/03/15, Award, 31/10/2011, para 523. [33] American Manufacturing & Trading, Inc v Republic of Zaire, ICSID Case No ARB/93/1, Award, 21/2/1997, para 6.05. [34] Alwyn V Freeman, ‘Responsibility of States for Unlawful Acts of their Armed Forces’ (1955) 88 Recueil des Cours, 277-278; Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 77. [35] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 77. [36] Cengiz İnşaat Sanayi ve Ticaret AŞ v Libya, ICC Case No 21537/ZF/AYZ, Award, para 409. [37][38] Pantechniki S.A. Contractors & Engineers (Greece) v. The Republic of Albania, ICSID Case No. ARB/07/21, Award, 30/7/2009, para 77. [39][53][60] Parkerings-Compagniet AS v Republic of Lithuania, ICSID Case No ARB/05/8, Award, 11/9/2007, paras 360, 361. [40][41][44][52][57] Eric De Brabandere, ‘Full Protection and Security’ in Rüdiger Wolfrum, Max Planck Encyclopedia of Public International Law (Oxford University Press), truy cập ngày 14/5/2026. [42] Riccardo Pisillo-Mazzeschi, ‘The Due Diligence Rule and the Nature of the International Responsibility of States’ (1992) 35 German Yearbook of International Law, 23 [43] JW and NL Swinney (USA) v United Mexican States (1926); D Guerrero vda de Falcón (United Mexican States v United States of America) (1926). [45][46] Cengiz İnşaat Sanayi ve Ticaret AŞ v Libya, ICC Case No 21537/ZF/AYZ, Award, para 435. [47] Zhongshan Fucheng Industrial Investment Co Ltd v Federal Republic of Nigeria, Award, 26/3/2021, para 128. [48] Zrilic J, The Protection of Foreign Investment in Times of Armed Conflict (Oxford University Press 2019), 98-101 [49][51] Saluka Investments BV v The Czech Republic, UNCITRAL, Partial Award, 17/3/2006, para 490. [50] Biwater Gauff (Tanzania) Ltd v United Republic of Tanzania, ICSID Case No ARB/05/22, Award, 24/7/2008, para 731.[53] Newcombe A and Paradell L, Law and Practice of Investment Treaties: Standards of Treatment (Kluwer Law International 2009), para 6.47. [54] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Final Award, 27/6/1990, para 562. [55] Ampal-American Israel Corporation and others v Arab Republic of Egypt (ICSID Case No ARB/12/11, Decision on Liability and Heads of Loss, 21/2/2017) para 288. [56] El Paso Energy International Company v. The Argentine Republic, ICSID Case No. ARB/03/15, Award, 31/10/2011, para 523. [58] Metalclad Corporation v United Mexican States, ICSID Case No ARB(AF)/97/1, Award, IIC 161 (2000), para 99; Tecnicas Medioambientales Tecmed SA v United Mexican States, ICSID Case No ARB(AF)/00/2, Award, 29/3/2003, para 154. [61] Yannaca-Small K (ed), Arbitration Under International Investment Agreements: A Guide to the Key Issues (Oxford University Press 2010) 119 [62] Ronald S. Lauder v. The Czech Republic, UNCITRAL, Final Award, 3/9/2001, para 314. [63] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (Oxford University Press 2008); Saluka Investments BV v Czech Republic, UNCITRAL, PCA Case No 2001-04, Partial Award, 17/3/2006, paras 497-505. [64] 2012 US Model Bilateral Investment Treaty, Art 5(2)(a). [65] Lexology, 'Full Protection and Security' (Lexology, 19/5/2023) [67] Azurix v Argentina, para.408; Siemens v Argentina, para.303. [68][69] Asian Agricultural Products Ltd (AAPL) v Republic of Sri Lanka, ICSID Case No ARB/87/3, Award, 27 June 1990, paras 1-20. [70][71] Agreement between the Government of the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and the Government of Sri Lanka for the Promotion and Protection of Investments, Art 2(2). [72] Dolzer R and Schreuer C, Principles of International Investment Law (2nd edn, Oxford University Press 2012) 160-162

  • [79] KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY VIỆT NAM THỰC HIỆN QUYỀN BẦU CỬ LẦN ĐẦU TIÊN: QUYỀN BẦU CỬ TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ LUẬT VIỆT NAM

    Tác giả: Lê Thị Hiền Hạnh, Nguyễn Gia Bảo Linh, Nguyễn Nhật Nam Tóm tắt: Tay cầm lá phiếu, thẻ cử tri, Trọng trách trong ta, phải nghĩ gì? Lựa chọn tìm người, nên sáng suốt, Bầu ai tiến cử, phải nghĩ suy. (Đi Bầu cử - Đoàn Duy Hiển) Quyền bầu cử là một quyền con người cơ bản và phổ quát, định hình đời sống chính trị của phần lớn các quốc gia hiện nay. Tại Việt Nam, ngày 06/01/1946 đánh dấu cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, là một mốc son chói lọi mở ra một thời kỳ phát triển mới của dân tộc ta. Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đã khẳng định vững chắc quyền làm chủ của nhân dân, từ thân phận nô lệ đứng lên giành độc lập, tổ chức ra Nhà nước của mình, với đầy đủ cơ sở pháp lý, và là Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Việt Nam thực hiện quyền bầu cử lần đầu tiên, bài viết phân tích quyền bầu cử dưới góc độ lý luận, lịch sử và pháp lý trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Từ khóa: quyền bầu cử, luật quốc tế, luật Việt Nam 1. Một số vấn đề chung về quyền bầu cử 1.1. Khái niệm về quyền bầu cử Quyền bầu cử (voting rights/right to vote, hay suffrage - xuất phát từ thuật ngữ “suffragium” trong tiếng Latin) được định nghĩa là quyền hoặc đặc quyền được thực hiện việc bỏ phiếu trong một cuộc bầu cử công, hay hành vi thực hiện việc bỏ phiếu (the act of voting).[1] Theo chú giải tiếng Việt của Ủy ban Hỗ trợ Bầu cử Hoa Kỳ (EAC), “quyền bầu cử” có nghĩa là “Quyền bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử chính trị”.[2][3] Từ điển tiếng Việt không có định nghĩa cụ thể về “quyền bầu cử”, nhưng định nghĩa “quyền” là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”[4] và “bầu cử” là “bầu cơ quan đại biểu”.[5] Do vậy, có thể nói, bản chất của quyền bầu cử là quyền chính trị của công dân được tham gia lựa chọn người đại diện hoặc quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia thông qua bầu cử. Tại Việt Nam, quyền bầu cử thường được xem là quyền của công dân theo quy định của pháp luật thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước, bao gồm việc lựa chọn người đại diện cho mình tại Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.[6] Quyền bầu cử được coi là một trong những quyền con người cơ bản, thể hiện mức độ tự do chính trị trong một quốc gia. Quyền bầu cử có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm dân chủ, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và hình thành bộ máy nhà nước hợp pháp, đại diện cho ý chí của xã hội.[7] Vì lý do trên, quyền bầu cử đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) của Liên Hợp Quốc, khi bất cứ cá nhân nào đều có quyền tự do lựa chọn chính quyền của quốc gia.[8] Về nội dung, quyền bầu cử có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng phần lớn là thông qua (i) bầu cử trực tiếp (direct election), tức công dân trực tiếp bỏ phiếu để chọn người đại diện của mình; (ii) bầu cử gián tiếp (indirect election), tức công dân bầu ra một cơ quan hoặc đại biểu, sau đó những người này tiếp tục bầu ra chức danh khác.[9] Ngoài ra, công dân cũng có thể thực hiện quyền bầu cử thông qua các cuộc trưng cầu ý dân (referendum), thường là về bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.[10] Về chủ thể, do quyền bầu cử thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị (civil and political rights), cá nhân khi tham gia bầu cử được hoàn toàn tự do tiếp cận thông tin bầu cử, lựa chọn ứng viên và bỏ phiếu mà không bị ép buộc hoặc cản trở. Một điều đáng lưu ý là dù quyền bầu cử mang tính tự do, đây không phải là sự tự do tuyệt đối. Nói cách khác, quyền bầu cử được xếp vào nhóm quyền có điều kiện (conditional rights), tức những quyền chỉ được áp dụng nếu thỏa mãn những yêu cầu nhất định.[11] Để thực hiện quyền bầu cử, pháp luật của mỗi quốc gia lại có một quy định khác nhau. Phần lớn các quốc gia hiện nay yêu cầu công dân có quyền bầu cử khi (i) đủ 18 tuổi, (ii) có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và (iii) không chấp hành hình phạt tù, không bị tước quyền bầu cử theo quy định của pháp luật.[12] 1.2. Lịch sử phát triển của quyền bầu cử 1.2.1 Thời kỳ cổ đại Trong lịch sử, quyền bầu cử đã được từng bước ghi nhận và mở rộng trong các hệ thống pháp luật, bắt nguồn từ thời kỳ cổ đại cho đến ngày nay. Quyền bầu cử lần đầu xuất hiện trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, bắt nguồn từ Nhà nước Athens trong suốt thời kỳ Cổ phong (Archaic period) vào khoảng thế kỷ VI TCN.[13] Khi đó, để thỏa mãn mong muốn cho một chế độ dân chủ trong một đơn vị lớn hơn một thành bang, việc công dân phải bầu ra các quan chức hàng đầu của chính quyền là điều cần thiết.[14] Dưới thời Solon[15], nhà thông thái này đã ban hành pháp lệnh về việc phân chia đẳng cấp và quyền lợi nghĩa vụ của mỗi đẳng cấp, theo đó, chính quyền giới hạn quyền bầu cử đối với những nam công dân có tài sản và của cải dựa trên đẳng cấp của họ.[16] Các công dân này sẽ tiến hành bầu cử chọn hội đồng 500 người (cơ quan hành chính) và hội đồng 10 tướng lĩnh (cơ quan lãnh đạo quân đội) trực tiếp điều hành đất nước.[17] Trong giai đoạn sau đó, dưới thời Pericles[18], quyền bầu cử của công dân Athens không có nhiều thay đổi. Dù được coi là “thời kỳ hoàng kim” khi lần đầu công dân có thể có những quyền lợi chính trị cơ bản như quyền ứng cử, bầu cử các chức quan của bộ máy nhà nước, thì phụ nữ, kiều dân và nô lệ vẫn hoàn toàn không có quyền bầu cử.[19] Dẫu vậy, đây là nhà nước cộng hòa dân chủ đầu tiên của nhân loại, đặt nền móng cho mô hình nhà nước mà ở đó có sự tham gia của công dân, tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của các hệ thống bầu cử về sau.[20] Bản thân từ “democracy” (dân chủ) cũng xuất phát từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là “quyền lực của nhân dân”.[21] Thời kỳ La Mã cổ đại cũng chứng kiến sự hạn chế tương tự trong quyền bầu cử đối với công dân. Nó được thực hiện qua các hội đồng nhân dân thay vì bầu cử trực tiếp phổ thông như hiện đại.[22] Cụ thể, luật La Mã không công nhận mọi cá nhân đều được coi là chủ thể pháp luật. Một cá nhân muốn có quyền bầu cử phải đáp ứng ba tiêu chí chính: (i) cá nhân không phải là nô lệ (vì nô lệ bị coi là tài sản của chủ sở hữu), (ii) có địa vị đặc biệt (có tài sản, không phải người nước ngoài) và (iii) là người đứng đầu gia đình.[23] Tại La Mã nhìn chung chỉ có những nam “công dân tự do” mới có quyền tham gia vào các hoạt động chính trị, bao gồm bầu cử các quan chức và tranh cử các chức vụ chính trị trong hệ thống chính quyền.[24] 1.2.2 Thời kỳ cận đại Những thập kỉ đầu thế kỉ XVI ghi nhận sự suy yếu của chế độ phong kiến và sự hình thành của nhiều nhà nước tư sản trên thế giới.[25] Quyền bầu cử bắt đầu trải qua những sự thay đổi và phát triển nhất định nhưng chưa mang tính phổ thông, chủ yếu vẫn thuộc về các tầng lớp có tài sản và địa vị. Tại Hoa Kỳ, sau cách mạng năm 1776, Hiến pháp nước này không có quy định cụ thể về quyền bầu cử. Do vậy, các bang được trao thẩm quyền điều chỉnh các quy định pháp luật về bầu cử, và chỉ công dân là nam giới, da trắng sở hữu tài sản, có học vấn và thu nhập mới có quyền bầu cử.[26] Thậm chí, Hiến pháp của một số Bang còn ngăn cản quyền bầu cử của các cá nhân có liên quan đến tôn giáo.[27] Phải đến năm 1856, tiêu chí về tài sản của cá nhân đã được bãi bỏ ở tất cả các bang.[28] Từ sau nội chiến, các Tu chính án của Hiến pháp Hoa Kỳ, đặc biệt là thứ 15 đã trao quyền bầu cử cho người da màu.[29] Yêu cầu về quyền bình đẳng chính trị cho phụ nữ bắt đầu xuất hiện từ năm 1848, gắn liền với các phong trào đòi quyền bầu cử phổ thông cho nữ giới đã diễn ra tại Pháp, khi việc loại trừ phụ nữ khỏi quyền bầu cử phổ thông do Chính phủ Lâm thời tuyên bố vào tháng 3 năm 1848 đã bị phản đối một cách mạnh mẽ.[30] Vào cuối thế kỉ XVIII, tư tưởng của nhà triết học Jean Jacques Rousseau đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới cách mạng Pháp, trong đó bao gồm việc người dân nên được hưởng quyền chính trị như nhau.[31] Cũng từ đây mà trong Hiến pháp 1791 của nước này quy định “công dân tích cực” có quyền được bầu cử.[32] Ở một số quốc gia khác, phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ (Suffragette) cũng được tiến hành rộng rãi trên thế giới. Lục địa châu Âu đã chứng kiến phong trào trong Đệ Nhị Quốc tế (Second International) phát triển mạnh mẽ.[33] Đặc biệt, tại Anh, đầu thế kỷ 20, phong trào dưới sự dẫn dắt của gia đình Pankhurst và tổ chức WSPU, bằng việc biện pháp đấu tranh trực tiếp như biểu tình, tuần hành và thậm chí là các hành động bất hợp pháp để gây áp lực.[34] Từ năm 1893, New Zealand trở thành quốc gia chủ quyền đầu tiên trên thế giới chính thức công nhận và trao quyền cho mọi phụ nữ được tham gia bỏ phiếu trong các cuộc bầu cử nghị viện.[35] 1.2.3 Thời kỳ hiện đại Ngay sau khi thế chiến I khép lại, thế giới đã được chứng kiến sự ra đời của phổ thông đầu phiếu (universal suffrage), tức hầu hết công dân trưởng thành đều có quyền tham gia bầu cử và ứng cử, không phân biệt dân tộc, giới tính, tầng lớp xã hội, niềm tin, tôn giáo, trình độ văn hóa hoặc nghề nghiệp, hay còn gọi là hình thức dân chủ đại diện ngày nay.[36] Phần Lan là quốc gia đầu tiên ở Châu Âu trao quyền bầu cử đầy đủ cho phụ nữ vào năm 1906, tiếp sau đó là Đan Mạch (1915), Hà Lan (1919), Luxembourg (1919), …[37] Tại Anh, vào năm 1918, quyền bầu cử được trao cho phụ nữ là chủ hộ hoặc vợ của chủ hộ trên 30 tuổi.[38] Quốc gia này cũng chính thức cho phép tất cả phụ nữ từ 21 tuổi trở lên được tham gia bầu cử với quyền và điều kiện ngang bằng với nam giới sau khi ban hành Đạo luật Đại diện Nhân dân (Quyền bầu cử bình đẳng) (Representation of the People (Equal Franchise) Act 1928).[39] Mặt khác, tại Hoa Kỳ, sau nhiều thập kỷ vận động tại cấp bang, Tu chính án thứ 19 được phê chuẩn vào năm 1920 đã cấm việc từ chối quyền bầu cử dựa trên giới tính. Sự ra đời của Đạo luật Quyền bầu cử (1965 Voting Rights Act) cũng là một bước ngoặt trong pháp luật Hoa Kỳ khi đã xóa bỏ hoàn toàn sự phân biệt chủng tộc trong quyền bầu cử với mục đích tăng số lượng cử tri được đăng ký tham gia bầu cử.[40] Trên thế giới hiện tại, 188 trên 193 thành viên Liên Hợp Quốc sử dụng hình thức bầu cử phổ thông đầu phiếu.[41] Ngoài ra, quyền bầu cử và tổ chức bầu cử bằng bỏ phiếu kín (secret ballot) cũng đã được ghi nhận trong nhiều điều ước và thỏa thuận quốc tế.[42] 2. Quyền bầu cử trong luật quốc tế 2.1. Nguồn của quyền bầu cử Việc ghi nhận quyền bầu cử như một quyền độc lập hiện nay được xem là chuẩn mực quốc tế trong các hiến pháp dân chủ. Phần lớn các hiến pháp của các quốc gia dân chủ trên thế giới đều có điều khoản quy định quyền của công dân được lựa chọn người đại diện của mình ở tất cả các cấp chính quyền.[43] Trên bình diện quốc tế, quyền bầu cử lần đầu được ghi nhận tại Điều 21 của Tuyên ngôn Nhân quyền (UDHR). Theo đó, quyền bầu cử là nền tảng quan trọng nhằm phản ánh ý chí tự do của người dân trong một quốc gia, qua đó thể hiện cơ sở hình thành quyền lực của nhà nước.[44] Đây là một quyền cơ bản của con người, thuộc thế hệ quyền con người thứ nhất - các quyền dân sự và chính trị, sau này được pháp điển hóa tại Điều 25 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Dựa trên nguyên tắc không phân biệt đối xử và không bị hạn chế một cách vô lý, mỗi người đều có quyền được tham gia bầu cử trong những cuộc bầu cử chân thực và định kỳ, được tiến hành theo hình thức bỏ phiếu kín và nguyên tắc phổ thông đầu phiếu nhằm đảm bảo toàn vẹn ý chí tự do của cử tri.[45] Quy định về quyền bầu cử của người dân tại Điều 25 của ICCPR đã nhấn mạnh quyền cá nhân của mỗi công dân trong việc tham gia vào quá trình hình thành và quản lý các công việc công của nhà nước và làm phát sinh cơ chế khiếu nại sai sót theo Nghị định thư Tùy chọn thứ nhất.[46] 2.2. Nội dung của quyền bầu cử theo luật quốc tế Điều 21(b) ICCPR quy định: “Mọi công dân đều có quyền và cơ hội, không có bất kỳ sự phân biệt nào được nêu tại Điều 2 và không phải chịu những hạn chế vô lý: (b) Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ, chân thực, được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, bằng hình thức bỏ phiếu kín, bảo đảm thể hiện tự do ý chí của cử tri”. Theo đó, có thể xác định hai yếu tố đặc trưng của quyền bầu cử theo quy chuẩn quốc tế là (i) không có sự phân biệt đối xử và (ii) không phải chịu những hạn chế vô lý. 2.2.1. Quy chuẩn “không có sự phân biệt đối xử” Điều 21(b) ICCPR nhấn mạnh đối tượng hưởng quyền là “mọi công dân” (“every citizen”). Theo Nghị quyết 37/146 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, việc người dân tham gia vào hệ thống chính trị dựa trên nguyên tắc bình đẳng và căn cứ vào những quyền công dân chung là yếu tố cốt lõi nhằm đảm bảo cuộc bầu cử được diễn ra một cách thực chất và đảm bảo tính dân chủ.[47] Theo đó, việc từ chối hoặc hạn chế quyền bầu cử một cách có hệ thống dựa trên chủng tộc, màu da hoặc đặc điểm của các nhóm đối tượng thiểu số là sự vi phạm nghiêm trọng quyền con người, xúc phạm đến lương tri và phẩm giá của họ, cũng như không phản ánh đúng yếu tố “ý chí của người dân”.[48] Theo tiến trình lịch sử và sự phát triển của xã hội, quy chuẩn “không phân biệt đối xử” không chỉ dừng lại ở đặc tính chủng tộc mà còn mở rộng và nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Đến hiện tại, quy chuẩn này bao trùm lên đa số các đặc tính trong xã hội, nhấn mạnh sự phổ quát và sự bình đẳng. Cụ thể, Bình luận chung số 25 của Hội đồng Nhân quyền (HRC) khẳng định: “Không có công dân nào bị tước đoạt quyền bầu cử dựa trên màu da, tôn giáo, sắc tộc, ngôn ngữ, quan điểm chính trị, khối lượng tài sản hay trình độ học vấn.”[49] Bên cạnh việc xác định các nhóm đặc tính xã hội không được phép phân biệt đối xử, quy chuẩn này còn tạo ra một số tranh luận liên quan đến vấn đề quốc tịch. Về mặt bản chất, để có thể tham gia vào đời sống chính trị của một quốc gia có chủ quyền, yếu tố quốc tịch là yếu tố đầu tiên được xem xét.[50] Vì thế tính tương thích của nhóm người nhập tịch với đối tượng của Điều 25 trở thành vấn đề cần phải xem xét. Điều này đòi hỏi các quốc gia phải nêu rõ trong báo cáo quốc gia chỉ rõ mức độ hạn chế được hưởng quyền bầu cử của nhóm người này, cũng như các nhóm người cư trú lâu dài tại địa phương nếu có.[51] 2.2.2. Quy chuẩn “không phải chịu những hạn chế vô lý” Căn cứ vào quy tắc giải thích điều ước quốc tế theo Điều 31 Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế 1969, có thể hiểu rằng quyền bầu cử không phải là quyền tuyệt đối dựa vào cụm từ “không phải chịu những hạn chế vô lý” (“without unreasonable restrictions”) trong Điều 25. Điều này cũng có nghĩa các quốc gia có thể có những giới hạn khác nhau trong việc thực hiện quyền bầu cử của người dân, miễn những giới hạn đó khách quan và hợp lý.[52] Tuy nhiên, định nghĩa của “khách quan” và “hợp lý” lại bị để ngỏ, cho phép các quốc gia có những cách giải thích khác nhau. Cũng vì lý do đó, mỗi một quốc gia lại có những giới hạn khác nhau đối với đối tượng được hưởng quyền bầu cử. Ngoài những yếu tố thường thấy như quốc tịch hay độ tuổi, phần lớn các quốc gia đều giới hạn quyền bầu cử đối với những người chưa đủ năng lực hành vi hoặc đang phải chấp hành án phạt tù.[53] Nhìn chung, có thể chia sự giới hạn này thành ba nhóm chính: (i) giới hạn dựa trên tư cách chính trị, (ii) giới hạn dựa trên năng lực hành vi hoặc khả năng tự chủ và (iii) giới hạn như một biện pháp trừng phạt. (i) Giới hạn dựa trên tư cách chính trị Như đã trình bày phía trên, khi nhắc đến tư cách chính trị, quốc tịch là yếu tố đầu tiên được xem xét. Theo dòng lịch sử, khi sự toàn cầu hóa càng được đẩy mạnh, khái niệm quốc tịch càng được mở rộng ở cấp độ khu vực.[54] Tại Liên minh Châu Âu, Hiệp ước Maastricht và Công ước năm 1992 của Hội đồng Châu Âu đã trao quyền tham gia vào các hoạt động công, mở rộng quyền bầu cử và ứng cử đối với các công dân nước ngoài tại địa phương mà họ cư trú.[55] Ngoài yếu tố quốc tịch, vấn đề nơi cư trú cũng được xem xét kĩ lưỡng. Theo đó, Ủy ban Nhân quyền Châu Âu đã từng chấp thuận yêu cầu về nơi cư trú như một giới hạn của quyền bầu cử do lo ngại sự thiếu gắn bó lâu dài với các vấn đề chính trị trong nước cũng như khó khăn trong việc truyền tải thông tin bầu cử và hình thức bầu cử qua thư của công dân cư trú ở nước ngoài sẽ làm gia tăng tình trạng gian lận trong bầu cử.[56] Tuy nhiên, vấn đề quan điểm chính trị không thể được xem là một căn cứ để có quyền bầu cử hoặc loại trừ quyền bầu cử của ai đó.[57] Trong vụ việc Silva và những người khác kiện Uruguay, Uruguay đã tước quyền bầu cử của những người từng tranh cử dưới tư cách của một đảng phái chính trị bất hợp pháp.[58] Ủy ban Nhân quyền sau đó đã bác bỏ lập luận của Uruguay và cho rằng quy định này là không phù hợp.[59] (ii) Giới hạn dựa vào năng lực hành vi và khả năng tự chủ Phần lớn các quốc gia trên thế giới đều có quy định về độ tuổi được tham gia bầu cử, cũng như đối tượng được tham gia bầu cử dựa vào khả năng làm chủ hành vi của họ. Nếu như đa số các quốc gia trên thế giới đều chọn tuổi 18 là độ tuổi bầu cử tiêu chuẩn,[60] thì các giới hạn dựa vào khả năng làm chủ hành vi của chủ thể của từng quốc gia lại có phần khác nhau. Có thể xem xét ví dụ như Hiến pháp Thái Lan quy định rằng người mất trí hoặc có khiếm khuyết về năng lực tâm thần sẽ không được tham gia bầu cử.[61] Mặt khác, cùng là nhóm đối tượng có khiếm khuyết về tâm trí, các tòa án ở Canada đã khẳng định rằng họ vẫn có quyền bầu cử như người bình thường.[62] (iii) Giới hạn như một biện pháp trừng phạt Cũng tương tự như giới hạn dựa vào năng lực tự chủ của chủ thể, các quốc gia có quy định tương đối khác nhau về giới hạn quyền bầu cử như một biện pháp trừng phạt. Trong khi Thái Lan không cho phép người đang bị bắt giữ theo lệnh của tòa án được tham gia bầu cử,[63] thì Tòa án tối cao Canada lại cho rằng việc loại trừ tù nhân ra khỏi đối tượng được hưởng quyền bầu cử là quá rộng và không phù hợp với tính tương xứng.[64] Nhìn chung, những hạn chế khác nhau như vậy vẫn được chấp nhận theo quy chuẩn quốc tế, miễn những giới hạn được đặt ra không phải là công cụ nhằm tước đoạt quyền được bầu cử của một bộ phận dân số vì những mục đích phân biệt đối xử, gian lận hoặc mục đích chính trị xấu khác. 2.3. Nghĩa vụ của các quốc gia trong việc đảm bảo quyền bầu cử của công dân Về bản chất, quyền bầu cử là một trong số những quyền cơ bản của con người, vậy nên để đảm bảo quyền này được thực hiện theo những quy chuẩn đã nêu ở trên, Ủy ban Nhân quyền đã chỉ ra một số nghĩa vụ của các quốc gia trong Bình luận chung số 25. Thứ nhất, nhằm đảm bảo nguyên tắc pháp quyền, các quy định về bầu cử phải được ghi rõ trong hiến pháp và các luật liên quan.[65] Trong trường hợp quốc gia có áp dụng các quy định về nơi cư trú, cần đảm bảo rằng quy định đó không loại trừ quyền bầu cử của những người vô gia cư.[66] Thứ hai, trong trường hợp có quy định về đăng ký cử tri, quá trình đăng ký cần phải được tạo điều kiện thuận lợi và không được đặt ra những trở ngại không cần thiết.[67] Mọi hành vi lạm dụng hoặc can thiệp vào quá trình đăng ký và bỏ phiếu, hay cưỡng ép cử tri cần phải bị cấm và được xử lý theo luật hình sự.[68] Thứ ba, cần phải có những biện pháp nhằm thực hiện tốt việc giáo dục cử tri, nhằm đảm bảo cử tri có đầy đủ thông tin và thực hiện được hết quyền của mình.[69] Cần phải đảm bảo rằng các thông tin liên quan đến cuộc bầu cử phải được truyền tải tới nhóm thiểu số bằng ngôn ngữ của họ bằng những phương thức cụ thể như hình ảnh hoặc ký hiệu, cho phép những người không biết chứ cũng có khả năng thực hiện quyền.[70] Thứ tư, cần đảm bảo quyền tự do hội họp và tự do ngôn luận của người dân để đảm bảo quyền bầu cử được thực hiện hiệu quả.[71] Thứ năm, các quốc gia cần có những biện pháp tích cực nhằm khắc phục những khó khăn cụ thể của người dân, như tình trạng mù chữ hay khó khăn về việc di chuyển, vốn có thể cản trở người dân thực hiện quyền hiệu quả.[72] 3. Quyền bầu cử trong pháp luật Việt Nam 3.1. Hiến pháp 1946 Trước khi quyền bầu cử được hiến định trong Hiến pháp năm 1946, quá trình hình thành thiết chế đại diện của nhân dân ở Việt Nam được đặt nền tảng từ Đại hội đại biểu Quốc dân (còn gọi là “Quốc dân Đại hội Tân Trào”) năm 1945. Đại hội này đã mang tính đại diện đa thành phần xã hội, góp phần thông qua các chính sách nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách của dân tộc. [73] Thành phần tham dự Quốc dân Đại hội Tân trào có hơn 60 đại biểu đến từ ba miền Bắc - Trung - Nam; đại diện cho các ngành, các giới, tôn giáo, dân tộc, đoàn thể; đại biểu các đảng phái chính trị.[74] Tuy nhiên, cơ chế hình thành tính đại diện tại đây chủ yếu dựa trên việc cử đại biểu từ các tổ chức và địa phương, chưa được thiết lập thông qua một cuộc bầu cử phổ thông của toàn thể công dân. Từ giới hạn đó, việc thiết lập cơ chế bầu cử theo nguyên tắc phổ thông trở thành yêu cầu tất yếu. Ở góc độ lịch sử, Quốc dân Đại hội Tân Trào vẫn có ý nghĩa như một tiền đề chính trị - lịch sử quan trọng, thường được coi là đặt nền tảng cho sự hình thành của Quốc hội Việt Nam. [75] Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 06/01/1946 được tiến hành theo chế độ phổ thông đầu phiếu nhằm thành lập cơ quan đại diện của nhân dân.[76] Trên cơ sở kết quả Tổng tuyển cử, Quốc hội khoá I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào ngày 09/11/1946.[77] Việc thông qua Hiến pháp này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc xác lập chủ quyền quốc gia, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.[78] Trên nền tảng đó, Hiến pháp 1946 lần đầu tiên hiến định quyền bầu cử như một quyền dân sự và chính trị cơ bản của công dân. Theo Điều 18 quy định: “Tất cả công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt gái trai, đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất công quyền[...] Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử.”.[79] Quy định này xác lập quyền bầu cử phổ thông đối với công dân từ đủ 18 tuổi trở lên, nhấn mạnh bình đẳng giới, đồng thời thừa nhận quyền bầu cử của công dân tại ngũ.[80] Bên cạnh đó, Hiến pháp đặt ra một số giới hạn đối với trường hợp mất trí và những người mất công quyền.[81] Tuy nhiên, Hiến pháp 1946 chủ yếu ghi nhận quyền bầu cử ở phương diện chủ thể, chưa hiến định một cách hệ thống các nguyên tắc bầu cử, các nguyên tắc đó được thể hiện chủ yếu trong các Sắc lệnh về Tổng tuyển cử năm 1945-1946.[82] Cụ thể, Sắc lệnh 14-SL ngày 08/9/1945 về mở cuộc Tổng tuyển cử được ban hành; Sắc lệnh 39-SL ngày 26/9/1945 về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ cuộc Tổng tuyển cử; Sắc lệnh số 51-SL ngày 17/10/1945 quy định thể lệ cuộc Tổng tuyển cử phải thực hiện theo lối phổ thông đầu phiếu, bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín; Sắc lệnh số 71-SL ngày 2/12/1945 bổ khuyết Điều 11 Chương V của Sắc lệnh số 51-SL nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người ứng cử và Sắc lệnh số 76-SL ngày 18/12/1945 về việc ấn định lại ngày Tổng tuyển cử và hạn nộp đơn ứng cử.[83] Việc các quy định về bầu cử được ghi nhận trong nhiều sắc lệnh riêng lẻ cho thấy pháp luật bầu cử ở giai đoạn này còn mang tính phân tán, chưa được pháp điển hoá thành một văn bản quy phạm pháp luật thống nhất. Như vậy, Hiến pháp năm 1946 đã đặt nền tảng hiến định ban đầu cho quyền bầu cử trong pháp luật Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để quyền này tiếp tục được kế thừa, phát triển và hoàn thiện trong các bản Hiến pháp và pháp luật bầu cử tiếp theo. 3.2. Hiến pháp 2013 Từ nền tảng hiến định ban đầu tại Hiến pháp năm 1946, quyền bầu cử tiếp tục được kế thừa và phát triển trong các bản Hiến pháp sau này nhằm phù hợp với điều kiện chính trị - xã hội từng thời kỳ. Hiến pháp 2013 thể hiện bước chuẩn hóa quan trọng về quyền bầu cử. Về nguyên tắc, Điều 7 quy định các nguyên tắc bầu cử bao gồm nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.[84] Việc hiến định trực tiếp các nguyên tắc này tạo ra chuẩn mực có giá trị hiến định để định hướng và đánh giá tính dân chủ, hợp pháp của hoạt động bầu cử. Về chủ thể và điều kiện tham gia, Điều 27 Hiến pháp 2013 tiếp tục xác lập quyền bầu cử quy định “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”[85]. Điểm đáng chú ý, Hiến pháp quy định “việc thực hiện các quyền này do luật định” thể hiện lập hiến theo hướng quy định khung, tạo cơ sở cho các luật ngành cụ thể hoá các điều kiện, trình tự và cơ chế bảo đảm quyền thực thi quyền bầu cử. Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền và tiệm cận quan điểm bảo vệ quyền con người theo pháp luật quốc tế, theo đó mọi giới hạn hoặc điều kiện quyền cần được xác lập bằng luật và áp dụng trên cơ sở bình đẳng.[86] Có thể khái quát rằng, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, quyền bầu cử trong pháp luật Việt Nam đã được kế thừa và phát triển theo hướng chuẩn hóa và tăng cường đảm bảo thực thi. Nếu như Hiến pháp 1946 đặt nền tảng bằng việc hiến định quyền bầu cử như một quyền dân sự và chính trị cơ bản của công dân, thì Hiến pháp 2013 tiếp tục hoàn thiện khi hiến định các nguyên tắc bầu cử và quy định cơ chế “do luật định” nhằm tạo điều kiện cho luật chuyên ngành cụ thể hoá điều kiện, trình tự. Sự phát triển này không chỉ thể hiện việc thực quyền bầu cử là phương thức để thực hiện quyền lực nhân trong trong tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước mà còn phản ánh quá trình mở rộng, hoàn thiện dân chủ theo từng giai đoạn lịch sử.[87]. Trên cơ sở đó, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 cụ thể hóa điều kiện, thủ tục và cơ chế thực hiện quyền bầu cử trong thực tiễn. 3.3. Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân Do Hiến pháp có tính khái quát, Hiến pháp năm 2013 chỉ xác lập những quy định khuôn khổ về quyền bầu cử.[88] Trên cơ sở đó, Quốc hội ban hành Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng Nhân dân nhằm quy định thống nhất về nguyên tắc, trình tự, thủ tục bầu cử; chủ thể tham gia bầu cử. Điều này thể hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong việc tham gia xây dựng bộ máy nhà nước các cấp. Về nguyên tắc bầu cử, Điều 1 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân tiếp tục nhấn mạnh bốn nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử tại Điều 7 Hiến pháp 2013.[89] Các nguyên tắc bầu cử là những quy định được áp dụng cho quyền bầu cử của chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử. Về chủ thể và điều kiện chủ thể tham gia bầu cử, Điều 2 Luật này quy định “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này.” Quy định này làm rõ điều kiện thực hiện quyền bầu cử và quyền ứng cử, đồng thời bảo đảm sự thống nhất với quy định của Hiến pháp năm 2013. Bên cạnh đó, tại Điều 30 quy định rõ các trường hợp không được ghi tên, xoá tên, hoặc bổ sung tên vào danh sách cử tri. Cụ thể, bao gồm (i) Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật; (ii) Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án; (iii) Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, (iv) Người mất năng lực hành vi dân sự”.[90] Ngoài ra, Luật dự liệu việc bổ sung tên vào danh sách cử tri nếu trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ được khôi phục lại quyền bầu cử đối với những đối tượng được trả lại tự do hoặc được cơ quan có thẩm quyền xác nhận không còn trong tình trạng mất năng lực hành vi dân sự.[91] Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền bầu cử của công dân, đồng thời vẫn duy trì các giới hạn cần thiết nhằm bảo đảm tính hợp pháp và trật tự của cuộc bầu cử. Bên cạnh việc cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân năm 2015 còn thể hiện sự thể chế hoá các quan điểm của Đảng được ghi nhận trong Cương lĩnh dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đặc biệt ở các nội dung về xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân và nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân.[92] Việc pháp luật quy định cụ thể về nguyên tắc bầu cử, chủ thể thực hiện quyền bầu cử và các cơ chế bảo đảm thực thi quyền cho thấy dân chủ không chỉ được khẳng định ở phương diện chính trị mà còn được thể chế hóa bằng pháp luật. Kết luận: Như vậy, quyền bầu cử là một trong những quyền dân sự và chính trị cơ bản của công dân, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và là nền tảng của chế độ dân chủ. Trong luật quốc tế, quyền này được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng, tiêu biểu như Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, với các nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Tại Việt Nam, quyền bầu cử đã được khẳng định từ cuộc Tổng tuyển cử năm 1946 và được hiến định, hoàn thiện qua các bản Hiến pháp cũng như Luật Bầu cử hiện hành. Qua 80 năm hình thành và phát triển tại Việt Nam, việc bảo đảm thực hiện quyền bầu cử không chỉ khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân ta mà còn góp phần củng cố nền tảng pháp lý và thực tiễn của nền dân chủ ở Việt Nam. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Bryan A. Garner, Black’s Law Dictionary (8th edn, Thomas West 2004) 4496; [2] U.S. Election Assistance Commission, Glossary of Election Terminology - Vietnamese (2021) 132; [3] Lưu ý chú giải này chỉ được sử dụng để giải thích các thuật ngữ liên quan đến các cuộc bầu cử ở Hoa Kỳ. [4] [5] Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt (NXB Hồng Đức 2021) 1031, 165; [6] Chinhphu.vn, ‘Tại sao nói bầu cử là quyền và nghĩa vụ của công dân?’ (Báo điện tử Chính phủ xây dựng chính sách pháp luật) truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026; [7] Socialists & Democrats, ‘Why Voting Matters’ truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2026; [9] Jagriti Thakur, ‘Electoral System’ (2018) 2 IJLMH 1. truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [10] Cornell Law School, ‘referendum’ truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [11] Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2011) 68; [12] USA Government, ‘Who can and cannot vote’ truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; Xem thêm : Vietnamnet, ‘Who is eligible to vote?’ truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [13] [19] [20] Đặng Văn Chương, ‘Quá trình hoàn thiện chính thể cộng hòa dân chủ ở thị quốc Athens (Hy Lạp) qua các cuộc cải cách (thế kỷ VI-V trước công nguyên)’ (2012) 10(145) European Studies Review 64; [14] Nguyễn Đăng Dung, ‘Vai trò của bầu cử’ (2018) 34 Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học 1; [15] Solon (638-558 TCN) là một nhà buôn, chính khách, được biết đến là một trong bảy nhà thông thái nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại; [16] Thomas R Martin, Ancient Greece: From Prehistoric to Hellenistic Times (2nd edn, Yale University Press 2013) 77; [17] [25] [31] Vũ Dương Ninh, Lịch sử Văn minh Thế giới (NXB Giáo dục Việt Nam 2010) 285, 384, 396; [18] Pericles (495 – 429 TCN) là một tướng lĩnh tài ba, người sáng lập đế quốc Athens và được coi là người “mở rộng” nền dân chủ Athens; [21] National Geographic Society, ‘Democracy (Ancient Greece)’, truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [22] ‘Cơ quan quyền lực nhất La Mã cổ đại’ (Tạp chí Tri thức Znews) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026, trích dẫn từ Philip Freeman, Julius Ceasar (NXB Dân Trí 2023); [23] ‘Government: Civic Duty of Ancient Roman Citizens’ truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [24] Guy de la Bedoyere, ‘The Romans (Người La Mã- Phần 1) (Trần Quang Nghĩa dịch)’ (Nghiên cứu lịch sử) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [26] Phillip Kayser, Universal Suffrage : A History and Analysis of Voting in the Church and Society (Biblical Blueprints 2007) 2; [27] Hiến pháp bang Delaware năm 1792, Điều I, Mục 2; Hiến pháp bang Georgia năm 1777, Điều VI; Hiến pháp bang South Carolina năm 1778, Điều XII.; [28] [29] University of North Texas, ‘A Brief History of Voting in America’ truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [30] [33] [34] [38] Ellen Carol DuBois, Woman Suffrage and Women’s Rights (New York University Press 1998) 254, 258-259, 265, 270; [32] Hiến pháp Pháp năm 1791, Phần III, Mục 2; [35] ‘Women and the vote’ (New Zealand History) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [36] Chinhphu.vn, ‘Nguyên tắc phổ thông và bình đẳng trong bầu cử’ (Báo điện tử Chính phủ xây dựng chính sách pháp luật) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [37] Ruth Rubio-Marín, The achievement of female suffrage in Europe: on women’s citizenship (Oxford University Press 2014); [39] Stearns, Peter N, ‘The Oxford encyclopedia of the modern world’ (2008) 7 Oxford University Press 160; [40] ‘Voting Rights Act (1965)’ (National Archives) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [41] ‘Universal right to vote’ (Our World in Data) truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2026; [42] UDHR, điều 21 khoản 3; Công ước về các tiêu chuẩn của bầu cử dân chủ, quyền bầu cử và các quyền tự do trong các quốc gia thành viên của Cộng đồng các Quốc gia Độc lập, điều 5; [43] [53] Alexander Kirshner, ‘The International Status of the Right to Vote’, (Democracy Coalition Project); [8] [44] UDHR, Điều 21; [45] ICCPR, Điều 25(b); [46] Ủy ban Nhân quyền (HRC), Bình luận chung số 25, đoạn 2; [47] [48] Đại hội đồng Liên hợp quốc, Nghị quyết 37/146; [49] [51] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 3; [50] [54] [56] Guy S. Goodwin-Gill, Free and Fair Elections, (Liên minh Nghị viện Thế giới, 2006), tr. 126; [52] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 4; [55] Hiệp định Maastricht, Chương 1, Điều F; Phần 2 (Tư cách công dân Liên minh), Điều 8, 8b. Hội đồng Châu Âu, 1992 Công ước về Sự tham gia của Người nước ngoài vào Đời sống Công cộng ở Cấp chính quyền Địa phương, Điều 3, Điều 6, Điều 9(2) và 9(3); [57] [65] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 10; [58] [59] Guy S. Goodwin-Gill, Free and Fair Elections, (Liên minh Nghị viện Thế giới, 2006), tr. 128; [60] Liên minh Nghị viện Thế giới, ‘Hệ thống Bầu cử’; [61] [63] Điều 110, Hiến pháp Thái Lan; [62] Guy S. Goodwin-Gill, Free and Fair Elections, (Liên minh Nghị viện Thế giới, 2006), tr. 127; [64] Sauvé v. Canada (Attorney General) [1993] 2 SCR 438; [66] [67] [68] [69] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 11; [70] [71] [72] HRC, Bình luận chung số 25, đoạn 12; [73] Nguyễn Danh Tiên, ‘Tầm vóc và ý nghĩa lịch sử của Quốc dân Đại hội Tân Trào’ (Ban Tuyên giáo và Dân vận tỉnh uỷ Hà Giang, 28 tháng 5 năm 2025) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [74] Nguyễn Quang Hòa, Đinh Đức Huy, ‘Quốc dân Đại hội Tân Trào - ý nghĩa và giá trị lịch sử’ (Tạp chí điện tử Lý luận chính trị, 25 tháng 8 2025) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [75] Văn phòng Quốc hội, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Đề cương Tuyên truyền kỷ niệm 80 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946-06/01/2026); [76] [82] Hảo Thi - Văn Toản, ‘Chế độ bầu cử, cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội Việt Nam qua các giai đoạn’ Báo Nhân dân (Ha Noi, 27 tháng 1 năm 2026) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [77] Thái Bình, ‘Hoàn cảnh ra đời của các bản Hiến pháp Việt Nam’, (9 tháng 11 năm 2017) truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [78] Thông tấn xã Việt Nam, ‘Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ’ Báo điện tử Chính phủ xây dựng chính sách pháp luật , truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2026; [79] [80] [81] [83]Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946, Điều 18; [84] Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam, Điều 7; [85] Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam, Điều 27; [86] [87] Hoàng Ánh, ‘Quyền bầu cử trong các bản Hiến pháp Việt Nam’ (UBND Tỉnh Thái Nguyên - Sở Tư pháp, 20 tháng 10 năm 2025) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [88] Trương Hồng Quang, ‘Nhận thức về Hiến pháp và bảo vệ Hiến pháp ở Việt Nam’ (Tạp chí Dân chủ & Pháp luật) truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2026; [89] Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân, Điều 1; [90] [91] Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân, Điều 30; [92] Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), phần IV.

  • [84] CHUYÊN MỤC ĐẶC BIỆT: QUYỀN ĐƯỢC LAO ĐỘNG TRONG ĐIỀU KIỆN THÍCH HỢP VÀ THỎA ĐÁNG: QUY ĐỊNH TRONG LUẬT QUỐC TẾ VÀ TƯƠNG QUAN VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM

    Phùng Đăng Khôi Nguyễn Nhật Nam Tóm tắt: Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế, quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng là quyền lợi cơ bản và phổ quát của người lao động. Trên cơ sở các điều ước quốc tế về nhân quyền, lao động và các văn bản pháp luật Việt Nam về lao động, điển hình là Bộ luật Lao động 2019, bài viết phân tích các khía cạnh về bình đẳng giới, thù lao tối thiểu, thời giờ nghỉ ngơi, an toàn vệ sinh lao động và môi trường làm việc không có bạo lực trong lao động. Bài viết này cũng là bài viết kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động 01/05, nhằm góp phần nâng cao nhận thức về quyền của người lao động trong bối cảnh hiện nay. Từ khóa: Quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng; Luật Lao động; người lao động; bình đẳng. 1. Tổng quan về sự phát triển của quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thoả đáng 1.1. Sự phát triển của quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thoả đáng trong luật quốc tế Thế kỷ XVIII chứng kiến sự chuyển biến từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất công nghiệp quy mô lớn. Tuy nhiên, người lao động trong thời kỳ này phải làm việc trong điều kiện tồi tàn, độc hại [1] từ 12 đến 16 giờ/ngày và không có ngày nghỉ.[2] Ngày 01/5/1886, công nhân thành phố Chicago đã bãi công với khẩu hiệu "Ngày làm việc 8 giờ". Trong Đại hội thành lập Quốc tế thứ II, các đại biểu của giai cấp công nhân đã lấy ngày 01/5 hàng năm làm ngày đoàn kết đấu tranh của công nhân lao động toàn cầu.[3] Sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất kết thúc, Tổ chức Lao động Quốc tế ("ILO") được thành lập theo Điều 387 đến Điều 426 của Hiệp ước Versailles.[4] Hiến chương ILO năm 1919 khẳng định mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia trong phát triển điều kiện lao động.[5] Trong thập niên 1920, ILO đã thiết lập nhiều tiêu chuẩn quốc tế liên quan chất lượng môi trường công việc. Tuy nhiên, những tiến bộ đạt nhanh chóng bị phá vỡ bởi cuộc Đại suy thoái bùng nổ từ năm 1929.[6] Nền tảng của quy định luật quốc tế về quyền lao động trong điều kiện thích hợp và thoả đáng sau Chiến tranh thế giới thứ Hai bao gồm Tuyên bố Philadelphia, Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền ("UDHR") và Công ước quốc tế các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá năm 1966 ("ICESCR"). Tuyên bố Philadelphia được thông qua vào năm 1944 khi Chiến tranh thế giới thứ Hai bước vào hồi kết thúc, là hình mẫu cho Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền,[7] khẳng định quyền của mỗi cá nhân được theo đuổi sự thịnh vượng về vật chất và phát triển đời sống tinh thần trong các điều kiện bảo đảm tự do và phẩm giá.[8] Năm 1948, UDHR được thông qua khẳng định mọi người có quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm, được hưởng những điều kiện làm việc thích hợp và thỏa đáng và được bảo hộ chống thất nghiệp.[9] Điều 7 ICESCR đã quy định về quyền làm việc trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng. Theo đó, người lao động phải được (i) bảo đảm thù lao tối thiểu đủ để nuôi sống bản thân họ và gia đình, với mức lương bằng nhau cho khối lượng công việc như nhau, lao động nữ được hưởng điều kiện làm việc tương ứng với lao động nam; (ii) điều kiện làm việc an toàn và lành mạnh; (iii) mọi người có cơ hội ngang nhau được đề bạt lên chức vụ thích hợp cao hơn, chỉ cần xét tới thâm niên và năng lực làm việc; (iv) thời giờ làm việc, thời gian nghỉ ngơi hợp lý và ngày nghỉ thường kỳ được hưởng lương cũng như thù lao cho những ngày nghỉ lễ.[10] Trong bối cảnh hiện đại, điều kiện về thù lao bình đẳng còn được mở rộng, bao hàm việc bình đẳng không phân biệt màu da, sắc tộc, quốc tịch, tình trạng nhập cư, sức khoẻ, tuổi tác và, xu hướng tính dục.[11] Đồng thời, Tuyên bố ILO về các Nguyên tắc cơ bản và các Quyền tại Nơi làm việc 1998 (sửa đổi, bổ sung 2022) đã liệt kê môi trường làm việc an toàn và khoẻ mạnh là một trong những nguyên tắc cơ bản.[12] 1.2. Lịch sử pháp luật lao động Việt Nam và nhu cầu hội nhập quốc tế Năm 1947, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do ("Sắc lệnh"), quy định tương đối toàn diện và tiên tiến về các vấn đề lao động.[13] Theo đó, liên quan tiền công tối thiểu “bất luận trường hợp nào không được trả lương công nhân ít hơn lương tối thiểu này”,[14] thời gian làm việc “thời hạn làm việc của công nhân [...] không được quá 48 giờ một tuần lễ”;[15] thời giờ nghỉ ngơi “mỗi tuần lễ công nhân phải được nghỉ 24 giờ liền”[16]; điều kiện làm việc bảo đảm an toàn “Các máy móc và dụng cụ phải xếp đặt và giữ gìn thế nào cho hợp sự bảo an”.[17] Trên cơ sở kế thừa tinh thần Sắc lệnh, Bộ luật Lao động 1994 được ban hành trong bối cảnh đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới, tiếp đó là Bộ luật Lao động 2012 được ban hành[18] trong bối cảnh Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế và các Công ước của ILO.[19] Bộ luật Lao động 2019 được ban hành với mục đích đáp ứng cam kết theo Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).[20] Tính đến năm 2023, Việt Nam đã phê chuẩn 9 trên tổng số 10 công ước cơ bản của ILO, ngoại trừ Công ước số 87 về quyền tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức.[21] Trong phạm vi bài viết, nhóm tác giả sẽ tập trung phân tích các yếu tố về quyền lao động trong điều kiện thuận lợi và thoả đáng theo nguyên tắc với tự do và nhân phẩm theo đuổi sự tiến bộ về vật chất, phát triển tinh thần và Điều 7 ICESCR theo quy định của pháp luật Việt Nam và đối chiếu tương quan với các quy định tương ứng của các Công ước ILO, lần lượt là (3) Về Bình đẳng giới và Môi trường làm việc không có bạo lực và quấy rối tình dục; (4) Về Thù lao tối thiểu, công bằng, thù lao bình đẳng cho công việc có giá trị ngang nhau; (5) Về Thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; và (6) Về An toàn và Vệ sinh lao động. 3. Nhóm quyền về bình đẳng giới trong lao động và môi trường làm việc không có bạo lực và quấy rối tình dục Công ước ILO số 111 năm 1958 về về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp khẳng định thành viên Công ước có nghĩa vụ theo đuổi chính sách quốc gia nhằm thúc đẩy bình đẳng về cơ hội và chấm dứt phân biệt đối xử về giới tính trong công việc.[22] Đồng thời, Công ước số 156 năm 1981 về bình đẳng cơ hội và đối xử với lao động nam và nữ: trách nhiệm gia đình đã mở rộng yêu cầu về đối xử bình đẳng cho những người có trách nhiệm gia đình.[23] Luật Bình đẳng giới 2006 cũng có cách tiếp cận tương tự với Công ước ILO số 111 và số 156 - khẳng định trong lĩnh vực lao động, nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc, khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.[24] Trong văn bản chuyên ngành về pháp luật lao động, từ Bộ luật Lao động 1994 cho đến nay, bình đẳng giới trong lao động đã được Nhà nước ghi nhận và bảo đảm[25], theo đó mọi người có quyền không bị phân biệt đối xử về giới tính[26] và người sử dụng lao động bị nghiêm cấm có hành vi phân biệt đối xử với người lao động nữ.[27] Quy định của Bộ luật Lao động 2019 ngoài kế thừa những quy định của Bộ luật Lao động 1994 và 2012, đã có sự mở rộng và bao quát toàn diện hơn các vấn đề về bình đẳng giới, đặc biệt là trong vấn đề quấy rối tình dục.[28] Trong xu thế hội nhập và phát triển bền vững, việc xây dựng một môi trường làm việc an toàn, văn minh, bảo đảm môi trường làm việc không bạo lực và quấy rối tình dục là mục tiêu hàng đầu của mọi quốc gia. Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối liên quan đến việc nghiêm cấm bạo lực và quấy rối trong môi trường làm việc (“Công ước ILO số 190”) yêu cầu quốc gia thành viên áp dụng một cách tiếp cận toàn diện, tích hợp và đáp ứng giới nhằm ngăn ngừa và xóa bỏ bạo lực và quấy rối trong công việc, trong đó bao gồm quy định việc nghiêm cấm bạo lực và quấy rối trong các văn bản luật.[29] Đồng thời, quốc gia thành viên cần ban hành luật và quy định yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện các bước đi phù hợp và tương xứng với thẩm quyền kiểm soát của mình nhằm ngăn chặn bạo lực và quấy rối tại nơi làm việc, bao gồm cả bạo lực và quấy rối trên cơ sở giới.[30] Cùng với đó, người lao động phải được trao có quyền từ chối làm việc trong những tình huống mà họ có viện dẫn hợp lý để tin tưởng rằng tồn tại những nguy cơ bạo lực và quấy rối tiềm tàng có thể xảy ra ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe hay sự an toàn của họ và việc từ chối sẽ không dẫn đến việc bị trả thù hay phải gánh chịu những hậu quả không đáng có khác, đảm bảo họ có trách nhiệm báo cáo với cấp quản lý.[31] Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Lao động 2019 nhấn mạnh người sử dụng lao động nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động. Điều 8 Bộ luật Lao động quy định nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, cưỡng bức lao động và hành vi quấy rối tình dục tại nơi làm việc, phù hợp với quy định của Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối (“Công ước ILO số 190”) liên quan đến việc nghiêm cấm bạo lực và quấy rối trong môi trường làm việc , mặc dù Việt Nam chưa là quốc gia thành viên. Khoản 9 Điều 3 Bộ luật Lao động 2019 định nghĩa quấy rối tình dục là hành vi có tính chất tình dục của bất kỳ người nào đối với người khác mà không được người đó mong muốn hoặc chấp nhận.[32] Điều 3 Công ước ILO số 190 quy định "nơi làm việc" là những nơi phát sinh từ công việc hay có liên hệ tới công việc, trong đó bao gồm (a) tại nơi làm việc, bao gồm cả những không gian công và tư nơi diễn ra công việc; (b) tại nơi người lao động được trả công, nghỉ ngơi hay nghỉ ăn ca, hay sử dụng phòng vệ sinh, tắm gội và thay đồ; (c) trong các chuyến công tác hoặc di chuyển có liên quan đến công việc, khi đào tạo, trong các sự kiện hay các hoạt động xã hội; (d) thông qua trao đổi thông tin có liên quan đến công việc bao gồm cả các hành vi được thực hiện thông qua công nghệ thông tin và truyền thông; (e) tại nơi ở do người sử dụng lao động bố trí; và (f) khi di chuyển từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại. Quy định của Bộ luật Lao động 2019 về khái niệm “nơi làm việc” cũng tiếp thu tinh thần của Công ước ILO số 190, không còn bó hẹp trong phạm vi văn phòng mà mở rộng ra bất kỳ nơi nào người lao động thực tế làm việc theo sự phân công của người sử dụng lao động.[33] Nhằm phòng chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc, Khoản 2 Điều 6 Bộ luật Lao động 2019 tương thích với quy định của Điều 9 của Công ước ILO số 190.[34] Theo đó, người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các giải pháp cụ thể để chống quấy rối tình dục, trong đó bao gồm đưa phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc; trình tự, thủ tục xử lý hành vi quấy rối tình dục. Ở chiều hướng bảo vệ trực tiếp, Bộ luật Lao động 2019 Khoản 2 Điều 35 quy định người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ngay lập tức mà không cần báo trước nếu bị ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm.[35] Quy định này tương thích với quy định của Điều 10(g) Công ước ILO số 190, theo đó người lao động có quyền từ chối làm việc trong những tình huống mà họ có viện dẫn hợp lý để tin tưởng rằng tồn tại những nguy cơ bạo lực và quấy rối tiềm tàng có thể xảy ra ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe hay sự an toàn của họ. Hơn nữa, sự bảo vệ này còn được duy trì ngay cả trong các tình huống nhạy cảm như xử lý kỷ luật. Điều 127 Bộ luật Lao động 2019 nghiêm cấm các hành vi xâm phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín và nhân phẩm của người lao động khi tiến hành kỷ luật lao động. 4. Nhóm quyền về thù lao tối thiểu, công bằng, thù lao bình đẳng cho công việc có giá trị ngang nhau Các quy định về tiền lương tối thiểu và nguyên tắc trả lương công bằng của pháp luật Việt Nam được xây dựng tương thích với các tiêu chuẩn quốc tế của ILO, cụ thể tại Công ước ILO số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau ("Công ước ILO số 100") và Công ước ILO số 131 về ấn định lương tối thiểu ("Công ước ILO số 131"). Việt Nam hiện tại đã là thành viên của Công ước ILO số 100 nhưng chưa là thành viên của Công ước ILO số 131. Cụ thể, Công ước ILO số 100 Điều 1(b) Công ước ILO số 100 định nghĩa thuật ngữ “trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau” là việc xác định các mức trả công được ấn định không phân biệt đối xử về giới tính,[36] đồng thời, Điều 2(1) quy định rằng mỗi quốc gia thành viên phải thúc đẩy và thực hiện các chính sách phù hợp nhằm hiện thực hóa nguyên tắc trả công bình đẳng này. Mặt khác, Công ước ILO số 131 đặt ra các tiêu chí để các quốc gia xác định tiền lương tối thiểu tại Điều 3,[37] đồng thời yêu cầu xây dựng một cơ chế nhất định để quyết định vấn đề này tại Điều 4(1).[38] Quy định của pháp luật Việt Nam về mức lương tối thiểu phù hợp với quy định của Công ước ILO số 131 mặc dù Việt Nam chưa là quốc gia thành viên. Cụ thể, Bộ luật Lao động 2019 quy định “là mức lương thấp nhất được trả cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội.”[39] Mức lương tối thiểu sẽ được xác lập theo vùng và ấn định theo tháng, giờ.[40] Hiện nay, Nghị định 293/2025/NĐ-CP là văn bản mới nhất quy định chi tiết về mức lương tối thiểu cho từng vùng.[41] Việc xác định mức lương tối thiểu theo vùng sẽ do Hội đồng Tiền lương Quốc gia quyết định qua các năm.[42] Mức lương tối thiểu này được quy định dựa trên đặc thù phát triển của mỗi vùng miền và điều chỉnh dựa trên nhu cầu đời sống của người lao động trong bối cảnh giá cả và chi phí sinh hoạt thay đổi qua từng năm.[43] Về trả lương công bằng, Bộ luật Lao động 2019 cũng có quy định tương đồng với điều 1(b) Công ước ILO số 100 “Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau”[44] và tại Khoản 1 Điều 136 “Bảo đảm thực hiện bình đẳng giới và các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong tuyển dụng, bố trí, sắp xếp việc làm, đào tạo, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác”.[45] Song song với trả lương công bằng, Bộ luật Lao động 2019 yêu cầu Người sử dụng lao động “trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn”.[46] Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 trao quyền tự quyết nhiều hơn cho doanh nghiệp trong việc xây dựng thang bảng lương so với Bộ luật Lao động 2012.[47] Theo đó, doanh nghiệp có thể tự xây dựng thang bảng lương mà không phải gửi thang bảng lương cho cơ quan có thẩm quyền, nhưng phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động.[48] 5. Nhóm quyền về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt do tính chất gắn liền với thực thể con người, do vậy, quy định chặt chẽ về thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi sẽ có ý nghĩa thiết yếu trong việc bảo đảm sức khỏe, tái tạo sức lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và chính sách lao động, mỗi quốc gia lại thiết lập những quy định riêng biệt nhằm điều chỉnh vấn đề này theo hướng phù hợp.[49] Công ước ILO số 001 về Tuần làm việc 48 giờ năm 1919 ("Công ước ILO số 001") quy định số giờ làm việc không quá 08 giờ một ngày và 48 giờ một tuần, và sau đó Công ước ILO số 047 về Tuần làm việc 40 giờ ("Công ước ILO số 047") được thông qua, theo đó, các quốc gia thành viên áp dụng nguyên tắc tuần làm việc 40 giờ mà tiêu chuẩn sống không bị giảm theo. Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động 2019 hiện quy định về “thời giờ làm việc bình thường” là 08 tiếng 01 ngày và không quá 48 tiếng 01 tuần.[50] Nếu thời giờ làm việc được quy định theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần.[51] Số ngày làm việc hiện tại theo quy định của Việt Nam vẫn cao hơn so với xu hướng chung trên thế giới[52] nhưng phù hợp Công ước ILO số 001 (Việt Nam chưa phê chuẩn).[53] Đồng thời, Bộ luật Lao động 2019 cũng khuyến khích người sử dụng lao động có chính sách tổ chức làm việc 40 giờ 01 tuần dành cho người lao động.[54] Đây là sự tiệm cận công ước ILO số 047 vốn được rất ít quốc gia phê chuẩn của Việt Nam.[55] Ngoài quy định về thời giờ làm việc bình thường, pháp luật Việt Nam còn thiết lập các giới hạn nghiêm ngặt đối với thời giờ làm thêm, theo đó tổng số giờ làm thêm không vượt quá 40 giờ trong 01 tháng và từ 200 đến 300 giờ trong 01 năm, tùy thuộc vào lĩnh vực, ngành nghề.[56] Đồng thời, người lao động được hưởng lương làm thêm giờ cao hơn so với bình thường.[57] Công ước ILO số 132 về Ngày nghỉ được hưởng nguyên lương ("Công ước ILO số 132") quy định người lao động sẽ có quyền nghỉ được hưởng nguyên lương với số ngày tối thiểu là ba tuần làm việc cho một năm lao động.[58] Bộ luật Lao động 2019 hiện hành quy định người lao động được nghỉ hằng năm mà vẫn hưởng nguyên lương lần lượt là (i) 12 ngày làm việc đối với công việc trong điều kiện bình thường (ii) 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và (iii) 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.[59] Lưu ý các tiêu chí trên chỉ được áp dụng đối với người lao động đã làm việc đủ 12 tháng, trong trường hợp chưa đủ thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc. Vì vậy có thể thấy, trong khía cạnh liên quan đến ngày nghỉ hưởng nguyên lương, quy định Bộ luật Lao động 2019 chưa thực sự sát với tiêu chuẩn của Công ước ILO số 132. Bên cạnh đó, quy định về số ngày nghỉ lễ hằng năm không mang tính cố định; cụ thể, thời gian nghỉ đối với dịp Tết và Quốc khánh được Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết theo từng năm.[60] Ngoài các ngày nghỉ lễ theo quy định tại Điều 112 Bộ luật Lao động 2019, mới đây, Quốc hội đã thông qua ngày 24/11 - ngày Văn hóa Việt Nam là ngày nghỉ lễ mới nhất, nâng tổng số ngày nghỉ lễ lĩnh lương đầy đủ lên 12 ngày.[61] Các quy định này thể hiện sự linh hoạt và cập nhật của pháp luật lao động Việt Nam trong việc điều chỉnh chế độ nghỉ lễ, vừa bảo đảm quyền lợi của người lao động, vừa cho phép Nhà nước chủ động cân đối các yếu tố kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. 6. Nhóm quyền về An toàn và Vệ sinh lao động Công ước ILO số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động (“Công ước ILO số 155”) Điều 16 quy định người sử dụng lao động có trách nhiệm kiểm soát và bảo đảm an toàn tuyệt đối cho toàn bộ môi trường lao động (bao gồm máy móc, thiết bị và các tác nhân hóa – lý – sinh), đồng thời phải cung cấp đầy đủ trang thiết bị bảo hộ cá nhân phù hợp để loại bỏ hoặc giảm thiểu tối đa các nguy cơ gây tai nạn và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.[62] Đồng thời, Điều 13 quy định người lao động phải được bảo vệ phù hợp theo điều kiện và tập quán quốc gia trong trường hợp người lao động tự mình rời bỏ nơi làm việc mà có lý do xác đáng chứng minh được rằng nơi làm việc có mối nguy hiểm sắp xảy ra, đe doạ nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của mình.[63] Theo Bộ luật Lao động 2019, một trong những quyền cơ bản của người lao động là quyền được bảo hộ lao động và làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn vệ sinh lao động[64] và được cung cấp thông tin trung thực về điều kiện an toàn vệ sinh lao động khi giao kết hợp đồng lao động.[65] Cụ thể, người lao động có quyền được thực hiện chế độ bảo hộ lao động, khám sức khỏe, chăm sóc sức khỏe và khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.[66] Trong trường hợp xảy ra tai nạn lao động, người lao động sẽ được hưởng bảo hiểm tai nạn lao động và khám giám định mức suy giảm khả năng lao động, có quyền yêu cầu bố trí công việc phù hợp.[67] Đồng thời, người lao động có quyền từ chối làm việc hoặc rời bỏ nơi làm việc khi thấy rõ nguy cơ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe mà không bị coi là vi phạm kỷ luật, miễn là báo cáo ngay cho người quản lý [68], phù hợp với quy định theo Điều 13 của Công ước ILO số 155. Quyền được bảo đảm an toàn vệ sinh lao động không chỉ giới hạn cho người lao động ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, mà người làm việc không trọn thời gian, [69]người lao động chưa đủ 15 tuổi,[70] người lao động cao tuổi,[71] hay người lao động là người khuyết tật,[72] tất cả đều được Nhà nước bảo đảm quyền được làm việc an toàn và phù hợp với đặc điểm thể chất, lứa tuổi. Việc tuân thủ pháp luật về an toàn vệ sinh lao động là trách nhiệm bắt buộc của người lao động và người sử dụng lao động.[73] Trong đó, người sử dụng lao động chịu trách nhiệm thực hiện giải pháp nhằm bảo đảm an toàn vệ sinh lao động tại nơi làm việc, còn người lao động có trách nhiệm nắm vững kiến thức, kỹ năng và chấp hành quy trình, nội quy bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.[74] Về phía người sử dụng lao động, Điều 16 Luật An toàn vệ sinh lao động tương thích với Điều 16 của Công ước ILO số 155, yêu cầu người sử dụng lao động phải bảo đảm các yếu tố môi trường (bụi, tiếng ồn, ánh sáng...) đạt quy chuẩn; máy móc, thiết bị phải được kiểm định, bảo dưỡng định kỳ; trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và tổ chức huấn luyện an toàn vệ sinh lao động cho nhân viên. Ngoài ra, người sử dụng lao động bắt buộc phải đặt biển cảnh báo tại các khu vực nguy hiểm[75] và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp[76] và để ngăn ngừa rủi ro. Kết luận Từ những cuộc đấu tranh tại Chicago năm 1886, có thể thấy quyền được lao động trong điều kiện thích hợp và thỏa đáng đã chuyển mình từ một khẩu hiệu đấu tranh thành một quyền con người cơ bản được quy định tương đối toàn diện trong luật quốc tế và pháp luật Việt Nam. Các quy định của Bộ luật Lao động và sự tham gia ngày càng sâu rộng của Việt Nam đối với các điều ước quốc tế về lao động là minh chứng rõ nét cho cam kết hội nhập sâu rộng và bền vững. Pháp luật hiện hành không chỉ dừng lại ở việc bảo đảm những nhu cầu vật chất tối thiểu như tiền lương hay thời giờ nghỉ ngơi, mà đã tiến xa hơn trong việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm và sự an toàn của người lao động. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] J. L. and Barbara Hammond, The Rise of Modern Industry (1925) page 23 [2] Phyllis Deane, The first industrial revolution (2nd edition, CUP) page 257 [3] Ban Tuyên giáo Thành uỷ TP.HCM, ‘Sự đấu tranh bất khuất của người lao động thế giới và Việt Nam’ (Trang tin Điện tử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, 26 tháng 5 2016) https://thanhuytphcm.vn/tin-tap-chi/thong-tin-tuyen-truyen-5-2016/su-dau-tranh-bat-khuat-cua-nguoi-lao-dong-the-gioi-va-viet-nam-1464248318, truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [4] Điều 387 đến Điều 426 Hoà ước Versailles. [5] Lời nói đầu Hiến chương Tổ chức Lao động Quốc tế. [6] Gerry Rodgers, Eddy Lee, Lee Swepston and Jasmien Van Daele, The ILO and the quest for social justice, 1919–2009 (International Labour Office 2009) p.129 [7] TS Chang-Hee Lee, “ILO 100 năm - Chặng đường vì Công bằng Xã hội https://www.ilo.org/sites/default/files/wcmsp5/groups/public/@asia/@ro-bangkok/@ilo-hanoi/documents/publication/wcms_716079.pdf truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [8] Điều II(a) Tuyên bố Philadelphia 1944. [9] Điều 23 Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền. [10] Điều 7 Công ước quốc tế các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá năm 1966 [11] Committee on Economic, Social, and Cultural Rights, General comment No. 20 (2009) on non-discrimination in economic, social and cultural rights, para 28, 29, 30, 32, 33 [12] Điều 2(a) Tuyên bố ILO về các Nguyên tắc cơ bản và các Quyền tại Nơi làm việc 1998 (sửa đổi, bổ sung 2022) [13] Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, ‘Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật lao động Việt Nam’ (Cổng thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam) https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=1531 truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [14] Điều thứ 58, 59 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [15] Điều thứ 101 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [16] Điều thứ 112 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [17] Điều thứ 133 Sắc lệnh số 29/SL về việc quy định những sự giao dịch về việc làm công, giữa các chủ nhân người Việt Nam hay người ngoại quốc và các công nhân Việt Nam làm tại các xưởng kỹ nghệ, hầm mỏ, thương điếm và các nhà làm nghề tự do [18] Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, ‘Tờ trình về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi)’ (Số 81/TTr-LĐTBXH), 18 tháng 11 năm 2011 [19] Công ước ILO số 182 về Các Hình thức Lao động Trẻ em Tồi tệ Nhất, Công ước ILO số 138 về Tuổi lao động tối thiểu, Công ước ILO số 111 về Phân biệt đối xử trong Lao động, Công ước ILO số 100 về Trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho cùng một công việc có giá trị ngang nhau] [20] Chính phủ, ‘Tờ trình về dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi)’ (Số 166/TTr-CP, 26 tháng 4 năm 2019) trang 3 [21] Hoàng Minh, ‘Việt Nam nội luật hóa tiêu chuẩn lao động quốc tế’ (Thời báo Tài chính Việt Nam, 18 tháng 10 năm 2023) https://thoibaotaichinhvietnam.vn/viet-nam-noi-luat-hoa-tieu-chuan-lao-dong-quoc-te-137777.html, truy cập ngày 26 tháng 04 năm 2026. [22] Điều 1(a), 2 Công ước ILO số 111 năm 1958 về về phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp. [23] Điều 3 Công ước số 156 năm 1981 về bình đẳng cơ hội và đối xử với lao động nam và nữ: trách nhiệm gia đình. [24] Điều 13 Luật Bình đẳng giới 2006. [25] Khoản 1 Điều 109 Bộ luật Lao động 1994. [26] Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Lao động 1994. [27] Khoản 1 Điều 111 Bộ luật Lao động 1994. [28] Điều 4, 135 Bộ luật Lao động 2019. [29] Điều 4, 7 Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [30][34] Điều 9 Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [31] Điều 10(g) Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [32] Khoản 3 Điều 9 Bộ luật Lao động 2019. [33] Điều 3 Công ước ILO số 190 về chấm dứt bạo lực và quấy rối. [35] Điều 35 Khoản 2 Bộ luật Lao động 2019. [36] Điều 1(b) Công ước ILO số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau. Nguyên văn : (b) the term “equal remuneration for men and women workers for work of equal value” refers to rates of remuneration established without discrimination based on sex. [37] Điều 3 Công ước ILO số 131 về ấn định lương tối thiểu. Nguyên văn: “The elements to be taken into consideration in determining the level of minimum wages shall, so far as possible and appropriate in relation to national practice and conditions, [...]” [38] Điều 4(1) Công ước ILO số 131 về ấn định lương tối thiểu. Nguyên văn : “Each Member which ratifies this Convention shall create and/or maintain machinery adapted to national conditions and requirements whereby minimum wages for groups of wage earners covered in pursuance of Article 1 thereof can be fixed and adjusted from time to time.” [39] Khoản 1 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 [40] Khoản 2 Điều 91 Bộ luật Lao động 2019 [41] Tính đến ngày bài viết được xuất bản. [42] Điều 49 Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động [43] Thu Hằng, ‘Thay đổi quan trọng về lương tối thiểu vùng từ đầu năm 2026’ (VnEconomy, 29 tháng 9 năm 2025) https://vneconomy.vn/thay-doi-quan-trong-ve-luong-toi-thieu-vung-tu-dau-nam-2026.htm truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2025. [44] Khoản 3 Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 [45] Khoản 1 Điều 136 Bộ luật Lao động 2019 [46] Khoản 1 Điều 94 Bộ luật Lao động 2019 [47] Le & Tran, ‘Các điểm đáng chú ý tại Bộ luật Lao động 2019’ (Le & Tran Law Corporation) https://letranlaw.com/vi/insights/cac-diem-dang-chu-y-tai-bo-luat-lao-dong-2019/ truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2026. [48] Khoản 1 Điều 93 Bộ luật Lao động 2019 [49] Văn bản Tóm tắt tổng quan Các quy định về thời giờ nghỉ ngơi trong thời giờ làm việc, Dự án Khung khổ Quan hệ Lao động mới (NIRF) Đoạn 5. [50] Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 [51] Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 [52] Vũ Điệp, ‘Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có thời gian làm việc cao nhất thế giới’ (VietNamNet, 29 tháng 12 năm 2023) https://vietnamnet.vn/viet-nam-thuoc-nhom-quoc-gia-co-thoi-gian-lam-viec-cao-nhat-the-gioi-2232613.html truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026. [53] Điều 2 Công ước ILO số 001 về Tuần làm việc 48 giờ. Nguyên văn : “The working hours of persons employed in any public or private industrial undertaking or in any branch thereof, other than an undertaking in which only members of the same family are employed, shall not exceed eight in the day and forty-eight in the week, [...]” [54] Khoản 2 Điều 105 Bộ luật Lao động 2019 [55] Trần H. D. Minh, '[162] Các Công ước ILO về Giờ làm việc và ngày nghỉ phép của người lao động' (IusCogens) https://iuscogens-vie.org/2019/10/27/cac-cong-uoc-ilo-ve-gio-lam-viec-va-ngay-nghi-phep-cua-nguoi-lao-dong/ truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2026. [56] Khoản 2, Khoản 3 Điều 107 Bộ luật Lao động 2019 [57] Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 và Điều 55,57 Nghị định 145/2020/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động [58] Điều 3 Công ước ILO số 132 về Ngày nghỉ được hưởng nguyên lương [59] Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 [60] Khoản 3 Điều 112 Bộ luật Lao động 2019 [61] Tính đến ngày bài viết được xuất bản. [62] Điều 16 Công ước ILO số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động [63] Điều 13 Công ước ILO số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động [64] Điều 5 Bộ luật Lao động 2019 [65] Điều 16 Bộ luật Lao động 2019 [66] Điểm c Khoản 1 Điều 6 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 [67][68] Điểm d Khoản 1 Điều 6 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 [69] Điều 32 Bộ luật Lao động 2019 [70] Điều 145 Bộ luật Lao động 2019 [71] Điều 149 Bộ luật Lao động 2019 [72] Điều 159 Bộ luật Lao động 2019 [73] Điều 132 Bộ luật Lao động 2019 [74] Điều 134 Bộ luật Lao động 2019 [75] Điều 16 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015 [76] Điều 78 Luật An toàn vệ sinh lao động 2015

  • [83] NHÃN HIỆU TRONG LĨNH VỰC THỂ THAO - THỰC TIỄN THẾ GIỚI TỚI VIỆT NAM

    Tác giả: Nguyễn Văn Hiền, Trương Hoàng Khôi Nguyên, Nguyễn Hà Minh Thu Lời mở đầu: Nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 năm 2026 với chủ đề “Sở hữu trí tuệ và thể thao: Sẵn sàng - Bắt đầu - Đổi mới” do World Intellectual Property Organization (WIPO) công bố, chủ đề thể thao được lựa chọn trong bối cảnh năm nay diễn ra nhiều sự kiện thể thao lớn mang tầm quốc tế, tiêu biểu là World Cup, qua đó làm nổi bật hơn vai trò của thương mại hóa và quyền sở hữu trí tuệ trong ngành. Thực tiễn cho thấy các thương hiệu thể thao như Nike hay Adidas có giá trị hàng chục tỷ USD, trong khi các câu lạc bộ như Manchester United hay Real Madrid khai thác nhãn hiệu như nguồn doanh thu cốt lõi. Cùng với đó là sự gia tăng tranh chấp về logo, tên gọi và quyền hình ảnh vận động viên. Từ bối cảnh này, bài viết tập trung phân tích nhãn hiệu trong thể thao như một khía cạnh tiêu biểu của sở hữu trí tuệ hiện đại. Từ khóa: Sở hữu trí tuệ và thể thao: Sẵn sàng - Bắt đầu - Đổi mới (WIPO 2026), Bảo hộ nhãn hiệu thể thao, Xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực thể thao, nhãn hiệu thể thao tại Việt Nam 1. Cơ sở lý luận về nhãn hiệu trong thể thao hiện nay 1.1 Khái niệm về nhãn hiệu và đặc điểm của nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao Ở nhiều nơi trên thế giới, điển hình tại Hoa Kỳ, nhiều giải đấu thể thao chuyên nghiệp, đội thể thao lớn trong các trường đại học và các tổ chức, liên đoàn thể thao đã sớm sử dụng nhãn hiệu để tạo ra những sản phẩm ăn theo và bán ra thị trường, thu về được nguồn lợi khổng lồ.[1] Không chỉ dừng lại ở những nhãn hiệu tập thể, công chúng cũng không còn xa lạ với những ngôi sao thể thao đăng ký hình ảnh hoặc tên của họ trở thành nhãn hiệu.[2] Sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp thể thao toàn cầu đã làm thay đổi cách nhìn nhận về các dấu hiệu nhận diện, từ những yếu tố mang tính biểu tượng đơn thuần trở thành tài sản thương mại có giá trị cao, đặc biệt trong các sự kiện thể thao lớn gắn liền với hoạt động tài trợ và khai thác thương mại.[3] Nhãn hiệu đã trở thành một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp thể thao.[4] Nhãn hiệu vừa có chức năng thiết yếu là đảm bảo tính xác thực của hàng hoá, giúp khách hàng phân biệt được giữa các sản phẩm cạnh tranh lẫn nhau,[5] vừa là phương thức giúp các chủ thể trong lĩnh vực thể thao thúc đẩy và duy trì tính trung thành của người hâm mộ, những khách hàng chính của ngành công nghiệp này thông qua việc tăng bộ nhận diện, tính kết nối về cảm xúc giữa người hâm mộ và chủ thể liên quan.[6] Một số ví dụ điển hình chính là trường hợp của vận động viên tennis nổi tiếng Roger Federer, vận động viên này đã đăng ký tên mình là nhãn hiệu chữ (word mark) tại EU cho các nhóm hàng hóa như trò chơi, đồ chơi, dụng cụ thể dục và thể thao.[7] Sự phát triển của ngành công nghiệp thể thao kèm theo nguồn lợi khổng lồ đã dẫn tới ngày càng nhiều quốc gia quan tâm tới lĩnh vực thể thao và đã và bắt đầu đưa quyền sở hữu trí tuệ thể thao vào các chiến lược phát triển quốc gia của mình,[8] nhất là trong bối cảnh bùng nổ công nghệ AI làm tăng những thách thức về sở hữu trí tuệ trong ngành công nghiệp thể thao.[9] Mặc dù pháp luật từng nước có những định nghĩa riêng về nhãn hiệu[10] nhưng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, việc xây dựng khung pháp lý phù hợp với những tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi trên quốc tế chính là điều kiện cơ bản thuận lợi để doanh nghiệp nước ngoài và trong nước tiếp cận thị trường trong và ngoài nước, đồng thời tăng cao giá trị cho các doanh nghiệp.[11] Để đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, do tính chất đặc thù, việc bảo hộ nhãn hiệu thường được xem xét riêng theo từng quốc gia, tuy nhiên một đặc điểm quan trọng thường xuyên được pháp luật các nước áp dụng chính là tính phân biệt của nhãn hiệu.[12] Trong khuôn khổ pháp lý quốc tế, đặc biệt là Hiệp định TRIPS (Agreement on Trade-Related Aspects of Intellectual Property Rights) đã xác lập một nguyên tắc nền tảng về nhãn hiệu: “bất kỳ dấu hiệu nào, hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của các dấu hiệu, có khả năng phân biệt hàng hóa và dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa và dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều phải đủ điều kiện để được đăng ký làm nhãn hiệu, với điều kiện là chúng có thể nhận biết được bằng mắt thường. Những dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ ngữ bao gồm tên riêng, chữ cái, chữ số, các yếu tố hình tượng và sự kết hợp màu sắc cũng như bất kỳ sự kết hợp nào của các dấu hiệu đó, đều phải đủ điều kiện để được đăng ký làm nhãn hiệu”.[13] Theo đó, nhãn hiệu là sự kết hợp của những dấu hiệu (i) có tính phân biệt, tức là không chỉ mang tính thông tin đơn thuần, đảm bảo đạo đức và trật tự công cộng, và cần có ý định sử dụng nhãn hiệu một cách trung thực (bona fide) trong thương mại;[14] và (ii) có thể nhận biết được bằng mắt thường, tuy nhiên quy định này trong một số trường hợp được mở rộng thông qua các giác quan khác theo các điều kiện cụ thể.[15] Quy định trong TRIPS đã tạo ra một nền tảng pháp lý linh hoạt, cho phép mở rộng phạm vi bảo hộ sang nhiều dạng dấu hiệu khác nhau trong thực tiễn thể thao. Trong lĩnh vực thể thao, nhãn hiệu có thể được phân thành hai nhóm chính là nhãn hiệu truyền thống và nhãn hiệu phi truyền thống.[16] Nhãn hiệu truyền thống bao gồm các dấu hiệu quen thuộc như tên gọi, logo, biểu tượng, khẩu hiệu hoặc tên giải đấu, chẳng hạn như logo của Nike hay biệt danh “CR7” của Cristiano Ronaldo.[17] Trong khi đó, nhãn hiệu phi truyền thống phản ánh xu hướng mở rộng của bảo hộ nhãn hiệu trong thể thao, bao gồm nhãn hiệu âm thanh (nhạc hiệu C1), nhãn hiệu màu sắc (màu sắc đặc trưng của các CLB), nhãn hiệu chuyển động tiêu biểu như động tác ăn mừng của Usain Bolt hay biểu tượng “Jumpman” của Michael Jordan.[18] Sự phân loại này cho thấy nhãn hiệu trong thể thao không chỉ dừng lại ở các dấu hiệu nhận diện truyền thống mà còn mở rộng sang những yếu tố mang tính cá nhân hóa và cảm xúc, góp phần gia tăng giá trị thương mại và sức ảnh hưởng của các chủ thể thể thao. Về cơ chế bảo hộ, nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao được bảo vệ thông qua các hệ thống đa tầng. Ở cấp độ quốc tế, hệ thống đăng ký nhãn hiệu thông qua Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới, đặc biệt là Hệ thống Madrid, cho phép chủ sở hữu nộp một đơn duy nhất để yêu cầu bảo hộ tại hơn 130 quốc gia, từ đó giảm chi phí đáng kể và thủ tục so với việc đăng ký riêng lẻ tại từng quốc gia.[19] Ở cấp độ khu vực, điển hình như tại Liên minh Châu Âu EU đã sớm có khung pháp lý tương đối hoàn thiện về đăng ký nhãn hiệu và cơ chế bảo hộ nhãn hiệu, tuy nhiên các sáng kiến riêng lẻ của các quốc gia thành viên có thể gây ra xung đột với khung pháp lý chung của EU.[20] Ở cấp độ quốc gia, pháp luật trong nước đóng vai trò trực tiếp trong việc xác lập và thực thi quyền nhãn hiệu, đặc biệt trong việc xử lý hành vi xâm phạm như sản xuất hàng giả, sử dụng logo bóng đá trái phép trong các sự kiện thể thao.[21] Bên cạnh đó có tồn tại một số cơ chế bảo hộ đặc thù tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể ví dụ như Hiệp định Nairobi về bảo hộ Biểu tượng Olympic.[22] Theo hiệp định này, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ từ chối đăng ký và cấm sử dụng biểu tượng Olympic cho mục đích thương mại nếu không có sự cho phép của Uỷ ban Olympic Quốc tế,[23] biểu tượng 5 vòng tròn Olympic được bảo vệ chặt chẽ trên toàn cầu, việc sử dụng trái phép trong quảng cáo hoặc kinh doanh đều có thể bị xử lý nghiêm ngặt. 1.2. Điều kiện đăng ký và phạm vi bảo hộ nhãn hiệu trong thể thao 1.2.1. Thủ tục đăng đăng ký và phạm vi bảo hộ Ngành công nghiệp hàng thể thao (giống như các ngành hàng tiêu dùng khác), đặc biệt phụ thuộc vào sự bảo hộ nhãn hiệu mạnh mẽ để đấu tranh hiệu quả chống lại các hoạt động làm hàng giả trên mạng và thị trường truyền thống.[24] Từ khái niệm nhãn hiệu đã nêu, có thể khẳng định rằng tính phân biệt là điều kiện tiên quyết để được bảo hộ. Theo đó, các dấu hiệu thiếu khả năng phân biệt sẽ không đủ điều kiện đăng ký, qua đó đặt ra những thách thức đáng kể đối với một số nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao.[25] Trước hết, để được bảo hộ, một dấu hiệu không được phép mang tính mô tả đơn thuần hoặc thiếu tính phân biệt. Các cơ quan quản lý sẽ từ chối đăng ký đối với những khẩu hiệu quảng cáo hoặc các cụm từ mang tính chất thông thường, thiếu khả năng thực hiện chức năng chỉ dẫn nguồn gốc thương mại. Cần chú ý rằng các nhãn hiệu phải tuân thủ các quy định chung của quốc gia nộp đơn, bao gồm cả việc đảm bảo không gây hiểu lầm hoặc vi phạm các giá trị đạo đức xã hội.[26] Đặc biệt, các nhãn hiệu liên quan đến địa danh địa lý thường không bị coi là gây nhầm lẫn về nguồn gốc sản xuất (ví dụ: đồ thể thao của đội tuyển quốc gia không nhất thiết phải được sản xuất tại quốc gia đó).[27] Tiếp đến, quyền sở hữu nhãn hiệu gắn liền với tên tuổi hoặc hình ảnh cá nhân thường là trọng tâm của những thỏa thuận thương mại phức tạp. Vì vậy, để tránh những tranh chấp về quyền tài sản trí tuệ khi thỏa thuận chấm dứt, các bên cần làm rõ quy định về quyền sở hữu và số phận của nhãn hiệu ngay từ giai đoạn ký kết hợp đồng.[28] Cuối cùng, do đặc thù ngành thể thao là môi trường dễ phát sinh tình trạng hàng giả, hàng nhái, các chủ thể quyền cần xây dựng một chiến lược bảo hộ mạnh mẽ, kết hợp hài hòa giữa việc đăng ký tại các cơ quan quốc gia và tận dụng các hệ thống quốc tế, điển hình là hệ thống Madrid nhằm thực thi quyền sở hữu trí tuệ một cách hiệu quả trên phạm vi toàn cầu.[29] 2. Thực trạng xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao và một số vụ kiện tiêu biểu 2.1. Thực trạng xâm phạm nhãn hiệu Xâm phạm nhãn hiệu xảy ra trong ngành công nghiệp thể thao khi ai đó sử dụng, chỉnh sửa, phân phối, sao chép hoặc bán logo, nhãn mác, hàng hóa và cụm từ mà không có sự cho phép của chủ sở hữu nhãn hiệu, và hoạt động này khiến người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc của các sản phẩm, mặt hàng hoặc hình ảnh mang nhãn hiệu đó.[30] Trên thực tế, ngành thể thao với đặc thù thương hiệu gắn liền với cảm xúc, lòng trung thành của người hâm mộ và giá trị tài trợ khổng lồ, đã trở thành một trong những lĩnh vực bị xâm phạm nhãn hiệu nghiêm trọng nhất toàn cầu.[31] Có hai hiện tượng xâm phạm phổ biến: sử dụng trái phép biểu tượng hoặc logo thể thao và giả mạo các mặt hàng có nhãn hiệu thể thao. Sử dụng trái phép biểu tượng và logo thể thao là hình thức vi phạm có tính phổ biến cao. Logo và biểu tượng của các câu lạc bộ, liên đoàn thể thao lớn mang giá trị thương mại cực kỳ cao, thường xuyên xuất hiện trên hàng hóa không được cấp phép như áo phông, mũ nón, túi xách, hay trong các chiến dịch quảng cáo thương mại trái phép. Bên cạnh đó, đối với thực trạng hàng giả, các thương hiệu thể thao nổi tiếng như Nike, Adidas, Puma, hay nhãn hiệu của các câu lạc bộ lớn như Manchester United, Real Madrid và FC Barcelona liên tục trở thành mục tiêu của các cơ sở sản xuất hàng giả quy mô lớn. Một nghiên cứu gần đây của Văn phòng Hài hòa Thị trường Nội bộ (OHIM) được công bố thông qua Đài quan sát về Vi phạm Quyền sở hữu trí tuệ của EU cho thấy việc bán hàng hoá giả liên quan thể thao gây thiệt hại cho các nhà sản xuất hợp pháp tại Liên minh Châu Âu 500 triệu euro mỗi năm.[32] Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của internet và công nghệ 4.0, nhiều thách thức mới liên quan đến bảo vệ nhãn hiệu thể thao đã xuất hiện. Nổi bật nhất là hiện tượng chiếm đoạt tên miền (cybersquatting)[33]. Không chỉ nhắm vào các thương hiệu thể thao lớn, hành vi này còn nhắm trực tiếp đến các vận động viên khi những kẻ xấu đăng ký trước tên miền chứa tên của các vận động viên nổi tiếng - những người có độ nhận diện và giá trị thương hiệu cá nhân cao nhằm buộc họ phải trả một khoản tiền lớn để mua lại tên miền đó.[34] Năm 2023, WIPO ghi nhận kỷ lục mới với gần 6.200 khiếu nại liên quan đến tên miền, tăng hơn 7% so với năm 2022 và tăng 68% kể từ khi đại dịch COVID-19 bắt đầu, phản ánh xu hướng vi phạm ngày càng gia tăng trong không gian số.[35] Hậu quả của tình trạng xâm phạm nhãn hiệu trong ngành thể thao là đa chiều và nghiêm trọng. Trong lĩnh vực thể thao, đối với các nhãn hàng và tổ chức thể thao, thiệt hại về doanh thu trực tiếp khiến các nhà sản xuất hợp pháp phải chịu gánh nặng kép: vừa mất thị phần, vừa phải gia tăng đáng kể chi phí thực thi pháp lý để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.[36] Ngoài ra, sự xuất hiện tràn lan của hàng giả làm suy giảm giá trị thương hiệu và lòng tin của người tiêu dùng - những tài sản vô hình mà các tổ chức thể thao và thương hiệu đã dày công xây dựng trong nhiều thập kỷ. Khi người hâm mộ mua phải hàng giả kém chất lượng, trải nghiệm tiêu cực có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức thương hiệu tổng thể và mối quan hệ gắn kết giữa câu lạc bộ, liên đoàn với cộng đồng người hâm mộ. Đối với vận động viên, xâm phạm nhãn hiệu gây ra những tổn thất đặc thù và ngày càng nghiêm trọng trong bối cảnh thương mại hóa thể thao hiện đại. Tên tuổi, hình ảnh và các yếu tố định danh cá nhân của vận động viên, vốn là tài sản thương mại cốt lõi để ký kết hợp đồng tài trợ và phát triển dòng sản phẩm riêng thường xuyên bị các bên thứ ba sử dụng trái phép trên hàng hóa, nền tảng số và chiến dịch truyền thông mà không có sự đồng ý hay đền bù thỏa đáng.[37] Hơn hết, tình trạng xâm phạm nhãn hiệu diễn ra rộng rãi và dai dẳng làm suy yếu nền tảng pháp lý của toàn bộ hệ sinh thái thương mại thể thao. 2.2. Một số vụ kiện tiêu biểu 2.2.1. Tranh chấp nhãn hiệu trong thể thao Arsenal FC v. Reed (Tòa án Công lý EU) Vụ việc Arsenal FC v. Reed là tiền lệ quan trọng về quyền sở hữu trí tuệ trong ngành thể thao.[38] Ông Matthew Reed đã bán khăn quàng và các mặt hàng lưu niệm có in logo của Arsenal FC tại các quầy hàng bên ngoài sân vận động mà không có sự cho phép từ phía câu lạc bộ.[39] Mặc dù ông Reed có đặt bảng thông báo xác nhận hàng hóa không phải là sản phẩm chính hãng, Arsenal FC vẫn khởi kiện với cáo buộc xâm phạm nhãn hiệu đã đăng ký.[40] Tranh chấp xoay quanh việc liệu hành vi này có vi phạm Điều 5(1)(a) của Chỉ thị 89/104/EEC hay không. Tòa án Công lý EU (ECJ) đã làm rõ rằng chức năng thiết yếu của nhãn hiệu là bảo đảm nguồn gốc của hàng hóa để người tiêu dùng có thể phân biệt sản phẩm giữa các doanh nghiệp.[41] Tòa khẳng định quyền của chủ sở hữu nhãn hiệu là tuyệt đối đối với các dấu hiệu trùng khớp được sử dụng trong thương mại.[42] Phán quyết cuối cùng của Tòa án đã bác bỏ lập luận cho rằng các logo chỉ được người hâm mộ xem là "biểu tượng của sự trung thành" chứ không phải "chỉ dẫn nguồn gốc".[43] Tòa xác định rằng việc sử dụng logo câu lạc bộ tạo ra ấn tượng sai lệch về mối liên hệ thương mại, gây ảnh hưởng đến uy tín và chất lượng mà câu lạc bộ kiểm soát.[44] Kết quả là, hành vi bán hàng mang logo câu lạc bộ mà không được phép bị coi là xâm phạm nhãn hiệu, qua đó củng cố quyền bảo vệ thương hiệu tuyệt đối cho các câu lạc bộ thể thao.[45] 2.2.2. FIFA kiện Zamanda Garcia (WIPO Case No. D2023-2357) Vụ kiện phát sinh khi Liên đoàn Bóng đá Quốc tế (FIFA) phát hiện tên miền bị đăng kí và sử dụng bởi một cá nhân không có thẩm quyền là Zamanda Garcia, tại Hoa Kỳ.[46] Nguyên đơn lập luận rằng tên miền tranh chấp chứa toàn bộ nhãn hiệu FIFA, việc thêm “w”, “c” và “26” (viết tắt của World Cup 2026) là không đủ để phân biệt. Hơn nữa, phía bị đơn không được FIFA uỷ quyền và không có liên quan đến tên miền này.[47] Đặc biệt, do nhãn hiệu FIFA là nhãn hiệu nổi tiếng toàn cầu, nguyên đơn cho rằng khó có khả năng Bị đơn không biết đến FIFA khi đăng kí tên miền.[48] Do đó tên miền này đã được dùng để trục lợi tài chính thông qua các đường link quảng cáo.[49] Với các bằng chứng xác thực, Hội đồng trọng tài đã đưa ra quyết định có lợi cho FIFA. Hội đồng khẳng định tên miền có sự tương tự gây nhầm lẫn cao, Bị đơn hoàn toàn không có quyền lợi hợp pháp và việc đăng ký, sử dụng tên miền này xuất phát từ ý đồ xấu nhằm trục lợi tài chính.[50] Theo đó, vì các lý do nêu trên, theo quy định tại đoạn 4(i) của Chính sách và Điều 15 của Quy tắc Giải quyết Tranh chấp Tên miền Thống Nhất, Hội đồng ra lệnh chuyển giao tên miền cho Nguyên đơn.[51] Vụ việc này tiếp tục là tiền lệ quan trọng khẳng định rằng: bất kỳ hình thức nào nhằm lợi dụng tên miền để khai thác trái phép danh tiếng của các nhãn hiệu nổi tiếng đều sẽ bị xử lý chính đáng. 3. Liên hệ với Việt Nam 3.1. Khung pháp lý về bảo hộ nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam Tại Việt Nam, khung pháp lý về nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao về cơ bản đã tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là hệ thống của Hiệp định TRIPS và thực tiễn bảo hộ của nhiều quốc gia phát triển. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo hộ nhãn hiệu nói chung và trong lĩnh vực thể thao nói riêng được xây dựng dựa trên nền tảng Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2025), cùng với hệ thống văn bản hướng dẫn chi tiết như Thông tư 23/2023/TT-BKHCN đã định hình nên các tiêu chuẩn về điều kiện bảo hộ nhãn hiệu. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tham gia các hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP và EVFTA giúp bảo vệ các nhãn hiệu thể thao, dù là thương hiệu nội địa hay thương hiệu quốc tế đều được đối xử công bằng theo các tiêu chuẩn chung.[52] Đặc biệt, tính ứng dụng của khung pháp lý này được thể hiện rõ qua hai khía cạnh chính: Thứ nhất, đó là tính bao quát trong việc xác lập quyền đối với các tài sản trí tuệ trong thể thao. Trong lĩnh vực thể thao, đối tượng bảo hộ không chỉ giới hạn ở logo của CLB mà còn mở rộng đến tên giải đấu, linh vật…[53] Việc đăng ký nhãn hiệu yêu cầu sự chuẩn xác cao trong việc áp dụng Bảng phân loại Nice[54]. Các tổ chức thể thao buộc phải thực hiện chiến lược bảo hộ đa nhóm, phân tách rõ ràng giữa hàng hoá vật lý như Nhóm 25 về trang phục thi đấu, Nhóm 28 về phụ kiện thể thao hay nhóm dịch vụ chuyên biệt như tổ chức giải đấu, huấn luyện thể thao thuộc Nhóm 41 và Nhóm 35 về quảng cáo, quản lý hình ảnh thương mại. Sự phân loại này là cơ sở then chốt để xác lập quyền, ngăn chặn các hành vi sử dụng trái phép hình ảnh của các đơn vị thể thao.[55] Thứ hai, cơ chế phòng vệ nghiêm ngặt chống lại các hành vi dụng ý xấu. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam đã siết chặt các quy định nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ nhãn hiệu, nơi mà các bên thứ ba cố tình đăng ký trước tên hoặc biểu tượng của các CLB, liên đoàn thể thao để trục lợi. Cụ thể, Điều 96 quy định về việc huỷ bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với các nhãn hiệu được đăng ký với dụng ý xấu hoặc không trung thực.[56] Ngoài ra, Điều 74 và Điều 75 cũng tạo rã rào cản pháp lý ngăn chặn ngay từ đầu khâu thẩm định đối với các đơn đăng ký có dấu hiệu vi phạm đạo đức kinh doanh, từ đó giúp các tổ chức thể thao bảo toàn giá trị tài sản trí tuệ trên thị trường.[57] 3.2. Thực trạng xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam Trong những năm gần đây, tình trạng xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam diễn ra ngày càng phổ biến với nhiều hình thức khác nhau, trong đó nổi bật nhất là hành vi sản xuất và buôn bán hàng giả mang nhãn hiệu thể thao.[58] Vào năm 2025, lực lượng chức năng tại Hà Nội đã phát hiện một cơ sở sản xuất hơn 16.000 sản phẩm quần áo thể thao giả mạo nhãn hiệu, cho thấy quy mô vi phạm đã vượt xa mức nhỏ lẻ thông thường.[59] Trong khi đó, những bộ quần áo chính hãng có giá dao động khoảng 1,5 triệu đồng/chiếc đã bị các đối tượng làm giả với giá bán 13.000 đồng/chiếc từ xưởng. Tức là chưa bằng 1/100 giá trị hàng thật.[60] Một vụ việc khác, hơn 35.000 bộ quần áo thể thao giả các nhãn hiệu như Nike, Adidas đã bị thu giữ với giá trị ước tính lên tới hàng tỷ đồng.[61] Hơn nữa, hành vi sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhằm lẫn với nhãn hiệu thể thao cũng diễn ra phổ biến trong kinh doanh, đặc biệt đối với logo và tên gọi của các CLB hoặc giải đấu.[62] Các con số này cho thấy hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao không còn mang tính cá nhân nhỏ lẻ mà đã phát triển thành các đường dây sản xuất, phân phối có tổ chức. Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn với nhãn hiệu thể thao cũng diễn ra khá phổ biến. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp đã khai thác các yếu tố nhận diện như tên gọi, logo nhằm mục đích thương mại mà không được cho phép. Điển hình, trong vụ việc Liên đoàn Bóng đá Việt Nam phản đối việc sử dụng trái phép hình ảnh đội tuyển Việt Nam, Liên đoàn đã chính thức lên tiếng về việc các tổ chức, cá nhân sử dụng hình ảnh của đội tuyển Việt Nam trong quảng cáo và kinh doanh mà chưa được sự cho phép, dẫn đến gây nhầm lẫn về mối quan hệ tài trợ.[63] Cuối cùng, sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử và mạng xã hội đã góp phần làm gia tăng đáng kể phạm vi và mức độ của hành vi xâm phạm nhãn hiệu thể thao. Theo báo cáo của Bộ Công Thương Việt Nam, một tỷ lệ lớn hàng hoá giả mạo nhãn hiệu được tiêu thụ thông qua các nền tảng trực tuyến, trong đó bao gồm nhiều sản phẩm thể thao như áo đấu, giày thể thao và phụ kiện.[64] Việc kinh doanh trên môi trường số sẽ khó kiểm soát nguồn gốc hàng hoá và phạm vi tiếp cận rộng đã khiến cho số lượng vi phạm gia tăng nhanh chóng và gây khó khăn cho công tác thực thi pháp luật.[65] Từ thực tiễn trên có thể thấy, các hành vi xâm phạm nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao không chỉ đa dạng về hình thức mà còn ngày càng tinh vi và có tổ chức. Tuy nhiên, việc xử lý các hành vi này vẫn gặp nhiều khó khăn, xuất phát từ mức chế tài chưa đủ sức răn đe, khiến hành vi vi phạm vẫn có lợi nhuận cao so với rủi ro pháp lý. Bên cạnh đó, sự dịch chuyển sang môi trường thương mại điện tử khiến việc xác định chủ thể vi phạm và truy vết nguồn hàng trở nên phức tạp. Đồng thời, vai trò của các bên trung gian như sàn thương mại điện tử trong việc kiểm soát và gỡ bỏ sản phẩm vi phạm vẫn chưa thực sự hiệu quả và đồng bộ. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực thi quyền nhãn hiệu trong lĩnh vực thể thao tại Việt Nam. 3.2. Gợi mở giải pháp hoàn thiện Trong bối cảnh các hành vi xâm phạm quyền sở hữu đối với nhãn hiệu ngày càng chuyển mạnh mẽ sang môi trường số, việc hoàn thiện khung pháp lý và các cơ chế thực thi khung pháp luật theo hướng nhanh chóng, linh hoạt và hiệu quả yêu cầu tất yếu. Thứ nhất, hoàn thiện pháp lý theo hướng tăng hiệu lực thực thi trong môi trường số. Trọng tâm không chỉ nằm ở việc nâng mức xử phạt mà là thiết kế lại cơ chế xử lý phù hợp với tốc độ xâm phạm trong lĩnh vực thể thao, đặc biệt trên nền tảng số. Cần bổ sung cơ chế xử lý nhanh đối với hành vi vi phạm rõ ràng, cho phép cơ quan có thẩm quyền ra quyết định gỡ bỏ nội dung, khóa gian hàng hoặc chặn truy cập trong thời gian ngắn. Đồng thời, mở rộng phạm vi áp dụng các quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời tại Điều 206 và Điều 207 Luật SHTT theo hướng bao quát cả đối tượng xâm phạm số hóa, nhằm đảm bảo khả năng can thiệp kịp thời đối với hành vi xâm phạm nhãn hiệu thể thao trong môi trường trực tuyến. Thứ hai, tăng cường trách nhiệm của các nền tảng trung gian trong kiểm soát xâm phạm. Trong thực tiễn, phần lớn hành vi vi phạm nhãn hiệu thể thao được thực hiện thông qua sàn thương mại điện tử, mạng xã hội và nền tảng quảng cáo. Do đó, cần chuyển từ cơ chế hợp tác tự nguyện sang cơ chế trách nhiệm pháp lý rõ ràng hơn, theo đó các nền tảng phải thực hiện nghĩa vụ gỡ bỏ nội dung vi phạm trong thời hạn nhất định khi nhận được thông báo hợp lệ. Đồng thời, cần thiết lập cơ chế xác minh người bán đối với hàng hóa thể thao mang nhãn hiệu và tăng cường ứng dụng công nghệ nhận diện tự động để phát hiện logo, tên câu lạc bộ hoặc dấu hiệu bị xâm phạm. Thứ ba, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi tiêu dùng trong lĩnh vực thể thao. Một trong những nguyên nhân khiến tình trạng xâm phạm nhãn hiệu phổ biến là nhu cầu lớn đối với sản phẩm thể thao giá rẻ gắn với thương hiệu quốc tế. Do đó, cần triển khai các chiến dịch truyền thông theo mùa giải thể thao lớn, kết hợp với hoạt động tại sân vận động và nền tảng số nhằm hướng dẫn phân biệt hàng thật – hàng giả. Đồng thời, cần đưa nội dung về sở hữu trí tuệ trong thể thao vào giáo dục và tăng cường vai trò của vận động viên, câu lạc bộ trong truyền thông, qua đó hình thành văn hóa tiêu dùng tôn trọng nhãn hiệu và ủng hộ sản phẩm chính hãng. Kết luận: Tóm lại, trong bối cảnh ngành thể thao ngày càng được thương mại hóa sâu rộng, nhãn hiệu đã trở thành một tài sản chiến lược, góp phần định hình giá trị thương hiệu và sức cạnh tranh của các chủ thể. Tuy nhiên, thực trạng xâm phạm nhãn hiệu, đặc biệt trong môi trường số, đang đặt ra nhiều thách thức nghiêm trọng đối với công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại cả bình diện quốc tế và Việt Nam. Nhân Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới 26/4 năm nay với chủ đề “Sở hữu trí tuệ và thể thao: Sẵn sàng - Bắt đầu - Đổi mới”, có thể thấy rõ hơn yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi, nhằm bảo vệ sáng tạo và thúc đẩy phát triển bền vững của ngành thể thao. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Avi Friedman, ‘Protection of Sports Trademarks’ (1995) 15 Loyola of Los Angeles Entertainment Law Review 3. [2] B Hugenholtz and others (eds), Intellectual Property and Sports (Kluwer Law International 2021) 113. [3] Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ‘Sở hữu trí tuệ định hình giá trị ngành công nghiệp thể thao toàn cầu’ , truy cập ngày 20/4/2026. [4] Suji Kim and John Grady, ‘Artificial Intelligence and Trademark Challenges in the Sport Industry’ (2026) 36(1) Journal of Legal Aspects of Sport 57. [5] như trên, đoạn 2. [6] như trên, đoạn 2. [7] như trên, đoạn 4. [8] Svitlana Iasechko and others, 'Legal Regulation of Intellectual Property in Sports' (2022) 11 SPORT TK-EuroAmerican Journal of Sports Sciences. [9] Mark Conrad, ‘Non-Fungible Tokens, Sports, and Intellectual Property Law Issues: A Case Study Applying Copyright, Trademark, and Right of Publicity Law to a Non-Traditional Ownership Vehicle’ (2022) 32 Journal of Legal Aspects of Sport 132. [10] Nguyễn Xuân Quang, Lê Nhật Hồng, ‘Thực tiễn quy định về bảo hộ nhãn hiệu phi truyền thống tại Việt Nam và một số kiến nghị’ [2025] 04(188) Tạp chí Khoa học Pháp lý Việt Nam. [11] Hà Thị Nguyệt Thu, ‘Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với nhãn hiệu trong kinh tế thị trường’ [2013] 6 Tạp chí Lý luận Chính trị. [12] như trên, đoạn 2. [13] Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1994, có hiệu lực ngày 1 tháng 1 năm 1995) Điều 15. [14] Như trên, Annie Clement, ‘Intellectual Property and the Media: An Examination of Copyright, Trademark, and Right of Publicity in Sport’ (2011) 4 International Journal of Sport Communication 82. [15] Xem thêm Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) [16] ‘Trademarks in Sports: The Role of Intellectual Property in Brand Building’ (IP Tech Insider, 9 January 2026) , truy cập ngày 20/4/2026. [17] như trên, đoạn 16. [18] như trên, đoạn 16. [19] Nghị định thư liên quan đến Thỏa ước Madrid về đăng ký quốc tế nhãn hiệu (thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1989, có hiệu lực ngày 1 tháng 12 năm 1995) Điều 2 và Điều 3. [20] Thomas Margoni, ‘The Protection of Sports Events in the EU: Property, Intellectual Property, Unfair Competition and Special Forms of Protection’ (2016) 47 IIC 386. [21] Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022) về các hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu; và Điều 226 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp. [22] World Intellectual Property Organization, ‘Intellectual Property Powers Sports’ truy cập ngày 25/4/2026. [23] như trên, đoạn 22. [24] World Intellectual Property Organization, Jochen M Schaefer, ‘Clubbing together to tackle the illegal trade in sporting goods’ (WIPO Magazine, tháng 11 năm 2016). [25] Reuters Staff, ‘Adidas loses EU bid to extend three-stripe trademark’ (Reuters, ngày 19 tháng 6 năm 2019) truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2026. [26] Pro-Football, Inc. v. Blackhorse, 709 F App’x 182, 183–84. [27] Markenrechtlicher Schutz für den Deutschen Fußball-Bund (DFB), CaS 2017, 346. [28] Jacques de Werra, Reference Guide to Sustaining Sport and its Development through Intellectual Property Rights (World Intellectual Property Organization 2016). [29] như trên. [30] Red Points, ‘The impact of trademark infringement in the sports industry’ (Red Points Blog, 8 November 2023) https://www.redpoints.com/blog/trademark-infringement-in-sports, truy cập ngày 23/4/2026. [31] World Intellectual Property Organization, ‘Intellectual Property and Sports: Tracing the Connections’ (World Intellectual Property Day 2019) https://www.wipo.int/en/web/ipday/2019/ip_sports, truy cập ngày 23/4/2026. [32] EU Observatory, ‘The economic cost of IPR infringement in sports goods’, worldipreview.com, 1 June 2012, last viewed 21 September 2015, https://oami.europa.eu/ohimportal/en/web/observatory/ip-infringements_sports-goods. [33] Chiếm đoạt tên miền (Cybersquatting) là "hành vi đặt trước một tên miền trên Internet, đặc biệt là tên miền có thể liên quan đến nhãn hiệu của một công ty, và sau đó tìm cách kiếm lợi nhuận bằng cách bán hoặc cấp phép sử dụng tên miền đó cho công ty có quyền lợi trong việc được nhận diện bởi tên miền đó." [34] Barret R. Arthur, Always Protect Your Brand: Trademark Infringement Protection for Athletes using Social Media Sites, 10 DePaul J. Sports L. & Contemp. Probs. (2014) Available at: https://via.library.depaul.edu/jslcp/vol10/iss1/5, 84. [35] WIPO Arbitration and Mediation Center, ‘Record Number of Domain Name Cases filed with WIPO in 2023’. Truy cập tại: https://www.wipo.int/amc/en/domains/caseload.html. [36] American Marketing Association (2018), “The Cost of Defending Your Brand in Court” - ghi nhận hơn 3.000 vụ kiện vi phạm nhãn hiệu được nộp tại tòa án liên bang Hoa Kỳ mỗi năm, chi phí theo đuổi mỗi vụ từ 375.000 đến 2 triệu USD. Truy cập tại: https://www.ama.org/2018/09/12/hands-off-my-brand-the-financial-consequences-of-protecting-brands-through-trademark-infringement-lawsuits/. Xem thêm: U.S. IPR Center, “IPR Center seizes $97.8M in counterfeit sports merchandise during annual Operation Team Player”. Truy cập tại: https://www.ice.gov/news/releases/ipr-center-seizes-978m-counterfeit-sports-merchandise-during-annual-operation-team. [37] UpCounsel, “Sports Trademarks and Brand Protection in Athletics” (cập nhật 2025): nhãn hiệu thể thao bảo vệ các yếu tố định danh của vận động viên, đội và liên đoàn; hành vi vi phạm trực tiếp gây thiệt hại giá trị thương mại của hợp đồng tài trợ và hàng hóa. Truy cập tại: https://www.upcounsel.com/sport-trademarks. Xem thêm: World Cup Alerts, “Intellectual Property Rights for Professional Athletes: Protecting Your Name, Image, and Brand”. Truy cập tại: https://worldcupalerts.net/article/intellectual-property-and-trademark-rights-for-athletes. [38] Arsenal Football Club plc v Matthew Reed, Case C-206/01, Judgment of the Court (Fifth Chamber) of 12 November 2002, ECLI:EU:C:2002:651, đoạn 1, 2. [39] như trên, đoạn 15, 16. [40] như trên, đoạn 17, 19. [41] như trên, đoạn 48. [42] như trên, đoạn 50. [43] như trên, đoạn 61. [44] như trên, đoạn 68. [45] như trên đoạn 62. [46] Fédération Internationale de Football Association (FIFA) v Zamanda Garcia WIPO Case No D2023-2357 (WIPO Arbitration and Mediation Center, 2023), p 4. [47] như trên, p 5(1). [48] như trên, p 5(2). [49] như trên , p 5(3). [50] như trên, p 6(i). [51] như trên, p 6(ii). [52] ‘Những chính sách của Nhà nước về sở hữu trí tuệ’ (BCSI) https://bcsi.edu.vn/tin-tuc/so-huu-tri-tue/nhung-chinh-sach-cua-nha-nuoc-ve-so-huu-tri-tue.html truy cập ngày 22/4/2026. [53] S.H, ‘Sở hữu trí tuệ và góc nhìn cận cảnh trong lĩnh vực thể thao’ (Dân trí, 18/4/2019) https://dantri.com.vn/khoa-hoc/so-huu-tri-tue-va-goc-nhin-can-canh-trong-linh-vuc-the-thao-20190418072149243.htm truy cập ngày 22/4/2026. [54] Phân loại Nice về hàng hóa và dịch vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu (Bảng phân loại Nice). Bảng phân loại Nice được sử dụng để phân loại hàng hóa và dịch vụ trong đăng ký nhãn hiệu, qua đó xác định phạm vi bảo hộ của nhãn hiệu và tạo cơ sở pháp lý cho việc xác lập, thực thi quyền sở hữu trí tuệ. [55] World Intellectual Property Organization, ‘Phân loại Nice về hàng hóa và dịch vụ cho mục đích đăng ký nhãn hiệu’ https://www.wipo.int/classifications/nice/en/ truy cập ngày 22/4/2026. [56] Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2025), Điều 96. [57] Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2025), Điều 74, Điều 75. [58] PV, ‘Chống xâm phạm sở hữu trí tuệ là nhiệm vụ chính của quản lý thị trường’ (VietnamPlus, 22/10/2021) https://www.vietnamplus.vn/chong-xam-pham-so-huu-tri-tue-la-nhiem-vu-chinh-cua-quan-ly-thi-truong-post748339.vnp truy cập ngày 22/4/2026. [59] Anh Tuấn và Ngọc Thi, ‘Triệt phá cơ sở sản xuất quần áo thể thao giả mạo nhãn hiệu’ (VTV, 29/10/2025) https://vtv.vn/triet-pha-co-so-san-xuat-qua n-ao-the-thao-gia-mao-nhan-hieu-100251028202805803.htm truy cập ngày 22/4/2026. [60] như trên. [61] Huế Minh, ‘Khởi tố đối tượng buôn bán hơn 35.000 bộ quần áo thể thao giả nhãn hiệu lớn’ (Thương hiệu & Công luận, 30/6/2025) https://thuonghieucongluan.com.vn/khoi-to-doi-tuong-buon-ban-hon-35-000-bo-quan-ao-the-thao-gia-nhan-hieu-lon-a268693.html truy cập ngày 22/4/2026. [62] Lê Văn Dũng, ‘Đội QLTT số 8: Xử phạt 01 cơ sở hành vi kinh doanh giày thể thao giả mạo nhãn hiệu’ (Cục Quản lý thị trường Nghệ An, 27/5/2025) https://nghean.dms.gov.vn/tin-chi-tiet/-/chi-tiet/doi-qltt-so-8-xu-phat-01-co-so-hanh-vi-kinh-doanh-giay-the-thao-gia-mao-nhan-hieu-4605-1336.html truy cập ngày 22/4/2026. [63] ‘VFF lên tiếng về việc vi phạm bản quyền hình ảnh đội tuyển Việt Nam’ (Hà Nội Mới, 4/9/2020) https://hanoimoi.vn/vff-len-tieng-ve-viec-vi-pham-ban-quyen-hinh-anh-doi-tuyen-viet-nam-505465.html truy cập ngày 22/4/2026. [64] Vũ Chi Mai, ‘Thực trạng và giải pháp giải quyết tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại điện tử tại Việt Nam’ (Tạp chí Tòa án nhân dân, 2025) https://tapchitoaan.vn/thuc-trang-va-giai-phap-giai-quyet-tinh-trang-xam-pham-quyen-so-huu-tri-tue-trong-hoat-dong-thuong-mai-dien-tu-tai-viet-nam13291.html truy cập ngày 22/4/2026. [65] như trên.

  • [82] CƠ BẢN VỀ LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ

    Tác giả: Bùi Tú Uyên, Hà Kiều Anh, Bùi Phương Anh Mở đầu : Luật Hình sự Quốc tế là ngành luật đặc thù điều chỉnh việc xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự độc lập đối với các cá nhân có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự pháp lý toàn cầu. Nhằm hướng tới mục đích nghiên cứu cấu trúc nền tảng của ngành luật đặc biệt này, bài viết sẽ phân tích về những đặc trưng như nguồn, một số đặc điểm cơ bản và một số nguyên tắc chung của Luật Hình sự Quốc tế. Thông qua bài viết, nhóm tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ, khẳng định nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm hạn chế và khắc phục những vùng xám pháp lý trong quá trình nhận diện và xử lý những tội ác nghiêm trọng nhất.   Từ khóa:  luật hình sự, quốc tế, nguồn, nguyên tắc, đặc điểm, tòa án hình sự.  1. Khái niệm Luật Hình sự Quốc tế Dưới góc độ lý luận, khái niệm Luật Hình sự Quốc tế được tiếp cận tương đối đa dạng. Theo Antonio Cassese, đây là hệ thống quy phạm xác định các tội ác quốc tế và quy kết trách nhiệm cá nhân.[1] Gerhard Werle đồng thời nhấn mạnh chức năng của ngành luật này trong công cuộc xử lý các vi phạm nghiêm trọng nhất của công pháp quốc tế.[2] Từ các quan điểm được công nhận và sử dụng rộng rãi nói trên, có thể khái quát: Luật Hình sự Quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế nhằm điều chỉnh việc nhận diện và xử lý các tội phạm cốt lõi đe dọa an ninh nhân loại. Nội hàm trung tâm của khái niệm này chính là sự bác bỏ cơ chế trách nhiệm tập thể của quốc gia để quy kết trách nhiệm trực tiếp cho các thể nhân thực hiện hành vi phạm tội. 2. Nguồn của Luật Hình sự Quốc tế Là một nhánh của Công pháp Quốc tế với mối quan hệ hai chiều gắn bó (twofold relationship) với Công pháp, Luật hình sự quốc tế mang tính đặc thù cao với cấu trúc lai ghép (hybrid branch of law), được hình thành từ sự giao thoa giữa các khái niệm, nguyên tắc và các cấu trúc pháp lý bắt nguồn từ công pháp quốc tế và luật hình sự quốc gia cùng luật nhân quyền.[3] Hệ thống nguồn của Luật Hình sự Quốc tế về cơ bản xuất phát từ Điều 38(1) của Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), bao gồm điều ước, tập quán, nguyên tắc chung của pháp luật và các nguồn bổ trợ. Các nguồn này được pháp điển hóa rõ nét nhất tại Điều 21 của Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và được áp dụng theo một hệ thống thứ bậc chặt chẽ từ (1) Quy chế Rome, Các Yếu tố cấu thành tội phạm trong khuôn khổ ICC (ICC Elements of Crimes) và Quy tắc tố tụng và chứng cứ trong khuôn khổ ICC (ICC Rules of Procedure and Evidence); (2) Các điều ước quốc tế có liên quan cùng các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; (3) Các nguyên tắc chung của pháp luật được Tòa án rút ra từ luật quốc gia của các hệ thống pháp luật trên thế giới, bao gồm cả luật quốc gia của các nước lẽ ra có thẩm quyền tài phán đối với tội phạm đó (nếu phù hợp).[4] 2.1. Nguồn chính  2.1.1. Điều ước quốc tế Là nguồn luật thành văn mang tính nền tảng, điều ước quốc tế không chỉ xác định các quy tắc thực chất để định nghĩa tội phạm mà còn xác lập nghĩa vụ truy tố và trừng phạt của các quốc gia đối với tội phạm quốc tế.[5] Định hình trực tiếp nhất cho hệ thống này là các quy chế thành lập tòa án quốc tế, tiêu biểu như Quy chế Nuremberg, quy chế của các tòa đặc biệt như Tòa án Hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY), Rwanda (ICTR) và Quy chế Rome 1998 (ICC).[6] Cùng với đó là các điều ước quốc tế khác như Quy chế Hague 1907, các Công ước Geneva 1949, Công ước chống Diệt chủng 1948 và Công ước chống Tra tấn 1984.[7] a, Quy chế thành lập các toà án Hình sự Quốc tế Trong Luật Hình sự Quốc tế, các bản quy chế thành lập tòa án đóng vai trò là nguồn luật thành văn cơ bản nhất vì chúng trực tiếp ấn định thẩm quyền và định nghĩa các loại tội phạm.[8] Nền móng của nguồn luật này bắt nguồn từ Thỏa thuận London năm 1945, lập ra Tòa án Nuremberg thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, đánh dấu lần đầu tiên cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự trực tiếp trước pháp luật quốc tế.[9] Đến thập niên 1990, đối mặt với những hành vi tàn ác tại Nam Tư cũ và Rwanda, hệ thống nguồn chứng kiến một bước ngoặt mới khi Tòa án hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY) và Rwanda (ICTR) không được thành lập bằng các hiệp ước ký kết thông thường mà ra đời từ các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.[10] Sức mạnh pháp lý của các bản Quy chế này nằm ở chỗ chúng được ban hành dựa trên thẩm quyền cưỡng chế theo Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc, qua đó mang giá trị ràng buộc tuyệt đối với mọi quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc mà không cần thông qua quy trình phê chuẩn từng nước, được giới học giả đánh giá là có vị thế tương đương với một dạng “luật quốc tế thứ cấp”.[11] Bước tiến hiện đại nhất là Quy chế Rome năm 1998 thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), đây là một điều ước đa phương đồ sộ, pháp điển hóa vô cùng chi tiết các yếu tố cấu thành của các tội phạm cốt lõi.[12] Quy chế Rome là điều ước thành lập ICC, được thông qua vào ngày 17/7/1998 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2002. Bao gồm 128 điều, Quy chế Rome đặt nền tảng pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của ICC trong hệ thống công lý hình sự quốc tế đương đại.[13] Về nội dung, Quy chế Rome quy định một cách toàn diện về thẩm quyền của Tòa án Hình sự quốc tế, cơ cấu tổ chức, trình tự tố tụng, cũng như các nguyên tắc cơ bản chi phối việc truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân đối với các tội ác quốc tế nghiêm trọng.[14] Trọng tâm của Quy chế là việc xác định bốn nhóm tội phạm thuộc thẩm quyền của ICC, bao gồm tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội xâm lược,[15] đồng thời cụ thể hóa các yếu tố cấu thành của từng tội danh nhằm bảo đảm tính rõ ràng và khả năng tiên liệu của pháp luật.[16] Bên cạnh đó, Quy chế Rome ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự hiện đại như trách nhiệm hình sự cá nhân, nguyên tắc không hồi tố, suy đoán vô tội và quyền bào chữa của bị cáo.[17] Đặc biệt, Điều 21 thiết lập một hệ thống nguồn luật áp dụng riêng với trật tự ưu tiên rõ ràng,[18] bảo đảm hoạt động truy tố và xét xử của ICC được tiến hành trên cơ sở pháp luật, đồng thời dung hòa giữa mục tiêu chống miễn trừng phạt (combat impunity)[19] và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo.[20] b, Các điều ước quốc tế khác Nhóm các điều ước quốc tế khác tiêu biểu như Quy chế Hague 1907, các Công ước Geneva 1949, Công ước chống Diệt chủng 1948 hay Công ước chống Tra tấn 1984 có ý nghĩa rất quan trọng với tư cách là nguồn của luật hình sự quốc tế, vì chúng trực tiếp thiết lập các quy tắc thực chất của luật nhân đạo và định nghĩa các hành vi cấu thành tội phạm quốc tế. Trong thực tiễn xét xử, các tòa án quốc tế thường xuyên viện dẫn các điều ước này để giải thích những khái niệm pháp lý được quy định ẩn ý trong quy chế của chính mình, ví dụ như việc mượn Công ước Geneva để xác định đối tượng nào là “người được bảo vệ” hay “tài sản được bảo vệ”.[22] Tuy nhiên, một điểm hạn chế lớn của các văn kiện này là nội dung văn kiện thường chỉ đơn thuần đặt ra lệnh cấm hành vi (ví dụ: cấm giết tù binh) mà không hề quy định chi tiết về hậu quả hình sự hay điều kiện trừng phạt cá nhân vi phạm.[23] Để giải quyết sự thiếu hụt và tính chất thiếu xác định này, các thẩm phán tại các tòa án quốc gia và quốc tế buộc phải chủ động diễn giải, cụ thể hóa các quy tắc để lấp đầy khoảng trống pháp lý, từ đó mới có thể áp dụng các hình phạt thực tế đối với tội phạm.[24] 2.1.2. Tập quán quốc tế  Trong luật hình sự quốc tế, tập quán quốc tế đóng vai trò nền tảng để định hình các tội phạm cốt lõi và các nguyên tắc truy cứu trách nhiệm pháp lý.[25] Về mặt tội danh, tập quán không chỉ công nhận các quy định của Quy chế Hague 1907 và các Công ước Geneva 1949 là tội ác chiến tranh có thể áp dụng cho cả xung đột vũ trang quốc tế lẫn nội bộ,[26] mà còn kết thành các lệnh cấm cụ thể đối với việc sử dụng lính trẻ em, bạo lực tình dục và các loại vũ khí độc hại.[27] Bên cạnh đó, tập quán cũng định nghĩa rõ tội xâm lược, tội diệt chủng[28] và xác nhận rằng tội ác chống nhân loại có thể xảy ra ngay cả trong thời bình mà không cần có mối liên hệ với xung đột vũ trang.[29] Về mặt trách nhiệm hình sự, thực tiễn xét xử đã đúc kết các tập quán quan trọng, tiêu biểu là trách nhiệm của người chỉ huy đối với hành vi của cấp dưới và trách nhiệm cá nhân khi tham gia vào một kế hoạch tội phạm chung.[30] Tập quán cũng vạch ra giới hạn cho các biện pháp phòng vệ: mặc dù quyền tự vệ được pháp luật công nhận, nhưng những lý do như “bị ép buộc” hay “làm theo lệnh cấp trên” sẽ không giúp miễn trừ trách nhiệm nếu mệnh lệnh đó vi phạm pháp luật một cách rõ ràng hoặc liên quan đến việc sát hại thường dân vô tội.[31] 2.1.3. Các nguyên tắc pháp luật chung trong Luật Hình sự Quốc tế Hệ thống các nguyên tắc chung của pháp luật đóng vai trò cốt yếu trong việc lấp đầy các khoảng trống pháp lý khi các nguồn luật chính yếu như điều ước quốc tế hay luật tập quán chưa có quy định cụ thể. Nhóm nguyên tắc này trước hết bao gồm những quy phạm đặc thù được rút ra trực tiếp từ hệ thống quốc tế và các nguyên tắc hình sự nền tảng như suy đoán vô tội hay nguyên tắc không có luật thì không có tội.[32] Các nguyên tắc pháp luật được thừa nhận bởi các quốc gia mang tính chất bổ trợ và dự phòng, chỉ được ICC viện dẫn khi không thể sử dụng các nguồn khác.[33] Để áp dụng hiệu quả, Tòa án phải thực hiện phương pháp so sánh giữa các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, không chỉ hệ thống thông luật và dân luật mà còn bao gồm pháp luật các nước Hồi giáo, một số nước châu Á như Trung Quốc hay Nhật Bản, và Châu Phi nhằm tìm ra một điểm chung nhất, đồng thời đảm bảo nguyên tắc đó hoàn toàn nhất quán với luật pháp quốc tế.[34] Thực tiễn xét xử đã chứng minh sự vận dụng linh hoạt này qua vụ Prosecutor v. Anto Furundžija , nơi Tòa án đã dựa trên nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm con người và sự đồng thuận của các quốc gia để xác lập định nghĩa về tội hiếp dâm khi các nguồn luật chính còn bỏ ngỏ.[35] Tuy nhiên, phương pháp này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như trong vụ The Prosecutor v. Dražen Erdemović,  khi Toà án bất thành trong việc tìm kiếm một nguyên tắc chung do sự không thống nhất giữa các hệ thống pháp luật về việc liệu tình trạng bị cưỡng bức có được coi là lý do bào chữa để miễn trách nhiệm hình sự cho tội giết người hay không.[36] 2.2. Nguồn bổ trợ  2.2.1. Án lệ  Án lệ bao gồm các phán quyết của các tòa án quốc tế.[37] Vai trò của án lệ trong Luật Hình sự Quốc tế được ghi nhận trực tiếp trong các quy định pháp lý, theo Khoản 2 Điều 21 của Quy chế Rome, Tòa án có thể viện dẫn và áp dụng các nguyên tắc pháp lý đã được xác lập trong các phán quyết trước đó của mình.[38] Về mặt hình thức, các quyết định pháp lý không tự chúng cấu thành một nguồn luật độc lập mà chỉ là phương tiện bổ trợ.[39] Trong luật hình sự quốc tế, các tòa án không bị ràng buộc tuyệt đối bởi các phán quyết trước đó của chính mình (không áp dụng triệt để nguyên tắc stare decisis  của thông luật), nhưng các phán quyết này vẫn có giá trị thuyết phục cao.[40] Án lệ có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xác định sự tồn tại của tập quán quốc tế, đồng thời cung cấp cách giải thích phù hợp cho các quy định thường ngắn gọn và mơ hồ của các điều ước quốc tế.[41] Có ý kiến cho rằng, dựa trên các đặc điểm của Luật Hình sự Quốc tế, ta nên đề cao hơn giá trị của các phán quyết của các toà án quốc gia và quốc tế.[42] Bên cạnh đó, án lệ từ các tòa án quốc gia, quốc tế được coi là nguồn bằng chứng thực chất và chủ yếu về sự tồn tại của luật hình sự quốc tế.[43] 2.2.2. Học thuyết  Học thuyết, bao gồm các công trình nghiên cứu của những học giả và chuyên gia luật quốc tế có uy tín, đóng vai trò là một nguồn bổ trợ trong luật hình sự quốc tế.[44] Mặc dù bản thân các công trình này không trực tiếp tạo ra luật và có trọng lượng pháp lý thấp hơn so với án lệ, chúng vẫn đóng góp đáng kể vào việc nhận diện, giải thích và làm sáng tỏ các quy tắc pháp lý phức tạp của Luật Hình sự Quốc tế.[45] Tuy nhiên, trên thực tế, các tòa án thường rất thận trọng và có phần hạn chế khi viện dẫn các học thuyết, thường do các thẩm phán phải hết sức cẩn trọng để phân định rạch ròi giữa việc học giả đang mô tả chính xác thực trạng pháp luật hiện hành hay chỉ đang nêu lên quan điểm chủ quan của họ về việc luật nên được phát triển và thay đổi như thế nào. Sự cẩn trọng này là yêu cầu bắt buộc nhằm tránh việc tòa án vô tình áp dụng một quy tắc chưa thực sự tồn tại, qua đó bảo đảm quyền lợi của bị cáo và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc “không có tội nếu không có luật định” ( nullum crimen sine lege). [46] 3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Hình sự Quốc tế  3.1. Nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân  Nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Luật Hình sự Quốc tế, khẳng định rằng tội ác vi phạm luật quốc tế chỉ có thể được gây ra bởi con người, và chỉ khi các cá nhân phạm tội bị trừng phạt thì các điều khoản luật quốc tế mới được thực thi.[47] Chủ thể của luật quốc tế là các quốc gia và các cá nhân chỉ được xem như đối tượng chứ không sở hữu đầy đủ quyền và nghĩa vụ với tư cách là chủ thể của luật quốc tế,[48] do đó, hành vi vi phạm pháp luật quốc tế chỉ có thể cấu thành bởi một quốc gia theo luật quốc tế,[49] nhấn mạnh nguyên tắc trách nhiệm tập thể. Khác với Luật Quốc tế chung, Luật Hình sự quốc tế khẳng định rằng tội ác vi phạm pháp luật hình sự quốc tế chỉ có thể do con người gây ra,[50] việc trừng phạt các cá nhân do đó nhấn mạnh sự tồn tại của “lựa chọn đạo đức”[51] và tránh khỏi việc trừng phạt các cá nhân vô tội trong một tập thể.[52] Nguyên tắc này đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm hình sự của người chỉ huy và người đứng đầu, trong đó, Tòa án Nuremberg khẳng định trong Điều 6 của Hiến chương và phán quyết Nuremberg rằng: “Những người lãnh đạo, tổ chức, xúi giục và đồng phạm tham gia vào việc xây dựng hoặc thực hiện kế hoạch chung hoặc âm mưu phạm bất kỳ tội nào nêu trên đều phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi do bất kỳ người nào thực hiện trong quá trình thi hành kế hoạch đó.”[53] Trước thế kỷ 20, việc xác định trách nhiệm hình sự cá nhân trở nên khó khăn do không có tòa án nào áp dụng Luật Quốc tế cho các cá nhân. Ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý Thường trực trong vụ quan chức đường sắt Danzig đã đưa ra một ngoại lệ đối với quy tắc cá nhân chỉ là đối tượng của luật quốc tế trong trường hợp các bên đưa ra một hiệp ước xác định quyền và nghĩa vụ của cá nhân được thực thi bởi toà án quốc gia.[54] Đồng thời, Hiến chương và phán quyết của Tòa án Nuremberg truy tố các quan chức Đức Quốc xã và những người cộng tác với họ đã đưa ra nền tảng xác định các cá nhân phải chịu trách nhiệm về tội ác quốc tế và tội ác là do con người gây ra chứ không phải thực thể trừu tượng. Nguyên tắc này được củng cố bởi quyết định thành lập các Tòa án Quốc tế như Toà án Hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY),[55] Toà án Quốc tế dành cho Rwanda (ICTR)[56] và Quy chế Rome thành lập Toà án Hình sự Quốc tế (ICC).[57] 3.2. Nguyên tắc về tính hợp pháp: Không có luật, không có tội, không có phạt Nguyên tắc về tính hợp pháp theo Luật Hình sự Quốc tế là việc một người không phải chịu trách nhiệm hình sự cho bất cứ hành vi nào mà không cấu thành tội phạm hình sự theo luật quốc gia và luật quốc tế tại thời điểm hành vi đó được thực hiện,[58] được khẳng định tại Điều 23 Quy chế Rome thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế. Một người do đó chỉ có thể bị trừng phạt vì một hành vi đã được pháp điển hóa trong Luật tại thời điểm phạm tội ( lex scripta ), được thực hiện sau khi Luật có hiệu lực (lex praevia) , được xác định với đầy đủ chứng cứ và không được diễn giải theo nghĩa tương đồng (lex stricta) .[59] Nguyên tắc trên đồng thời liên hệ đến nguyên tắc không hồi tố (non-retroactivity), nguyên tắc cụ thể và cấm sự tương đồng.[60] Cụ thể, nguyên tắc này khẳng định không ai bị kết án vì một hành vi được không cấu thành tội phạm theo luật pháp tại thời điểm thực hiện (hay trước khi tội danh đó tồn tại).[61]Đồng thời, hành vi cấu thành tội phạm phải được xác định cụ thể,[62] phải được giải thích nghiêm ngặt và không được mở rộng bằng cách tương tự.[63] Nguồn gốc cơ bản đầu tiên của nguyên tắc tính hợp pháp được nhắc đến tại luật thứ hai của Ur-Nammu.[64] Nguyên tắc này trong Đại Hiến chương Magna Carta của Anh được khái quát hoá rằng không một người tự do nào có thể bị bắt giữ, trừ khi việc đó được thực hiện theo luật của quốc gia,[65] tuy nhiên nó không đủ để thiết lập đầy đủ về nguyên tắc này. Đến thời kỳ Khai sáng vào thế kỷ XVIII,  cách mạng công nghiệp lần đầu tiên mang đến nhu cầu tạo ra các khuôn khổ pháp lý để bảo vệ lợi ích kinh tế của tầng lớp trung lưu và chủ nghĩa cá nhân, nguyên tắc hợp pháp hiện đại mới ra đời.[66] Nguyên tắc này dần được pháp điển hóa trong khoảng thế kỷ XVIII-XIX ở các bộ luật khắp châu Âu,[67] từ đó trở thành một nguyên tắc cơ bản trong Luật Hình sự Quốc tế.  3.3. Nguyên tắc Ne bis in idem: Nguyên tắc không bị xét xử hoặc trừng phạt hai lần vì cùng một hành vi phạm tội Ne bis in idem  trong tiếng Latin là “không bị xét xử hoặc trừng phạt hai lần vì cùng một hành vi phạm tội”, do đó, nguyên tắc này trong Luật Hình sự Quốc tế cấm việc một người bị xét xử hai lần vì cùng một hành vi mà người đó đã bị kết án hoặc tuyên bố trắng án theo luật và thủ tục tố tụng hình sự,[68] nhằm mục đích bảo đảm công bằng đối với các bị cáo và bảo đảm điều tra kỹ lưỡng.[69] Nguyên tắc này bảo vệ cá nhân khỏi tình trạng bị truy tố vô hạn lần cho cùng một hành vi và chống lại khả năng lạm dụng thủ tục tố tụng hình sự của các công tố viên và của các bên dân sự có quyền khởi tố.[70] Theo nguyên tắc ne bis in idem , một cá nhân sẽ không bị xét xử hai lần[71] đối với các hành vi cũng vi phạm pháp luật hình sự quốc tế, bao gồm diệt chủng, tội ác vi phạm nhân đạo, tội ác chiến tranh và hành vi xâm lược. Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc trên: một là các thủ tục tại tòa án khác hướng đến việc bảo vệ người liên quan khỏi trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền của tòa án; hai là các thủ tục không được tiến hành độc lập hoặc công bằng theo các chuẩn mực tố tụng hợp pháp hoặc được tiến hành không phù hợp với ý định đưa người liên quan ra trước công lý.[72]  Hình thức sơ khai của nguyên tắc này ra đời từ Luật La Mã, phát triển qua thời kỳ Khai sáng trở thành công cụ bảo đảm quyền lợi cá nhân và được nhấn mạnh như một phần không thể thiếu của Luật Quốc tế nói chung trong các văn kiện quốc tế. Khái niệm “ idem crimen ” - cùng tội danh của nguyên tắc ne bis in idem đã được chuyển sang khái niệm “ idem factum ”  - cùng hành vi thực tế, được nhấn mạnh trong Điều 10 thành lập Toà án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ: “Không ai bị xét xử trước tòa án quốc gia về các hành vi cấu thành vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế theo Quy chế hiện hành nếu người đó đã bị Tòa án Quốc tế xét xử trước đó”  Trước khi tồn tại quy chế tòa ICTY, một bị cáo có thể bị kết tội nhiều hơn một tội danh đối với cũng một hành vi cơ bản, miễn là các yếu tố cấu thành tội danh đó khác nhau.[73] 4. Đặc điểm Luật Hình sự Quốc tế 4.1. Bản chất pháp lý đặc thù và tính chất hỗn hợp của Luật Hình sự Quốc tế Luật Hình sự Quốc tế cấu thành một cơ chế pháp lý mang tính chất đặc thù ( sui generis ), được hình thành trên cơ sở sự giao thoa giữa hai ngành luật công là Công pháp quốc tế và Luật hình sự quốc gia.[74] Chính vị thế này đã định hình nên tính lưỡng diện của Luật Hình sự Quốc tế. Một mặt, nó mang đậm màu sắc chính trị của mạng lưới quan hệ quốc tế; mặt khác, nó chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi các nguyên tắc pháp quyền và yêu cầu về tính xác định chặt chẽ của ngành luật hình sự.[75] Xét trên phương diện tố tụng, tính chất hỗn hợp của Luật Hình sự Quốc tế được thể hiện rõ nét qua sự dung hợp và tham chiếu song song hai dòng họ pháp luật lớn trên thế giới. Những văn bản mang tính nền tảng như Quy chế Rome không chỉ áp dụng thuần túy mô hình Tranh tụng của hệ thống Thông luật, cũng không sao chép nguyên mẫu mô hình Thẩm vấn của hệ thống Dân luật.[76] Thay vào đó, một cơ chế tố tụng “lai” đã được thiết lập nhằm trung hòa giữa yêu cầu trừng trị tội phạm và nhiệm vụ bảo đảm các quyền tố tụng cơ bản của con người theo đúng chuẩn mực quốc tế.[77] Đặc trưng này chính là cơ sở dẫn đến sự hình thành các quy phạm pháp luật có tính mở, đồng thời kiến tạo dư địa hữu dụng cho cơ quan tài phán trong việc giải thích luật và phát triển các nguyên tắc pháp lý thông qua thực tiễn xét xử.[78] 4.2. Sự xác lập trách nhiệm hình sự cá nhân và giới hạn của quyền miễn trừ Luật Hình sự Quốc tế hiện đại đánh dấu bước chuyển dịch mang tính nền tảng trong tư duy pháp lý toàn cầu thông qua việc thay thế mô hình trách nhiệm tập thể của quốc gia bằng cơ chế trách nhiệm pháp lý độc lập của cá nhân.[79] Thông qua việc xác lập quyền tài phán trực tiếp lên các thể nhân, luật pháp quốc tế đã vượt qua rào cản chủ quyền quốc gia để quy kết trách nhiệm cho chính những cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thay vì chấp nhận sự che chắn của các thực thể trừu tượng như Nhà nước. Theo đó, cơ chế này kiên quyết phủ nhận giá trị của học thuyết “Hành vi quốc gia” ( Act of State doctrine ) khi áp dụng vào lĩnh vực hình sự. Một cá nhân, nhờ vậy, không thể viện dẫn sự tuân thủ đối với quy định pháp luật trong nước hoặc mệnh lệnh của cấp trên nhằm hợp thức hóa các hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế cũng như để loại trừ trách nhiệm hình sự của bản thân.[80] Điểm tiến bộ nhất trong cơ chế này là việc khống chế triệt để các đặc quyền về miễn trừ tư pháp. Quy chế Rome đã pháp điển hóa nguyên tắc “không áp dụng miễn trừ dựa trên chức vụ”, khẳng định sự bình đẳng tuyệt đối của mọi cá nhân trước công lý quốc tế.[81] Do đó, vị trí chức vụ thậm chí bao gồm cả vị trí Nguyên thủ quốc gia hay người đứng đầu Chính phủ đương nhiệm đều không tạo ra rào cản tố tụng đối với thẩm quyền xét xử của Tòa án.[82]  4.3. Thẩm quyền theo đối tượng và cấu trúc đặc thù của các Tội phạm cốt lõi Thẩm quyền theo đối tượng ( jurisdiction ratione materiae ) của Luật Hình sự Quốc tế mang tính chọn lọc nghiêm ngặt, được giới hạn cụ thể trong bốn nhóm Tội phạm cốt lõi theo quy định của Quy chế Rome: Tội diệt chủng ( Genocide ), Tội ác chống lại loài người ( Crimes against Humanity ), Tội ác chiến tranh ( War Crimes ) và Tội xâm lược ( Crime of Aggression ). Thay vì điều chỉnh mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội, thẩm quyền xét xử của ngành luật này chỉ bao hàm những vi phạm nghiêm trọng nhất được cộng đồng quốc tế thừa nhận là mối đe dọa trực tiếp đến hòa bình, an ninh và các giá trị nhân văn cơ bản của nhân loại.[83] Đặc trưng pháp lý của nhóm tội danh này được thể hiện rõ nét thông qua các yếu tố cấu thành tội phạm. Bên cạnh các yếu tố cơ sở gồm hành vi khách quan ( actus reus ) và yếu tố chủ quan ( mens rea ), Luật Hình sự Quốc tế đòi hỏi sự hiện diện bắt buộc của các yếu tố bối cảnh, hay còn gọi là các yếu tố tiên quyết ( chapeau elements ).[84] Trên thực tế, chính các yếu tố này đóng vai trò phân định và tiên quyết trong việc chuyển đổi nhận định một hành vi phạm tội thông thường trở thành tội ác quốc tế. Một ví dụ điển hình chính là việc hành vi giết người chỉ cấu thành Tội ác chống lại loài người khi và chỉ khi nó được thực hiện như một phần của một cuộc tấn công trên diện rộng hoặc mang tính hệ thống nhắm vào thường dân.[85] Hệ quả tất yếu của tính chất này là sự xác lập thẩm quyền tài phán phổ quát cho các quốc gia, đồng thời loại trừ hoàn toàn sự ràng buộc về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.[86] 4.4. Cơ chế thực thi gián tiếp và Nguyên tắc bổ trợ về thẩm quyền Đặc điểm cấu trúc cơ bản nhằm phân biệt Luật Hình sự Quốc tế với pháp luật quốc gia là sự thiếu vắng một cơ quan cưỡng chế tập trung. Luật Hình sự Quốc tế không thiết lập lực lượng cảnh sát hay cơ quan thi hành án độc lập, mà vận hành dựa trên cơ chế thực thi gián tiếp.[87] Trong hệ thống này, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) nắm giữ thẩm quyền xét xử nhưng không có thẩm quyền cưỡng chế trực tiếp. Hiệu lực thực tế của các phán quyết phụ thuộc hoàn toàn vào nghĩa vụ hợp tác tự nguyện và tương trợ tư pháp của các Quốc gia thành viên, đặc biệt là xuyên suốt quá trình bắt giữ, dẫn độ và thu thập chứng cứ.[88] Nhằm giải quyết mối liên hệ phức tạp giữa chủ quyền quốc gia và thẩm quyền quốc tế, Quy chế Rome đã xác lập Nguyên tắc Bổ trợ trong đó khẳng định ICC không phải là cơ quan xét xử cấp cao hơn, cũng không có chức năng thay thế hệ thống tư pháp quốc gia.[89] Trái lại, thẩm quyền của ICC chỉ mang tính chất bổ sung; thẩm quyền ưu tiên xét xử trong đa số bối cảnh đều thuộc về quốc gia sở tại.[90] Về mặt tố tụng, Tòa án chỉ tuyên bố chấp nhận thụ lý vụ án khi chứng minh được quốc gia có thẩm quyền thuộc một trong hai trường hợp cụ thể. Thứ nhất,  là trường hợp “không muốn”, thể hiện qua việc quốc gia đương sự tiến hành quá trình tố tụng với thái độ thiếu thiện chí, mang tính chất giả tạo nhằm mục đích bao che cho người phạm tội hoặc trì hoãn việc xét xử một cách vô lý.[91] Một ví dụ điển hình có thể kể đến án lệ Al-Bashir , khi quy trình xét xử tại Sudan bị ICC đánh giá chỉ là hình thức nhằm che chắn cho các quan chức cấp cao tại địa phương.[92]  Thứ hai , là trường hợp “không thể”, xảy ra khi hệ thống tư pháp của quốc gia đương sự sụp đổ một phần hoặc toàn phần, dẫn đến việc không còn khả năng bắt giữ bị can, thu thập chứng cứ hoặc thực hiện các quy trình tố tụng cần thiết.[93] Trong án lệ Gaddafi , ICC đưa ra phán quyết rằng chính phủ Libya không thể thực thi công lý do hoàn toàn bất lực trong việc buộc lực lượng dân quân giao nộp bị can.[94] Quy định này vừa bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền tư pháp quốc gia, vừa ngăn chặn tình trạng tội phạm tự do ngoài vòng pháp luật đối với các tội ác quốc tế nghiêm trọng.[95] Kết luận: Tựu trung lại, sự hoàn thiện và phát triển không ngừng của Luật Hình sự Quốc tế đã và đang đánh dấu một bước chuyển tiếp quan trọng của hệ thống công pháp quốc tế nói chung và Luật Hình sự Quốc tế nói riêng, với cốt lõi là việc xác lập cơ chế trách nhiệm hình sự độc lập đối với từng thể nhân. Thông qua hệ thống nguồn luật mang tính hỗn hợp và nguyên tắc thẩm quyền bổ trợ, thiết chế này cung cấp cơ sở pháp lý để nhận diện và xử lý các nhóm tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất. Trên thực tế, những thách thức từ cơ chế thực thi gián tiếp vẫn còn là bài toán chưa có lời giải đối với các cơ quan tài phán nói riêng và hệ thống luật pháp quốc tế nói chung. Luật Hình sự Quốc tế, dù vậy, luôn đóng vai trò thiết yếu trong việc thu hẹp khoảng trống miễn trừ trách nhiệm và từng bước xóa bỏ nhiều vùng xám pháp lý; qua đó góp phần duy trì tinh thần thượng tôn pháp luật và nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh chung của cộng đồng quốc tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1][74][87]Antonio Cassese et al., Cassese’s International Criminal Law , tái bản lần thứ 3, (OUP, 2013). [2][3][74][83] Gerhard Werle and Florian Jeßberger, Principles of International Criminal Law  (4th edn, OUP 2020).  [3][5][6][7][8][9][11][21]-[24][32][34][35][36][39][45] International Criminal Law  (3rd edn, Oxford University Press 2013) [4][17][18][27][33][38][57][61][63][71][72][80][81]-[83][85][88]-[91][93] Rome Statute of the International Criminal Court [10] United Nations Security Council Resolution; United Nations Security Council Resolution. [11]-[16][19][20][25]-[31][37][43][44][46] Robert Cryer, Håkan Friman, Darryl Robinson and Elizabeth Wilmshurst, An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (Cambridge University Press 2010)  [35] Prosecutor v. Furundžija  (Judgment) ICTY Trial Chamber IT-95-17/1-T, 10/12/1998 [36][80] Prosecutor v. Erdemović  (Judgement) IT-96-22-A  (ICTY Appeals Chamber, 07/10/1997)  [47][53][79] Judgment of the International Military Tribunal, in The Trial of German Major War Criminals: Proceedings of the International Military Tribunal sitting at Nuremberg, Germany, Part 22 (HMSO 1950)  [48] Jan Klabbers, The Individual in International Law  (Cambridge University Press 2013) [49][50] International Law Commission, 'Draft Articles on Responsibility of States for Internationally Wrongful Acts' (2001). [51] UNGA, Principles of International Law Recognised in the Charter of the Nuremberg Tribunal and in the Judgement of the Tribunal (1950) UN Doc A/CN.4/22. [52] Criminal Responsibility of Individuals and International Law (1945) 12(4) University of Chicago Law Review. [54][65] Ademola Abass, International Law  (Oxford University Press) 131 [55] Statute of the International Tribunal for the Prosecution of Persons Responsible for Serious Violations of International Humanitarian Law Committed in the Territory of the Former Yugoslavia since 1991 (1993) UN Doc S/RES/827, art 7(1) [56] Statute of the International Criminal Tribunal for the Prosecution of Persons Responsible for Genocide and Other Serious Violations of International Humanitarian Law Committed in the Territory of Rwanda (1994) UN Doc S/RES/955 [58][68] International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 23 March 1976) [59][60]  Kai Ambos, General Principle of Criminal Law in the Rome Statute [62][84] International Criminal Court, Elements of Crimes , (2011) [64]  Russ Versteeg, Early Mesopotamian Law  (Carolina Academic Press 2000). [67] Andrew Ashworth, Principles of Criminal Law  (5th edn, OUP 2006), Anthony John Patrick Kenny, Freewill and Responsibility  (Routledge & Kegan Paul 1978) [69][75] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010).  [70] Green v. United States  355 US 184 (1957)  [73][75] Prosecutor v Kupreškić and others  (Trial Judgement) ICTY-95-16-T (14 January 2000); [73][78][79][84] Prosecutor v Tadić  (Decision on the Defence Motion on the Principle of Non bis in Idem) ICTY-94-1-T (14 November 1995) [76] Kai Ambos, "Indâternational Criminal Procedure: 'Adversarial', 'Inquisitorial' or Mixed?", International Criminal Law Review  Tập 3, (2003) [77] Prosecutor v Lubanga , ICC-01/04-01/06 A 5, Phán quyết, (ICC, 01/12/2014).; Prosecutor v Bemba , ICC-01/05-01/08 OA 3, Phán quyết, (ICC, 19/10/2010). [80] Prosecutor v. Blaškić , IT-95-14-A, Phán quyết, (ICTY, 29/07/2004) [82]  Prosecutor v. Al-Bashir , ICC-02/05-01/09 OA2, Phán quyết, (ICC, 06/05/2019). [85] Prosecutor v. Kunarac et al. , IT-96-23-T & IT-96-23/1-T, Phán quyết, (ICTY, 22/02/2001); Prosecutor v. Akayesu , ICTR-96-4-T, Phán quyết, (ICTR, 02/09/1998), đoạn 579-581. [86] Convention on the Non-Applicability of Statutory Limitations to War Crimes and Crimes against Humanity  1968. Case Concerning the Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of the Congo v. Belgium) , Phán quyết, Ý kiến độc lập của các Thẩm phán Higgins, Kooijmans và Buergenthal, (ICJ, 14/02/2002),  [88] Assembly of States Parties, "Report of the Bureau on non-cooperation," 18/11/2015. [91] Office of the Prosecutor, “Policy Paper on Preliminary Examinations,” 11/2013.   Prosecutor v. Al-Senussi , ICC-01/11-01/11 OA 6, Phán quyết, (ICC, 24/07/2014). [92] Prosecutor v. Omar Hassan Ahmad Al Bashir, ICC-02/05-01/09, Phán quyết, (ICC, 04/03/2009). [94] Prosecutor v. Saif Al-Islam Gaddafi , ICC-01/11-01/11 OA 6, Phán quyết, (ICC, 21/05/2014). [95] Mohamed El Zeidy, The Principle of Complementarity in International Criminal Law: Origin, Development and Practice , (Martinus Nijhoff, 2008).

  • [80] QUYỀN ĐƯỢC TIẾP CẬN NGUỒN NƯỚC TRONG XUNG ĐỘT VŨ TRANG THEO LUẬT QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Thanh Huyền, Thái Nguyệt Anh Tóm tắt:  Trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang hiện đại ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đến các nguồn tài nguyên thiết yếu, quyền được tiếp cận nguồn nước trở thành một vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với dân thường. Bài viết phân tích cơ sở pháp lý của quyền tiếp cận nước trong luật quốc tế, đặc biệt thông qua các chuẩn mực của Luật quốc tế về Quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ các tiêu chuẩn cấu thành nội hàm của quyền này như tính sẵn có, chất lượng và khả năng tiếp cận, đồng thời xem xét các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước và các công trình nước trong xung đột vũ trang. Bài viết cũng đề cập đến thực tiễn hiện nay, đặc biệt là hiện tượng “vũ khí hóa nguồn nước” trong một số cuộc xung đột vũ trang đương đại. Bài viết này cũng là bài viết kỷ niệm Ngày Nước Thế giới (22/3), nhằm góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang. Từ khóa: Quyền tiếp cận nguồn nước; Luật Nhân đạo quốc tế; xung đột vũ trang; bảo vệ nguồn nước; vũ khí hóa nguồn nước . 1. Quyền tiếp cận nước trong Luật Quốc tế  1.1.Cơ bản về quyền tiếp cận nước trong luật quốc tế Nước là một phần thiết yếu để duy trì sự sống của con người, và do đó, tiếp cận nước cũng là một nhu cầu cơ bản, và thiết yếu để có thể tồn tại và phát triển. Trên cơ sở đó, Quyền được tiếp cận nước sạch đã được ghi nhận là một trong những quyền con người căn bản, là nền tảng đối với sức khỏe, phẩm giá và sự thịnh vượng của con người. [1] Trong quá khứ, quyền tiếp cận nguồn nước chưa được quy định cụ thể mà được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người năm 1948 và Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR) dưới hình thức quyền hàm chứa trong các quy định về quyền sống, [2] quyền có mức sống thích đáng, [3] quyền về sức khỏe. [4] Đến năm 1977, quyền tiếp cận nguồn nước được khẳng định rõ ràng hơn trong Báo cáo của Hội nghị Nước Liên hợp quốc diễn ra vào năm 1977 tại Mar del Plata, cụ thể: “Tất cả mọi người, bất kể trình độ phát triển cũng như điều kiện xã hội và kinh tế của họ, đều có quyền được tiếp cận với nước uống với số lượng và chất lượng đáp ứng các nhu cầu cơ bản”. [5] Ngoài ra, Đại Hội đồng cũng thông qua Nghị quyết A/RES/64/292 về quyền tiếp cận nguồn nước vào 28/7/2010, [6] khẳng định thêm về quyền này trong bất kỳ bối cảnh nào, bao gồm cả xung đột vũ trang.  Các tiêu chuẩn về nguồn nước được mô tả rõ ràng hơn trong Bình luận chung số 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 2002 (ICESCR), bao gồm: (i) Tính sẵn có (Availability), (ii) Chất lượng (Quality), và (iii) Khả năng tiếp cận (Accessibility). [7]  (i) Về tính sẵn có (Availability): Ủy ban của Công ước cho rằng nguồn cung cấp nước phải đủ và liên tục cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, thông thường bao gồm: uống, vệ sinh cá nhân (personal sanitation),  chuẩn bị thực phẩm, vệ sinh cá nhân và hộ gia đình (personal and household hygiene) . [8] Lượng nước này phải phù hợp với các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và phù hợp với điều kiện sức khỏe, khí hậu và tính chất công việc của mỗi cá nhân. [9] (ii) Về chất lượng (Quality): Nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng như sự an toàn, không chứa các vi sinh vật, các chất hóa học hay phóng xạ có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người; các vấn đề về màu sắc và mùi vị ở mức chấp nhận được đối với mỗi mục đích sử dụng khác nhau của cá nhân và hộ gia đình. [10] (iii) Về khả năng tiếp cận (Accessibility): Nước và các cơ sở, dịch vụ cung cấp nước phải được tiếp cận công bằng, không phân biệt đối xử dựa trên bốn tiêu chí liên quan mật thiết với nhau:  Khả năng tiếp cận về mặt vật lý (physical accessibility): Trong bối cảnh xung đột vũ trang, nước và các cơ sở, dịch vụ cung cấp nước liên quan phải nằm trong phạm vi tiếp cận an toàn trong mỗi hộ gia đình, cơ sở giáo dục, nơi làm việc hoặc tại khu vực phụ cận an toàn của các địa điểm trên. [11] Việc tiếp cận nguồn nước về mặt vật lý không được phương hại đến sự an toàn cá nhân của dân thường trong bối cảnh xung đột vũ trang. [12] Khả năng tiếp cận về kinh tế (economic accessibility): Trong các tình huống này, các chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc tiếp cận nguồn nước phải ở mức có thể chi trả được cho tất cả mọi người. [13] Không phân biệt đối xử (non-discrimination): Việc tiếp cận nguồn nước không được dựa trên bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, đặc biệt đối với những nhóm người dễ bị tổn thương như người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ. [14] Khả năng tiếp cận thông tin (Information accessibility): Khả năng tiếp cận thông tin bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt các thông tin liên quan đến các vấn đề về nước. [15] 1.2. Quyền tiếp cận nước đặt trong bối cảnh xung đột vũ trang Trong bối cảnh xung đột vũ trang, quyền được tiếp cận nguồn nước được coi là một quyền cơ bản và thiết yếu cho cả dân thường, tù binh chiến tranh. [16] Nguồn nước, trong bối cảnh này, được xem như một nguồn tài nguyên bị chính trị hóa và an ninh hóa bởi các bên tham chiến, bất kể trong xung đột vũ trang quốc tế (IAC) hay xung đột vũ trang phi quốc tế (NIAC). [17] Trong các cuộc xung đột, Công ước Geneva (IV) liên quan đến việc bảo vệ dân thường trong thời chiến năm 1949 cũng đã quy định về việc tiếp cận nguồn nước cho các đối tượng dân sự. Cụ thể, các lực lượng chiếm đóng có nghĩa vụ đảm bảo và không trưng dụng lương thực của dân thường, [18] bao gồm nước uống. [19] Bên cạnh đó, nguồn nước được sử dụng cho nhu cầu vệ sinh cá nhân [20] và nhu cầu thực phẩm [21] cũng cần được đảm bảo. Ngoài các quy định liên quan đến nguồn nước sử dụng cho nhu cầu sống còn của dân thường được đề cập ở Công ước Geneva (IV), Nghị định thư bổ sung I năm 1977 của Công ước Geneva năm 1949 đã mở rộng thêm về việc bảo vệ các nguồn cung cấp nước uống, công trình thủy lợi dân sự phục vụ mục đích tưới tiêu, chăn nuôi gia súc. [22] Ngoài ra, các quy định về việc cấm phá hủy các đê, đập bất kể trong trường hợp nào bao gồm cả  mục đích quân sự [23] cũng được đề cập. Bên cạnh đối tượng dân thường, trong các cuộc xung đột vũ trang, tù binh cũng có quyền tiếp cận nước sạch trong quá trình sơ tán, [24] vấn đề thực phẩm [25] và vệ sinh cá nhân [26] được quy định cụ thể trong Công ước Geneva (III) về đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh.  2. Bảo vệ nguồn nước trong Luật Nhân đạo quốc tế  Trong Luật Nhân đạo quốc tế, việc bảo vệ nguồn nước và các công trình liên quan đến nước được thể hiện thông qua nhiều quy định nhằm ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến nguồn nước cần thiết cho sự sống của dân thường và binh lính trong xung đột vũ trang, cụ thể: (i) Cấm làm cho nguồn nước trở nên không thích hợp để sử dụng; (ii) Cấm nhắm mục tiêu vào nguồn nước hoặc các công trình trên mặt nước; (iii) Cấm phá hủy các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường; và (iv) Cấm tấn công các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm.  2.1. Cấm làm cho nguồn nước trở nên không thích hợp để sử dụng Trong các cuộc xung đột vũ trang, Quy tắc Berlin về tài nguyên nước năm 2004 (sau đây gọi tắt là “Quy tắc Berlin”) quy định các bên tham chiến không được đầu độc hoặc làm cho nguồn nước thiết yếu cho sức khỏe và sự sống còn của dân thường trở nên không thích hợp để sử dụng. [27] Ngoài quy định trên, việc cấm đầu độc nguồn nước còn là quy tắc của tập quán quốc tế được thừa nhận rộng rãi, [28] được ghi nhận ở Công ước La Hay (IV) về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền và Phụ lục của Công ước: Quy chế về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền năm 1907 (sau đây gọi tắt là “Công ước La Hay (IV)”)  về việc cấm “sử dụng thuốc độc hoặc vũ khí có độc”. [29] Trước đó, Dự thảo Tuyên bố Brussels về các luật và tập quán chiến tranh năm 1874 cũng có quy định tương tự về vấn đề này. [30] Mặc dù các văn bản trước Quy tắc Berlin về tài nguyên nước không đề cập trực tiếp đến nguồn nước, các quy định này vẫn phù hợp bởi nó có phạm vi áp dụng tổng quát và mở rộng đối với tất cả các nhu cầu sống còn của dân thường, trong đó có nguồn nước. [31] 2.2. Cấm nhắm mục tiêu vào nguồn nước hoặc các công trình trên mặt nước của đối phương Nguyên tắc này được quy định tại Điều 51 Quy tắc Berlin, cụ thể gồm:  (i) Các bên tham chiến không được phép phá hủy hoặc làm chuyển hướng nguồn nước, hoặc phá hủy các công trình nước, cho các mục đích quân sự hoặc như một biện pháp trả đũa, nếu các hành động đó gây ra sự đau khổ không tương xứng cho dân thường; [32] (ii) Trong bất kỳ trường hợp nào, các bên tham chiến không được tấn công, phá hủy, di dời hoặc làm vô hiệu hóa các nguồn nước và công trình nước thiết yếu cho sức khỏe và sự sinh tồn của dân cư dân sự, nếu các hành động đó có thể được dự đoán là sẽ khiến dân cư dân sự rơi vào tình trạng thiếu nước không thỏa đáng đến mức dẫn tới tử vong do thiếu nước hoặc buộc họ phải di dời; [33] (iii) Ghi nhận các yêu cầu sống còn của bất kỳ bên xung đột nào trong việc phòng thủ lãnh thổ quốc gia chống lại sự xâm lược, một bên xung đột có thể tạm đình chỉ các lệnh cấm quy định tại khoản 1 và khoản 2 trong phạm vi các lãnh thổ dưới sự kiểm soát của chính mình khi có yêu cầu bởi nhu cầu quân sự cấp thiết; [34] và  (iv) Trong bất kỳ tình huống nào, nguồn nước và các công trình nước phải được hưởng sự bảo hộ theo các nguyên tắc và quy tắc của luật quốc tế áp dụng trong chiến tranh hoặc xung đột vũ trang, và không được sử dụng để vi phạm các nguyên tắc và quy tắc đó. [35] Việc bảo vệ nguồn nước và các công trình thủy lợi không chỉ dừng lại ở các lệnh cấm hành động trực tiếp mà còn được cụ thể hóa qua nguyên tắc tỷ lệ và bảo vệ nhu cầu sinh tồn của dân cư. [36] Ngoài ra, Công ước La Hay (IV) năm 1907 cũng có quy định tương tự tại Điều 23(g) trong các cuộc xung đột. [37] Việc các văn bản trên quy định nguồn nước phải được hưởng chế độ bảo hộ đặc biệt, tách biệt khỏi các mục tiêu quân sự nhằm duy trì các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu trong xung đột và tránh gây tổn thương cho các đối tượng dân sự.  2.3. Cấm phá hủy các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường Về mặt nguyên tắc tập quán, các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường là các vật thể dân sự và không thể được tấn công. [38] Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 14 Nghị định thư bổ sung II và Điều 54(2) Nghị định thư bổ sung I năm 1977 cho Công ước Geneva nhằm bảo vệ những đối tượng thiết yếu cho sự sống còn của dân thường trong bối cảnh xung đột vũ trang. Theo đó mọi hành vi tấn công, phá hủy, di dời hoặc làm vô hiệu hóa các đối tượng thiết yếu cho sự sống còn của dân thường bao gồm lương thực, đất nông nghiệp, cây trồng, gia súc, cũng như các công trình và nguồn cung cấp nước, công trình thủy lợi đều bị cấm. [39]   Từ góc độ nội hàm, khái niệm “đối tượng thiết yếu của dân thường” được hiểu theo nghĩa rộng, bao trùm cả các nguồn tài nguyên đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tồn tối thiểu, đặc biệt chú trọng đến nước và hệ thống thủy lợi. [40] Bên cạnh đó, luật Nhân đạo quốc tế có quy định về một số ngoại lệ cụ thể tại Điều 54(5) Nghị định thư I cho phép trong những hoàn cảnh đặc biệt, quốc gia có thể tiến hành các biện pháp ảnh hưởng đến các công trình thủy lợi như một hình thức tự vệ quốc gia, với điều kiện tồn tại nhu cầu quân sự cấp bách và mang tính bắt buộc. Đồng thời, luật quốc tế cũng không cấm việc từ chối cung cấp nước cho lực lượng vũ trang của đối phương, miễn là các biện pháp đó không ảnh hưởng đến sự sống còn của dân thường. [41] Một số tài liệu quân sự của quốc gia, chẳng hạn như sổ tay Hướng dẫn Chiến trường của Quân đội Hoa Kỳ thậm chí còn thừa nhận khả năng thực hiện các biện pháp như chuyển hướng dòng chảy hoặc làm suy giảm nguồn nước, với điều kiện các nguồn này không mang tính thiết yếu đối với dân thường. [42] 2.4. Cấm tấn công các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm (dangerous forces)   Liên quan tới việc bảo vệ các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm, Điều 56 của Nghị định thư bổ sung I năm 1977 tiếp tục củng cố nghĩa vụ bảo vệ đối với đập nước, đê điều và nhà máy điện hạt nhân. Cụ thể bao gồm các công trình hoặc cơ sở chứa các nguồn năng lượng nguy hiểm, cụ thể là đập, đê và nhà máy điện hạt nhân. [43] Thêm vào đó, ngay cả khi đây là các mục tiêu quân sự, việc tấn công chúng vẫn bị cấm nếu hành động đó có thể giải phóng các lực lượng nguy hiểm và hậu quả là gây thiệt hại nặng nề cho dân thường. [44] Quyền miễn trừ tấn công chỉ được bãi bỏ khi một trong các công trình, cơ sở hoặc cơ sở đó được sử dụng thường xuyên, đáng kể và trực tiếp để hỗ trợ các hoạt động quân sự và nếu tấn công là cách khả thi duy nhất để chấm dứt sự hỗ trợ đó. [45] 3. Thực trạng quyền tiếp cận và bảo vệ nguồn nước trong xung đột vũ trang   3.1. Vấn đề “Vũ khí hóa nguồn nước” trong xung đột vũ trang (Water Weaponization) Trong bối cảnh các xung đột vũ trang hiện đại ngày càng mang tính phi đối xứng và kéo dài, nguồn nước không chỉ còn là một tài nguyên thiết yếu mà ngày càng bị các quốc gia biến thành công cụ chiến lược phục vụ cho mục tiêu quân sự và chính trị. Hiện tượng này thường được gọi là “vũ khí hóa nguồn nước” (water weaponization), được hiểu là việc sử dụng nước và các hệ thống cấp nước như công cụ hoặc vũ khí trong các cuộc xung đột vũ trang. [46] Về mặt quân sự, các chiến thuật thường bao gồm việc cố ý gây ngập lụt thông qua phá hủy hệ thống đập và đê [47], làm ngập các khu vực canh tác để tạo tình trạng thiếu hụt lương thực [48], làm cạn kiệt tài nguyên nước tại các khu vực bị kiểm soát và làm ô nhiễm các nguồn nước bằng dầu, xác chết và chất độc hại. [49] Tuy nhiên các mục tiêu về mặt quân sự thường chỉ đóng vai trò như các công cụ ngắn hạn để phục vụ mục đích rộng hơn về mặt chính trị. Thuật ngữ “chính trị nguồn nước” (hydropolitics) gắn với việc việc thao túng hạn chế nguồn nước thông qua các thỏa thuận hợp tác không công bằng và các quyết định bất cân xứng giữa các chủ thể. [50] Có thể lấy ví dụ bằng thỏa thuận đa phương giữa Israel, Jordan và Tổ chức Giải phóng Palestine đã hạn chế đáng kể quyền tiếp cận của người Palestine đối với sông Jordan cũng như nguồn nước ngầm, qua đó đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng quốc gia của Israel. [51] Những hành vi này đặt ra thách thức nghiêm trọng với khuôn khổ của luật nhân đạo quốc tế đặc biệt là các quy định liên quan đến bảo vệ dân thường và các đối tượng thiết yếu cho sự sống còn.[52] Mặc dù các quy phạm như Điều 54 của Nghị định thư bổ sung I năm 1977 và Điều 14 của Nghị định thư bổ sung II năm 1977 đã nghiêm cấm việc sử dụng đói khát như một phương thức chiến tranh, việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi các bên tham chiến viện dẫn lý do quân sự để biện minh cho hành vi của mình. Thêm vào đó rất khó để phân biệt tính chất của các công trình nước trong chiến tranh khi vừa phục vụ mục tiêu dân sự vừa hỗ trợ hoạt động quân sự. Thực tiễn tại khu vực Trung Đông cho thấy nước ngày càng bị sử dụng như một công cụ chiến tranh, thông qua các phương thức như làm ô nhiễm nguồn nước, gây tắc nghẽn hệ thống cấp nước hoặc tạo ra lũ lụt có chủ đích.[53] Những hành vi này không chỉ gây hậu quả nhân đạo nghiêm trọng mà còn đặt ra thách thức trong việc bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật nhân đạo quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc phân biệt, tương xứng và nghĩa vụ thận trọng.[54] Một minh chứng điển hình có thể thấy trong xung đột tại Ukraine, khi quân đội nước này đã kích nổ đập trên sông Irpin vào tháng 2/2022 để làm ngập lụt hàng ngàn mẫu đất, ngăn xe tăng Nga tiến vào thủ đô Kiev (Kyiv).[55] Dù biện pháp này mang lại lợi thế quân sự nhất định, song cũng làm dấy lên tranh luận pháp lý đáng kể bởi các quy định bảo vệ đặc biệt của luật nhân đạo quốc tế chủ yếu áp dụng đối với các hành vi “tấn công”.[56] Trong khi đó, việc một quốc gia tự phá hủy cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ của mình vì nhu cầu quân sự cấp bách thường không được coi là “tấn công” theo nghĩa hẹp, ngay cả khi gây thiệt hại lớn cho dân thường. Tương tự, trong trường hợp đập Nova Kakhovka, phía Nga có thể lập luận rằng việc phá hủy công trình khi đang nằm dưới sự kiểm soát của mình là một hành vi phá hoại nội bộ, thay vì là một cuộc tấn công quân sự chống lại đối phương.[57] Cách diễn giải này trên thực tế có thể được sử dụng nhằm né tránh việc áp dụng các tiêu chuẩn bảo vệ nghiêm ngặt của luật nhân đạo quốc tế. Điều này tạo ra một “vùng xám pháp lý”, trong đó các hành vi vũ khí hóa nguồn nước không dễ dàng bị phân loại hoặc đánh giá theo các khuôn khổ pháp lý hiện hành. Hệ quả là, mặc dù hậu quả nhân đạo gây ra là hết sức nghiêm trọng, việc xác định vi phạm và truy cứu trách nhiệm pháp lý vẫn gặp nhiều trở ngại. Từ góc độ thực tiễn, nhiều cuộc xung đột gần đây cho thấy xu hướng gia tăng của việc sử dụng nước như một công cụ chiến tranh, qua đó làm nổi bật khoảng cách giữa quy phạm pháp lý hiện hành và thực tiễn áp dụng. 3.2. Vấn đề bảo vệ nguồn nước trong xung đột vũ trang  Trước những thách thức ngày càng gia tăng liên quan đến việc vũ khí hóa nguồn nước, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực nhằm củng cố cơ chế bảo vệ tài nguyên này trong bối cảnh xung đột vũ trang. Một trong những diễn đàn đáng chú ý là các cuộc họp theo Công thức Arria của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tiêu biểu là phiên họp về chủ đề “Protecting Water in Armed Conflicts” do Slovenia cùng nhiều quốc gia đồng tổ chức và nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ cả các nước thành viên và không thành viên Hội đồng Bảo an,[58] cho thấy mức độ quan tâm ngày càng gia tăng đối với vấn đề này. Sự tham gia của các tổ chức quốc tế chủ chốt như Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc không chỉ phản ánh tính chất liên ngành của vấn đề, mà còn nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa an ninh nguồn nước, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ dân thường.[59] Các tài liệu chuẩn bị cho cuộc họp đã chỉ ra rằng nước đang ngày càng trở thành “vừa là nạn nhân, vừa là công cụ của chiến tranh”, khi các cơ sở hạ tầng nước bị tấn công, phá hủy hoặc làm gián đoạn, gây ra những hậu quả nhân đạo nghiêm trọng.[60] Điều này phù hợp với xu hướng được ghi nhận trong nhiều báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình trạng khan hiếm nước và mất an ninh lương thực trong các khu vực xung đột như Gaza, Sudan hay Syria.  Đây cũng là minh chứng cho thấy xu hướng ngày càng gia tăng của cộng đồng quốc tế về vấn đề bảo vệ nguồn nước tại các điểm nóng về xung đột vũ trang nhưng thực tế vẫn chỉ đang mang tính khuyến nghị và chưa có cơ chế rõ ràng đảm bảo tính thực thi. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường trách nhiệm giải trình nhằm bảo đảm rằng nguồn nước với tư cách là điều kiện sống thiết yếu  được bảo vệ một cách thực chất trong các tình huống xung đột vũ trang.  4. Kết luận  Quyền được tiếp cận nguồn nước trong xung đột vũ trang là một quyền thiết yếu bảo đảm các điều kiện sinh tồn tối thiểu cho con người, được ghi nhận trong nhiều quy phạm của luật quốc tế. Thông qua các chuẩn mực của Luật quốc tế về Quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế, nguồn nước và các công trình liên quan được đặt dưới sự bảo vệ nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của chiến tranh đối với dân thường và các đối tượng được bảo hộ. Tuy nhiên, thực tiễn các cuộc xung đột hiện nay cho thấy nguồn nước vẫn có nguy cơ bị nhắm mục tiêu hoặc bị “vũ khí hóa”, dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng đối với đời sống con người và môi trường. Do đó, việc củng cố và bảo đảm tuân thủ các quy định của luật quốc tế liên quan đến bảo vệ nguồn nước là cần thiết nhằm duy trì các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu và bảo vệ quyền con người ngay cả trong bối cảnh xung đột vũ trang. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] UN Water, Human Rights to Water and Sanitation , ( UN Water ), https://www.unwater.org/water-facts/human-rights-water-and-sanitation , truy cập ngày 20/03/2026. [2] Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người 1948, Điều 3.  [3][4]  Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội 1966, Điều 11(1), Điều 12(1).  [5]  Nguyên văn bằng tiếng Anh: “ All peoples, whatever their stage of development and their social and economic conditions, have the right to have access to drinking water in quantities and of a quality equal to their basic needs ”. Xem thêm tại Báo cáo Hội nghị Nước Liên hợp quốc 1977, Nghị quyết II về Cung cấp nước cho cộng đồng. [6] Đại Hội đồng, Nghị quyết A/RES/64/292 về Quyền con người đối với nguồn nước và vệ sinh.  [7] [8] [9] [10] [11][12][13][14][15] Bình luận chung số 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 2002, đoạn 12.  [8] Trong bối cảnh này, “uống” có nghĩa là nước được sử dụng để tiêu thụ thông qua đồ uống và thực phẩm. “Vệ sinh cá nhân” (personal sanitation)  có nghĩa là việc xử lý chất thải của con người. Nước cần thiết cho vệ sinh cá nhân khi các phương thức vệ sinh dựa trên nước được áp dụng. “Chuẩn bị thực phẩm” bao gồm vệ sinh thực phẩm và việc chế biến thực phẩm, dù nước được sử dụng như một thành phần trong thực phẩm hay chỉ tiếp xúc với thực phẩm. “Vệ sinh cá nhân và hộ gia đình” (personal and household hygiene)  có nghĩa là sự sạch sẽ của cá nhân và vệ sinh của môi trường sinh hoạt trong gia đình . [9] Xem thêm J. Bartram and G. Howard, “Domestic water quantity, service level and health: what should be the goal for water and health sectors”, WHO, 2002.  [10] Xem thêm WHO, Guidelines for drinking water quality, ấn bản lần thứ 2, tập 1-3 (Geneva, 1993).  [16]  Mara Tignino, ‘Water in Armed Conflicts’ (International Institute of Humanitarian Law, 2024)   https://iihl.org/mara-tignino-water-in-armed-conflicts/   truy cập ngày 18/03/2026. [17] Mark Zeitoun, Karim Eid-Sabbagh, and Jeremy Loveless, “The analytical framework of water and armed conflict: a focus on the 2006 Summer War between Công ước Geneva (IV) năm 1949 về việc bảo vệ dân thường trong thời chiến đã quy định về việc tiếp cận nguồn nước cho các đối tượng dân sự trong thời chiến. Israel and Lebanon”, tr.24.  [18] [20][21][22]Công ước Geneva (IV) liên quan đến việc bảo vệ dân thường trong thời chiến, Điều 55, Điều 85(3),  Điều 89(3).  [19] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Bình luận năm 2025 về Điều 55 Công ước Geneva IV năm 1949 liên quan đến việc bảo vệ thường dân trong thời chiến   https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/gciv-1949/article-55/commentary/2025  truy cập 20/3/2026. Xem thêm Mara Tignino,   ‘Water, international peace, and security’ , International Review of the Red Cross,  Vol. 92, No. 879, September 2010, tr. 647-674 .  [23]  Nghị định thư bổ sung I, Điều 56.  [24][25][26] Công ước Geneva (III) về đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh, Điều 20(1), Điều 26(3), Điều 29(3).  [27] [32] [33][34][35] Quy tắc Berlin về tài nguyên nước 2004, Điều 50, Điều 51.  [28] [36] [44] [45] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), “Water and Armed Conflicts” , Case Study trong bộ tài liệu How Does Law Protect in War?   https://casebook.icrc.org/case-study/water-and-armed-conflicts  truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026. [29] [37]  Công ước La Hay (IV) về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền và Phụ lục của Công ước: Quy chế về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền 1907, Điều 23(a),(g). Xem thêm  Ameur Zemmali, ‘The Protection of Water in Times of Armed Conflict’ (1995) 9 International Review of the Red Cross   550 , tr. 552.   [30] Dự thảo Tuyên bố Brussels về các luật và tập quán chiến tranh 1874, Điều 13(a).  [31]  Ameur Zemmali, ‘The Protection of Water in Times of Armed Conflict’ (1995) 9 International Review of the Red Cross  550, tr. 553.  [38]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Luật Nhân đạo Quốc tế tập quán, Nguyên tắc phân biệt giữa mục tiêu dân sự và mục tiêu quân sự , https://ihl-databases.icrc.org/en/customary-ihl/v1/rule7  truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2026. [39]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) Bình luận năm 1987  về Điều 54 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư I), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/api-1977/article-54/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [40]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Bình luận năm 1987 về Điều 14 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư II), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/apii-1977/article-14/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [41] Yoram Dinstein, Siege Warfare and the Starvation of Civilians, in humanitarian law of armed conflict: challenges ahead ; frits kalshoven 145-46 (Astrid Delissen & Gerard Tania eds 1991)  [42] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Обычное мгп , Практика, связанная с Норма 54, Attacks against Objects Indispensable to the Survival of the Civilian Population,   https://ihl-databases.icrc.org/ru/customary-ihl/v2/rule54  , truy cập ngày 19/3/2026. [43]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) Bình luận năm 1987  về Điều 56 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư I), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/api-1977/article-54/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [46]  Paola Gaeta and Etienne Henry, ‘Hands Off Water in War: Weaponization of Water in the Occupied Palestinian Territory’ Opinio Juris (2025). https://opiniojuris.org/2025/07/24/hands-off-water-in-war-weaponization-of-water-in-the-occupied-palestinian-territory/ .  truy cập ngày 19/3/2026. [47] Peter H Gleick, Rivers and Water Systems as Weapons and Casualties of the Russia-Ukraine War  (2023) 11(10) Earth’s Future. [48] Cecilia Grech-Madin, Water and Warfare: The Evolution and Operation of the Water Taboo  (Routledge 2021) 84-125.  [49] Michael D King,  The Weaponization of Water in Syria and Iraq (2015) 153-69; Pacific Institute, The World’s Water. [50]  Peter P Mollinga, Water and Politics: Levels, Rational Choice and South Indian Canal Irrigation (2001) 33(8-9) Futures 733-52. [51] Mark Zeitoun and others, Analysis for Water Conflict Transformation  (2020) 45(4) Water International 365-84;  xem them  James Fergusson, In Search of the River Jordan: A Story of Palestine, Israel and the Struggle for Water  (Yale University Press 2023). [52]  Geneva Academy of International Humanitarian Law and Human Rights, Water Wars: How Sudan’s Conflict Weaponizes a Basic Human Need  (2025) https://geneva-academy.ch/water-wars-how-sudans-conflict-weaponizes-a-basic-human-need/  truy cập ngày 21/3/2026. [53][54] Yedur Mihir and Emin Carpentier, The Weaponization of Water: Water Politics in the Middle East,  Oxford Political Review (2023) https://oxfordpoliticalreview.com/2023/06/24/the-weaponization-of-water-water-politics-in-the-middle-east/   truy cập ngày 20/3/2026. [55] Antonia Zimmermann, Russia’s war on water in Ukraine  (2023) https://www.politico.eu/article/russias-war-on-water-in-ukraine ? truy cập ngày 21/3/2026. [56]  Agnieszka Szpak. The use of Water as a Weapon under International Humanitarian law with special emphasis on the destruction of the Nova Kakhovka Dam. (Studia Iuridica, 2024) https://doi.org/10.31338/2544-3135.si.2024-103.4   tr.67 [57] Milanovic M. The Destruction of the Nova Kakhovka Dam and International Humanitarian Law: Some Preliminary Thoughts,  (2023) https://www.ejiltalk.org/the-destruction-of-thenova-kakhovka-dam-and-international-humanitarian-law-some-preliminary-thoughts/  truy cập ngày 21/3/2026. [58][59]  Security Council Report, Arria-Formula Meeting on Protecting Water in Armed Conflict  (2025) https://www.securitycouncilreport.org/whatsinblue/2025/05/arria-formula-meeting-on-protecting-water-in-armed-conflict.php   truy cập ngày 21/3/2026. [60]  Slovenia, Protecting Water in Armed Conflict: Protecting Civilian Lives, https://buildingtrust.si/protecting-water-in-armed-conflict-protecting-civilian-lives/  truy cập ngày 21/3/2026.

  • [78] CƠ BẢN VỀ CÁC TỘI PHẠM QUỐC TẾ

    Tác giả:   Thái Nguyệt Anh, Cao Ngọc Khánh Linh Tóm tắt:  Luật Hình sự Quốc tế hiện đại đang phát triển ngày càng mạnh mẽ và trở thành một phần quan trọng trong luật pháp quốc tế, được xây dựng trên nhu cầu cấp thiết của cộng đồng nhằm trừng trị những tội ác nghiêm trọng, bảo vệ nền hòa bình và an ninh nhân loại. Trong quá trình hoàn thiện Luật Hình sự Quốc tế, sự ra đời của Quy chế Rome năm 1998 về thành lập Tòa án Hình sự quốc tế ICC đã xác lập thẩm quyền xét xử những tội ác vi phạm pháp luật quốc tế cho ICC, cũng như đưa ra những quy định quan trọng trong việc nhận biết và cấu thành tội phạm quốc tế. Trong bài viết này, nhóm tác giả tập trung làm rõ khái niệm và những đặc trưng về các tội phạm quốc tế, những tội phạm có tính chất nguy hiểm cao. Bài viết cũng giới thiệu những tội phạm quốc tế   thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC), được quy định chặt chẽ tại Quy chế Rome năm 1998. Qua việc phân tích, làm rõ các điều, khoản của Quy chế Rome, kết hợp so sánh sự khác biệt về tính chất, quy mô của các tội phạm quốc tế, nhóm tác giả mong muốn đem đến cái nhìn tổng quát cho độc giả về vấn đề tội phạm trong luật Hình sự Quốc tế. Từ đó, bài viết khẳng định được Quy chế Rome đã góp phần đáng kể trong việc ngăn chặn, răn đe các hành vi đặc biệt nguy hiểm cho nhân loại và giảm thiểu những hệ quả xấu do những tội ác này gây ra. Từ khóa: Tội phạm quốc tế, Quy chế Rome, tội Diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh, tội ác xâm lược Lời mở đầu   Vấn đề đấu tranh phòng chống tội phạm quốc tế là vấn đề mang tính toàn cầu đặc biệt trong bối cảnh các hành vi phạm tội ngày càng tinh vi và vượt khỏi biên giới quốc gia. Tuy nhiên, cần phải xác định không phải mọi tội phạm xuyên biên giới đều được coi là tội phạm quốc tế[1], mà tồn tại hai khái niệm khác biệt là “tội phạm quốc tế” (international crimes)  và “tội phạm mang tính quốc tế” (transnational crimes) . Nếu tội phạm quốc tế tập trung hơn vào các tội ác mang tính cốt lõi và nghiêm trọng, đe dọa đến hòa bình, an ninh và sự tồn vong của nhân loại bao gồm: tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh [2] thì tội phạm mang tính quốc tế là những hành vi xâm phạm trật tự pháp luật của một quốc gia hoặc nhiều quốc gia khác nhau và  chứa đựng “thành phần nước ngoài”, có thể kể đến như tội buôn bán ma túy và các chất hướng thần, tội buôn bán nô lệ, tội cướp biển, không tặc [3] Trong khi tội phạm mang tính quốc tế chủ yếu dựa trên luật quốc gia để truy cứu và yêu cầu sự hợp tác tương trợ tư pháp giữa các nước thì tội phạm quốc tế lại vi phạm trực tiếp các giá trị căn bản được bảo vệ bởi Luật Hình sự Quốc tế.[4] Bài viết này chủ yếu đề cập đến các khái niệm và nội dung về tội phạm quốc tế căn cứ vào hệ thống pháp luật hình sự quốc tế hiện hành và các tập quán quốc tế đương đại. 1. Khái niệm tội phạm quốc tế 1.1 Các thuật ngữ Tội phạm quốc tế hay ‘ International crimes’ là thuật ngữ dùng để chỉ các hành vi xảy ra xuyên biên giới quốc gia, vi phạm luật quốc tế và thường bị truy tố bởi các tòa án quốc tế.[5] Tuy nhiên cho đến hiện tại không có một định nghĩa thống nhất nào cho khái niệm này, ngay cả tại Điều 5 Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) cũng chỉ định nghĩa các tội phạm thuộc thẩm quyền của tòa bao gồm tội diệt chủng, tội ác chiến tranh, tội ác chống lại loài người và tội xâm lược.  Xét về nguồn gốc, khái niệm tội phạm quốc tế lần đầu được xuất hiện trong các tác phẩm của luật gia Marcus Tullius Cicero thời Đế chế La Mã với tên gọi là hostes humani generis,  có nghĩa là kẻ thù của nhân loại.[6] Khái niệm này được các học giả đương thời sử dụng để chỉ những kẻ phạm tội quốc tế như cướp biển và buôn bán nô lệ.[7] Tuy nhiên, chỉ sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khi các Tòa án Nuremberg và Tokyo được thành lập để truy tố các nhà lãnh đạo phát xít về những tội ác nghiêm trọng, thì tội phạm quốc tế mới chính thức được pháp điển hóa và hình thành hệ thống khái niệm tương đối hoàn chỉnh như ngày nay.[8] Trong vụ án Hostages (tạm dịch: Con tin) năm 1948, tội phạm quốc tế được tòa Nuremberg định nghĩa là “ một hành vi được công nhận rộng rãi là tội phạm, được coi là vấn đề nghiêm trọng của mối quan ngại quốc tế và vì một số lý do chính đáng không thể để thuộc thẩm quyền độc quyền của quốc gia có quyền kiểm soát nó trong hoàn cảnh bình thường ”.[9] Nói cách khác, khái niệm này chỉ ra rằng những tội ác nghiêm trọng đến mức vượt ra ngoài lợi ích riêng của một quốc gia, thì việc xử lý chúng nên trở thành trách nhiệm chung của cộng đồng quốc tế. Có thể thấy từ khá sớm, cộng đồng quốc tế đã có các nỗ lực trong việc định nghĩa tội phạm quốc tế, và khái niệm này đang ngày càng phát triển dưới sự dẫn dắt của Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC).  Ngược lại, trong học thuật vẫn tồn tại những tranh luận đáng chú ý về phạm vi chủ thể của tội phạm quốc tế. Theo Antonio Cassese [10], tội phạm quốc tế về bản chất là những hành vi làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân trực tiếp theo luật quốc tế, kể cả trong trường hợp hành vi đó được thực hiện nhân danh hoặc thông qua bộ máy nhà nước; do đó, trọng tâm của khái niệm này nằm ở việc cá nhân bị truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế. Trong khi đó, Cherif Bassiouni [11] tiếp cận theo hướng rộng hơn, cho rằng việc xác định tội phạm quốc tế không chỉ dựa trên yếu tố trách nhiệm cá nhân, mà còn phải xét đến tính chất xâm hại nghiêm trọng đối với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế và bối cảnh thực hiện tội phạm, qua đó để ngỏ khả năng coi các hành vi được thực hiện bởi những cấu trúc hoặc thực thể mang tính tập thể cũng thuộc phạm vi tội phạm quốc tế. Sự khác biệt này cho thấy tranh luận chủ yếu xoay quanh việc xác định phạm vi chủ thể và nền tảng trách nhiệm của tội phạm quốc tế. Nhìn chung, cho đến nay, luật quốc tế vẫn chưa hình thành được một định nghĩa thống nhất và được thừa nhận rộng rãi về tội phạm quốc tế, cũng như chưa có tiêu chí chung nào được thiết lập để xác định phạm vi và nội dung của tội phạm quốc tế, mà hiện tại cơ bản chỉ đề cập đến nghĩa hẹp và các hành vi cốt lõi cụ thể (như trong quy chế tòa ICC). Do đó bài viết chỉ xem xét đến các loại tội danh nghiêm trọng và cốt lõi đã được pháp điển hóa.  1.2 Đặc trưng của tội phạm quốc tế Trong học thuật, tuy vẫn tồn tại những cách tiếp cận khác nhau về việc xác định đặc trưng của tội phạm quốc tế, các học giả nhìn chung đều xoay quanh một số tiêu chí cốt lõi, như: hành vi phải xâm phạm những lợi ích và giá trị chung của cộng đồng quốc tế; làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân trực tiếp theo luật quốc tế; không phụ thuộc hoàn toàn vào việc nội luật hóa của quốc gia; và gắn liền với các cơ chế thẩm quyền và thực thi đặc biệt.[12] Trên cơ sở tổng hợp các quan điểm tiêu biểu, có thể rút ra ba tiêu chí pháp lý cơ bản để nhận diện tội phạm quốc tế. Thứ nhất , tội phạm quốc tế là những hành vi xâm phạm trực tiếp các lợi ích và giá trị nền tảng mà toàn thể cộng đồng quốc tế cùng quan tâm, như hòa bình, an ninh quốc tế và nhân phẩm con người.[13] Chính tính chất xâm hại đến các giá trị chung này là cơ sở làm phát sinh lợi ích chung của cộng đồng quốc tế trong việc trấn áp các tội ác, qua đó biện minh cho sự can dự của các quốc gia và các thiết chế quốc tế vượt ra ngoài phạm vi lợi ích quốc gia thuần túy. Thứ hai , tội phạm quốc tế làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân trực tiếp theo luật quốc tế. Một hành vi chỉ có thể được coi là tội phạm quốc tế khi, trước hết, nó làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân; đồng thời, hành vi đó bị cấm bởi luật quốc tế, cho dù pháp luật quốc gia chưa hoặc không hình sự hóa hành vi tương ứng.[14] Cách tiếp cận này cho thấy Luật Hình sự Quốc tế tác động trực tiếp đến cá nhân với tư cách là chủ thể của luật quốc tế, thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cơ chế truy cứu trách nhiệm của pháp luật trong nước. Thứ ba , tội phạm quốc tế gắn liền với các cơ chế thẩm quyền và thực thi đặc biệt của cộng đồng quốc tế. Ở góc độ thực thi, một hành vi chỉ thực sự mang tính chất tội phạm quốc tế khi nó kéo theo các hệ quả pháp lý đặc thù, như mở rộng thẩm quyền tài phán, hạn chế hoặc loại trừ miễn trừ, cũng như đặt ra nghĩa vụ truy tố hoặc dẫn độ đối với các quốc gia.[15] Điều này cho thấy tính “quốc tế” của tội phạm không chỉ thể hiện ở nội dung bị cấm, mà còn ở cách thức cộng đồng quốc tế tổ chức xử lý và trừng trị các hành vi đó. Từ các cách tiếp cận trên, có thể khẳng định rằng tội phạm quốc tế không đơn thuần là những tội phạm có mức độ nghiêm trọng cao trong pháp luật quốc gia, mà là các hành vi xâm phạm trực tiếp trật tự pháp lý và các giá trị chung của cộng đồng quốc tế, làm phát sinh trách nhiệm hình sự cá nhân theo luật quốc tế và được gắn với những cơ chế thẩm quyền, thực thi đặc thù nhằm ngăn ngừa tình trạng bỏ lọt tội phạm. 2. Các tội phạm quốc tế thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Hình sự quốc tế (ICC) 2.1. Diệt chủng (Genocide) Tội Diệt chủng (Genocide), theo Nghị quyết 96 (I) về tội ác Diệt chủng của Đại hội đồng Liên hợp quốc, là “hành vi phủ nhận quyền tồn tại của toàn bộ một nhóm người”.[16] Đến năm 1948, Công ước Liên hợp quốc về Phòng ngừa và Trừng phạt tội Diệt chủng (Công ước Liên hợp quốc về tội Diệt chủng) tiếp tục định nghĩa tội ác trên là “hành vi   được thực hiện với với ý định tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần một quốc gia, dân tộc, chủng tộc hoặc tôn giáo với tư cách là chính nhóm đó”.[17] Diệt chủng nhắm đến một người, hoặc một nhóm người không vì lý do nào khác ngoài lý do nạn nhân là thành viên thuộc nhóm của họ. Đây là tội ác mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, là “tội ác của tội ác”.[18]                         Theo Quy chế Rome, tội Diệt chủng được cấu thành nếu chủ thể tiến hành bất cứ hành vi nào trong 05 hành vi sau: (i) Giết hại các thành viên của nhóm; (ii) Gây ra những tổn thương nghiêm trọng về thể chất hoặc tinh thần cho các thành viên của nhóm; (iii) Cố ý áp đặt lên nhóm các điều kiện sống nhằm mục đích hủy hoại một phần hoặc toàn bộ nhóm đó; (iv) Đặt ra các biện pháp nhằm ngăn chặn việc sinh sản trong nội bộ nhóm; (v) Cưỡng ép chuyển giao trẻ em của nhóm này sang nhóm khác.[19] Việc quy định cụ thể và giới hạn trong 05 nhóm hành vi này cho thấy tính chất đặc thù của tội Diệt chủng trong Luật Hình sự Quốc tế. Đồng thời, cách quy định này cũng tạo ra một khuôn khổ pháp lý thống nhất để trừng trị tội ác một cách minh bạch, tránh việc áp dụng luật một cách tùy tiện hoặc mở rộng quá mức đối với các hành vi khác không được quy định tại điều 6 của Quy chế Rome.           Khi thực hiện tội ác Diệt chủng, chủ thể phải thực hiện hành vi đó với mục tiêu, ý định nhằm tiêu diệt các nhóm người được bảo vệ ( protected groups ) hoặc nhằm tiêu diệt nhóm người đó thông qua việc tấn công các thành viên của nhóm.[20] Cụ thể, thuật ngữ dolus speciali s hay special intent  ( ý định đặc biệt )   chính là yếu tố quyết định khi xem xét một hành vi có được coi là hành vi diệt chủng hay không. Ý định này nằm ở bậc cao hơn so với những ý định thông thường ( general intent ) của chủ thể [21] và cũng chính là đặc điểm cốt lõi để phân biệt tội ác Diệt chủng với các tội phạm nghiêm trọng khác. Đối với các tội phạm có ý định thông thường, chủ thể chỉ tập trung vào việc gây ra kết quả là cái chết của các cá nhân cụ thể. Tuy nhiên, đối với tội Diệt chủng, việc sát hại cá nhân chỉ được coi là phương tiện để thực hiện mục tiêu xa hơn: tiêu diệt toàn bộ hoặc một phần của một nhóm đặc thù “với tư cách là chính nhóm đó” ( as such ). [22] Nói cách khác, nạn nhân của tội ác Diệt chủng không bị tấn công vì danh tính cá nhân hay sự thù ghét riêng lẻ, mà vì họ là thành viên của một nhóm người mà tội phạm Diệt chủng muốn xóa sổ.  Như vậy, nếu chứng minh được chủ thể thực hiện tội phạm với dolus specialis  nhắm vào bất kỳ ai hay nhóm nào vì là thành viên của nhóm họ với mong muốn xóa sổ sự tồn tại của nhóm đó về mặt vật lý và sinh học thì hành vi đó có khả năng cấu thành tội phạm Diệt chủng. 2.2 Tội ác chống lại loài người (Crime against humanity) Tội ác chống lại loài người (crime against humanity) đã xuất hiện lâu đời, xuyên suốt sự phát triển và tiêu vong của nền văn minh nhân loại.[23] Tuy nhiên, những ghi chép và quy định về tội chống lại loài người vẫn còn rời rạc và thiếu thống nhất, không được cụ thể như tội diệt chủng (Genocide) hay tội ác chiến tranh (War crime).[24] Tội ác này chỉ được ghi nhận trong vài thập kỷ gần đây và lần đầu được nhắc đến vào năm 1915 khi Pháp, Nga và Vương quốc Anh cho ra đời một tuyên bố chung lên án mạnh mẽ cuộc thảm sát người Armenia của Thổ Nhĩ Kỳ.[25] Tội ác chống lại loài người được xác lập nếu chủ thể thực hiện những hành vi: (i) giết người; (ii) tiêu diệt trên diện rộng: Bao gồm việc cố ý áp đặt các điều kiện sống (như tước đoạt lương thực, thuốc men) nhằm hủy diệt một phần dân cư; (iii) nô dịch; (iv) trục xuất hoặc cưỡng bức di dời dân cư; (v) tù giam hoặc tước đoạt tự do thân thể nghiêm trọng khác vi phạm các quy tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; (vi) tra tấn; (vii) cưỡng hiếp, nô lệ tình dục, cưỡng dâm, cưỡng ép mang thai, cưỡng ép triệt sản, hoặc bất kỳ hình thức bạo lực tình dục nào khác có mức độ nghiêm trọng tương đương; (viii) ngược đãi: Tước đoạt nghiêm trọng các quyền cơ bản nhắm vào một nhóm hoặc một tập thể có thể nhận dạng được dựa trên các lý do chính trị, chủng tộc, quốc gia, sắc tộc, văn hóa, tôn giáo, giới tính hoặc các lý do khác đã được quốc tế thừa nhận là không thể chấp nhận được; (ix) cưỡng ép mất tích; (x) tội ác phân biệt chủng tộc Apartheid; (xi) các hành vi vô nhân đạo khác có tính chất tương tự, cố ý gây ra đau đớn tột cùng hoặc tổn thương nghiêm trọng đến thân thể, sức khỏe tâm thần hoặc thể chất.[26] Có thể thấy, tội ác chống loài người được hình thành với nhiều hành vi cụ thể như giết người trên diện rộng, cưỡng bức, nô dịch, tra tấn dã man cùng với các hành vi vô nhân tính có tính chất tương tự đã chứng minh được tính linh hoạt trong việc xác định tội danh trên, cho phép việc mở rộng lập luận và xác định cho những hành vi chưa có ghi chép cụ thể. Điểm khác biệt quan trọng của tội ác chống loài người với tội ác diệt chủng đó là trong khi tội ác diệt chủng nhấn mạnh vào mục tiêu đặc biệt: tiêu diệt một nhóm người, cộng đồng, tôn giáo, quốc gia, sắc tộc, tôn giáo (là những nhóm người được bảo vệ) của chủ thể, thì tội ác chống lại loài người (crime against humanity) tập trung vào quy mô và tính có hệ thống của tội ác.[27] Đó phải là tội phạm có quy mô trên diện rộng. Chủ thể thực hiện tội phạm có kế hoạch, mục tiêu cụ thể nhắm bất kỳ ai, không quan trọng họ thuộc nhóm nào như tội diệt chủng, có thể bao gồm cả các nhóm dân thường, nhóm có tư tưởng chính trị khác biệt, hay nhóm có xu hướng tính dục đặc biệt.[28]  2.3 Tội ác chiến tranh (war crime) Quy chế Rome quy định về tội ác chiến tranh (war crime) khá phức tạp và bao gồm nhiều hành vi. Tuy nhiên, về cơ bản tội ác chiến tranh có thể được chia làm: (i) các hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với các Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 [29] và (ii) các hành vi vi phạm nghiêm trọng đối với các luật lệ và tập quán áp dụng trong xung đột vũ trang quốc tế cũng như phi quốc tế trong khuôn khổ của luật quốc tế.[30] Cụ thể hơn, Quy chế Rome cũng quy định về các nhóm hành vi nhắm đến các đối tượng làm cấu thành tội ác chiến tranh: Thứ nhất  là các hành vi nhắm đến các đối tượng được gọi là hors de combat (ngoài vòng chiến đấu) . Hors de combat  được xác định là những người: bị thương và bệnh tật thuộc lực lượng vũ trang trên bộ,[31] bị thương, bệnh tật và đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển,[32] tù binh chiến tranh [33] và dân thường.[34] Đây là nhóm đối tượng đặc biệt, được pháp luật quốc tế bảo vệ. Nếu chủ thể có bất cứ hành vi nào được quy định trong điều 8 khoản 2 của Quy chế Rome đối với nhóm người này, tội ác chiến tranh của chủ thể được xác lập và được coi là những vi phạm nghiêm trọng [35] đối với các Công ước Geneva năm 1949. Thứ hai  là hành vi nhắm đến các công trình, di sản có tính chất lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và các công trình không phải là mục tiêu quân sự (như bệnh viện, trường học). Trong bối cảnh xung đột vũ trang quốc tế hay phi quốc tế, mọi hành vi phá hủy, làm hư hại di sản văn hóa của nhân loại hay các cơ sở giáo dục, tôn giáo đều là các vi phạm nghiêm trọng, từ đó dẫn đến cấu thành tội phạm chiến tranh. Thực tiễn quy định đã được cụ thể hóa qua vụ án Prosecutor v. Ahmad Al Faqi Al Mahdi đã được xét xử tại ICC. Trong cuộc xung đột vũ trang ở Mali do nhóm phiến quân Hồi giáo Ansar Dine gây ra, Ahmad Al Faqi Al Mahdi, thành viên của hội nhóm này đã bị ICC tuyên án phạm tội ác chiến tranh khi ra lệnh phá hủy các công trình tôn giáo và văn hóa ở Timbuktu, Mali.[36] Như vậy, có thể khẳng định rằng luật pháp quốc tế luôn coi trọng và bảo vệ những giá trị văn hóa, tinh thần của nhân loại. Có thể thấy, những quy định về tội ác chiến tranh được quy định tại các Công ước và các luật lệ, tập quán quốc tế, đặc biệt là tại Quy chế Rome đã góp phần quan trọng trong việc bảo vệ những người yếu thế và bảo tồn những giá trị văn hóa trước sự tàn phá của chiến tranh. 2.4. Tội ác xâm lược (Aggression) Tội ác xâm lược (Aggression) có tiền thân là tội ác chống hòa bình (Crime against peace), lần đầu được hình thành và trao quyền xét xử cho Tòa án Quân sự quốc tế Nuremberg sau những thảm kịch do Đức Quốc xã gây ra trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.[37] Tội danh này được định nghĩa là những hành vi: “ Lập kế hoạch, chuẩn bị, khơi mào hoặc tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược, hoặc một cuộc chiến tranh vi phạm các điều ước, thỏa thuận hoặc cam kết quốc tế, hoặc tham gia vào một kế hoạch chung hay một âm mưu nhằm thực hiện bất kỳ hành vi nào nêu trên ”.[38] Thực chất, khi Quy chế Rome ra đời vào năm 1998, tội ác xâm lược chưa được định nghĩa một cách rõ ràng và cụ thể, hay được quy định về thẩm quyền xét xử của tòa ICC.[39] Phải đến Hội nghị Kampala (2010) thì các nước mới đồng ý sửa đổi và bổ sung vào Quy chế Rome và đưa tội ác xâm lược trở thành một trong những tội ác nghiêm trọng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) vào năm 2017. [40] Theo đó, định nghĩa về tội ác xâm lược được kế thừa và bổ sung thêm một số điểm mới: Bởi một người ở vị trí có khả năng kiểm soát hoặc chỉ đạo một cách hiệu quả các hành động chính trị hoặc quân sự của một quốc gia, và hành vi đó cấu thành một sự vi phạm rõ rệt đối với Hiến chương Liên hợp quốc ”.[41]  Quy chế Rome bổ sung thêm định nghĩa về tội ác xâm lược là được thực hiện bởi “ một người có khả năng lãnh đạo, kiểm soát ” đã giúp người đọc phân biệt được sự khác biệt của tội ác xâm lược đối với các tội phạm quốc tế khác. Định nghĩa trong Quy chế Rome đã làm rõ hơn về chủ thể của tội phạm: các nhà lãnh đạo. Bởi, tội ác xâm lược chỉ có thể được thực hiện bởi giới lãnh đạo, những người có khả năng lập kế hoạch và nằm quyền đối với quân đội của quốc gia, chỉ có thể được thực hiện trên danh nghĩa là một quốc gia và là một phần của kế hoạch hoặc chính sách của quốc gia đó thay vì là một chủ thể hoặc cá nhân riêng lẻ.[42] Nói cách khác, đây là tội ác của những nhà cầm quyền (leadership crime).   Tội ác xâm lược được cấu thành nếu các hành vi sau được tiến hành: (i) xâm chiếm lãnh thổ hoặc sáp nhập lãnh thổ nước khác vào nước mình; (ii) ném bom, tên lửa, bắn, phá lãnh thổ nước khác; (iii) dùng tàu chiến/máy bay vây hãm cảng biển hoặc bờ biển, không cho tàu thuyền ra vào; (iv) tấn công thẳng vào quân đội, tàu chiến hoặc máy bay của nước khác (kể cả khi chúng đang ở vùng biển quốc tế); (v) cho phép nước khác dùng lãnh thổ nước mình để tấn công nước thứ ba.[43] Tuy vậy, rất khó để xác định một quốc gia phạm tội ác xâm lược cũng như để tòa ICC trực tiếp xét xử. Hành vi được thực hiện phải cho thấy đây là tội phạm được thực hiện bởi (i) những người giữ vị trí lãnh đạo trong một quốc gia và (ii) đã tham gia lập kế hoạch, chuẩn bị, khơi mào, điều phối và (iii) phải dẫn đến, hiện thực hóa cuộc xâm lược đó.[44] Cùng với đó là tính chất (character), quy mô (scale) và mức độ nghiêm trọng (gravity) cũng phải được ghi nhận là việc vi phạm rõ rệt [45] Hiến chương Liên hợp quốc. Chỉ khi xem xét tổng thể và chứng minh được 03 yếu tố này đã tạo nên một vi phạm rõ rệt như Hiến chương Liên hợp quốc đã quy định thì tòa ICC mới có thể xác định đó là hành vi xâm lược.[46] Tựu trung, mặc dù việc xác định và xét xử tội ác xâm lược vẫn tồn tại nhiều khó khăn, nhưng việc đưa tội ác này làm một trong những tội phạm được đưa ra xét xử dưới thẩm quyền của ICC, cũng như có những quy định rõ ràng trong Quy chế Rome đã cho thấy những bước tiến quan trọng của luật pháp quốc tế. Từ đó cho thấy ngay cả những nguyên thủ quốc gia cũng có thể bị xét xử nếu phạm phải tội ác làm nguy hại đến quốc gia khác, xâm phạm đến an ninh và nền hòa bình thế giới: “Khơi mào một cuộc chiến tranh xâm lược... không chỉ là một tội ác quốc tế; nó là tội ác quốc tế tối cao, chỉ khác biệt với các tội ác chiến tranh khác ở chỗ nó chứa đựng trong mình toàn bộ sự tích tụ tàn ác của tất cả các tội ác khác”.[47] 3. Kết luận  Qua việc phân biệt cơ bản tội phạm quốc tế (International crimes) với tội phạm mang tính quốc tế (Transnational crimes), phân tích các thuật ngữ, các đặc trưng của tội phạm quốc tế  cũng như làm rõ tính nghiêm trọng của chúng, bài viết cung cấp góc nhìn sâu rộng và đa chiều hơn về những tội ác có tính chất đặc biệt nguy hiểm, gây tổn hại nặng nề cho sự phát triển của nhân loại. Từ đó có thể thấy sự hợp tác tích cực trên tinh thần trách nhiệm cao của các quốc gia đóng vai trò không thể thiếu trong cuộc chiến xóa bỏ những tội ác đi ngược lại với lịch sử văn minh loài người. Đồng thời, cũng cho thấy những điều ước quốc tế, những quy chế được các nước đồng thuận thông qua, đặc biệt là Quy chế Rome năm 1998 về thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) là một bước tiến vượt bậc trong nỗ lực chống lại các tội phạm quốc tế. Nỗ lực này đã kiềm chế đáng kể những hành vi của các chủ thể có ý định thực hiện tội ác, trừng phạt thích đáng những kẻ gây tổn hại cho an ninh nhân loại và xoa dịu nỗi đau của những nạn nhân.  DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO:  [1][2]Robert Cryer, Håkan Friman, Darryl Robinson and Elizabeth Wilmshurst,  An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (CUP 2007) 3-5. [3]Nguyễn Thị Thuận, Luật Hình sự Quốc tế  (NXB Công an Nhân dân 2007) 24. [4]Neil Boister, ‘Transnational Criminal Law?’ (2003) 14 European Journal of International Law  953, 967–77. [5]Legal Information Institute, ‘International Crimes’ (Cornell Law School, 2023).x   https://www.law.cornell.edu/wex/international_crimes  Truy cập ngày 03/01/2026. [6][7][11]M Cherif Bassiouni, ‘International Crimes: The Ratione Materiae  of International Criminal Law’ in M Cherif Bassiouni (ed), International Criminal Law: Sources, Subjects and Contents  (vol I, 3rd edn, Martinus Nijhoff 2008) 129-203. [8]International Crimes Database, ‘Introduction of International Crimes’   https://www.internationalcrimesdatabase.org/crimes/introduction  Truy cập ngày 03/01/2026. [9]Quincy Wright, ‘The Law of the Nuremberg Trial’ (1947) 41(1) American Journal of International Law  38, 56. [10] Đọc thêm Cẩm nang luật hình sự quốc tế năm 2003 của Cassese giải thích rằng tội phạm quốc tế có thể được định nghĩa là “vi phạm các quy tắc quốc tế kéo theo trách nhiệm hình sự cá nhân của các cá nhân có liên quan (trái ngược với trách nhiệm của Nhà nước mà các cá nhân có thể hành động với tư cách là cơ quan)”. [12][14]Gerhard Werle, Principles of International Criminal Law  (2nd edn, TMC Asser Press 2009) 29. [13]Antonio Cassese, International Criminal Law  (OUP 2003) 23. [15]Yasmin Naqvi, Impediments to Exercising Jurisdiction over International Crimes  (TMC Asser Press 2010) 31. [16]UN General Assembly, Resolution 96 (I): The crime of Genocide (11 December 1946) UN Doc A/RES/96(I). [17]Convention on the Prevention and Punishment of the Crime of Genocide (Genocide Convention) (adopted 9 December 1948, entered into force 12 January 1951) 78 UNTS 277. [18]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (4th edn, Cambridge University Press 2019) 203. [19] Rome Statute of the International Criminal Court   (Rome Statute)  (last amended 2010) 2187 UNTS 3, art 6. [20]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 220. [21][22] Rome Statute (n 19) art 30. [23]Jean Graven, ‘Les crimes contre l’humanité’ (1950-I) 76 Recueil des Cours 427, 433. [24]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 230. [25]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 230-231. [26] Rome Statute  (n 19) art 7. [27]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 244. [28]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 206. [29]Xem thêm bốn Công ước Geneva 1949, bao gồm: Geneva Convention (I) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field; Geneva Convention (II) for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick and Shipwrecked Members of Armed Forces at Sea; Geneva Convention (III) relative to the Treatment of Prisoners of War; và Geneva Convention (IV) relative to the Protection of Civilian Persons in Time of War.  [30]Rome Statute (n 20) art 8(2). [31]Geneva Convention for the Amelioration of the Condition of the Wounded and Sick in Armed Forces in the Field (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 31 (Geneva Convention I) art 50. [32]Geneva Convention for the Amelioration of the Condition of Wounded, Sick and Shipwrecked Members of Armed Forces at Sea (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 85 (Geneva Convention II) art 51. [33]Geneva Convention relative to the Treatment of Prisoners of War (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 135 (Geneva Convention III) art 130. [34]Geneva Convention relative to the Protection of Civilian Persons in Time of War (adopted 12 August 1949, entered into force 21 October 1950) 75 UNTS 287 (Geneva Convention IV) art 147. [35]Nguyên văn dùng cụm “ grave beaches ”. [36]Prosecutor v Ahmad Al Faqi Al Mahdi (Judgment and Sentence) ICC-01/12-01/15 (27 September 2016).  [37]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 313. [38]Charter of the International Military Court (London Charter) (adopted 8 August 1945) 82 UNTS 279 art 6a. [39]Coalition for the International Criminal Court, “The Crime of Aggression” < https://coalitionfortheicc.org/crime-aggression-July-2025 > truy cập ngày 03/01/2026. [40] ICC, The Crime of Aggression  (11 June 2010) Res RC/Res.6. [41][43] Rome Statute (n 19) art 8 bis . [42]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 318. [44]Robert Cryer et al., An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010) 318. [45]Nguyên văn trong Rome Statute sử dụng cụm “ manifest violation ”. [46]International Criminal Court, Assembly of States Parties, 'Resolution RC/Res.6: The Crime of Aggression' (11 June 2010), Annex III, Understanding No. 6 and No. 7. [47] Trial of the Major War Criminals before the International Military Tribunal  (Nuremberg, 14 November 1945 - 1 October 1946) vol 22, 427.

  • [77] NỘI HÀM CỦA NGUYÊN TẮC PHÂN BIỆT THEO LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ

    Tác giả: Đỗ Kim Ngân, Lê Thùy Dung Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích nguyên tắc phân biệt trong Luật Nhân đạo Quốc tế với vai trò xác định ranh giới giữa dân thường và chiến binh, giữa mục tiêu dân sự và mục tiêu quân sự trong xung đột vũ trang. Trên cơ sở điều ước quốc tế, luật tập quán và án lệ, bài viết khẳng định tính chất nền tảng và ràng buộc phổ quát của nguyên tắc này. Thông qua thực tiễn một số xung đột vũ trang hiện đại, bài viết chỉ ra những thách thức trong việc áp dụng nguyên tắc phân biệt để từ đó nhấn mạnh ý nghĩa của nguyên tắc này trong việc đánh giá tính hợp pháp của các hành vi tấn công. Từ khóa: chiến binh, dân thường, Luật Nhân đạo Quốc tế, mục tiêu hợp pháp, nguyên tắc phân biệt, tính hợp pháp tấn công, xung đột vũ trang.  Mở đầu Luật Nhân đạo Quốc tế ra đời với mục tiêu cốt lõi là hạn chế những hậu quả nhân đạo nghiêm trọng do xung đột vũ trang gây ra thông qua việc điều chỉnh cách thức tiến hành chiến tranh và bảo vệ những đối tượng không hoặc không còn tham gia vào các hoạt động thù địch. Trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang hiện đại ngày càng mang tính phức tạp, lan rộng và khó kiểm soát thì việc bảo đảm ranh giới pháp lý giữa các chủ thể và đối tượng được phép tấn công trở thành yêu cầu đặc biệt cấp thiết. Trong hệ thống các nguyên tắc nền tảng của Luật Nhân đạo quốc tế (LNĐQT), nguyên tắc phân biệt giữ vai trò trung tâm khi thiết lập giới hạn cơ bản giữa dân thường và chiến binh, giữa mục tiêu dân sự và mục tiêu quân sự. Nguyên tắc này không chỉ định hướng hành vi của các bên tham chiến mà còn trực tiếp quyết định phạm vi bảo hộ con người trong xung đột vũ trang. Do đó, việc phân tích nội hàm, cơ sở pháp lý và khả năng vận dụng của nguyên tắc phân biệt có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tính hợp pháp của các hành vi quân sự trong thực tiễn hiện nay. 1. Khái quát về nguyên tắc phân biệt Nguyên tắc phân biệt là một nguyên tắc quan trọng trong LNĐQT. Nguyên tắc này được ghi nhận lần đầu trong công ước Geneva 1949 và được cụ thể hóa tại Điều 48 Nghị định thư bổ sung I. Nguyên tắc phân biệt là một trong các nguyên tắc nhằm xác định phạm vi bảo vệ của LNĐQT.   Theo Điều 48 Nghị định thư bổ sung I, các bên tham gia xung đột chỉ được tấn công trực tiếp vào các mục tiêu quân sự,   được xác định là những mục tiêu có đóng góp hiệu quả cho hành động quân sự và việc phá hủy hoặc vô hiệu hóa mục tiêu đó mang lại lợi thế quân sự nhất định. Như vậy, có thể hiểu rằng các cuộc tấn công vào bất kỳ mục tiêu nào, ngoài các mục tiêu có tính chất như trên, đều trái với LNĐQT. Nguyên tắc phân biệt là một nguyên tắc có tính chất tập quán, áp dụng đối với cả xung đột vũ trang quốc tế và phi quốc tế,[1] ràng buộc các cả các quốc gia không tham gia ký kết Nghị định thư bổ sung I, loại trừ khả năng các chủ thể tham chiến viện dẫn sự không ràng buộc bởi văn kiện này để loại bỏ trách nhiệm pháp lý khi gây ra thiệt hại cho dân thường và các mục tiêu dân sự. Thông qua đó, nguyên tắc phân biệt mở rộng tối đa khả năng bảo vệ con người, cụ thể là dân thường trong các cuộc xung đột vũ trang và đồng thời là cơ sở pháp lý để xác định cấu thành tội ác chiến tranh trong luật hình sự quốc tế.  2. Nội hàm nguyên tắc phân biệt trong Luật Nhân đạo Quốc tế 2.1. Dân thường  Theo LNĐQT, khái niệm dân thường được xác định bằng phương pháp loại trừ: mọi cá nhân không thuộc lực lượng vũ trang của các bên tham chiến đều được coi là dân thường.[2] Theo đó, những người không được sáp nhập vào lực lượng vũ trang có tổ chức, không chịu sự chỉ huy quân sự và không có tư cách chiến binh, điển hình như y, bác sĩ hoặc nhân viên cứu trợ dân sự, được coi là không thuộc lực lượng vũ trang, dù họ có thể hoạt động trong khu vực xung đột hoặc phục vụ nhu cầu của các bên tham chiến.[3] Cách tiếp cận này thể hiện rõ định hướng bảo hộ tối đa của LNĐQT vì đây là sự mở rộng hành động bảo vệ cho mọi cá nhân không chứng minh được tư cách chiến binh. Cách hiểu này được củng cố mạnh mẽ bởi thực tiễn quốc gia và án lệ quốc tế. Trong phán quyết của mình ở vụ Blaškić năm 2000, Tòa án Hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ đã khẳng định dân thường là những người không phải hoặc không còn là thành viên của lực lượng vũ trang.[4] Một nội dung cốt lõi gắn liền với cách xác định này là nguyên tắc suy đoán có lợi cho dân thường. Theo đó, trong trường hợp tồn tại nghi ngờ về tư cách của một người thì người đó phải được coi là dân thường.[5] Quy tắc này nhằm ngăn chặn việc suy đoán bất lợi dẫn đến các cuộc tấn công trái pháp luật. Đồng thời, quy tắc xác lập nghĩa vụ đánh giá và áp dụng sự thận trọng cần thiết thuộc về bên tiến hành tấn công.  Bên cạnh cá nhân dân thường, Luật Nhân đạo Quốc tế còn dành sự bảo vệ đặc biệt cho cộng đồng dân thường, được hiểu là toàn bộ tập hợp những người mang tư cách dân thường.[6] Đáng chú ý, sự hiện diện của một số cá nhân không phải dân thường trong cộng đồng này cũng không làm mất đi tính chất dân sự của toàn bộ cộng đồng.[7] Ví dụ, một khu dân cư vẫn được coi là cộng đồng dân thường dù có sự hiện diện đơn lẻ của binh lính hoặc phần tử vũ trang.[8] Hoặc khu dân cư vẫn được coi là cộng đồng dân thường dù một số dân thường cầm vũ khí để tự vệ tức thời trước các cuộc tấn công mà chưa được sáp nhập vào lực lượng vũ trang có tổ chức.[9] Quy định này có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh xung đột vũ trang hiện đại bởi nó ngăn chặn việc hợp pháp hóa các cuộc tấn công bừa bãi chỉ dựa trên sự hiện diện đơn lẻ của phần tử vũ trang.   Tuy nhiên, sự bảo vệ mà LNĐQT dành cho dân thường không mang tính tuyệt đối. Trong trường hợp dân thường trực tiếp tham gia vào các hoạt động thù địch thì họ sẽ tạm thời mất đi sự bảo vệ khỏi các cuộc tấn công.[10] Sự tạm thời ấy là chỉ trong thời gian và chừng mực gắn liền với hành vi tham gia đó.[11] Điều này có nghĩa là việc dân thường tham gia trực tiếp vào các hoạt động thù địch không làm thay đổi tư cách dân sự của họ một cách lâu dài. Khác với chiến binh, dân thường chỉ trở thành mục tiêu tấn công hợp pháp trong khoảng thời gian thực hiện hành vi thù địch. Ngay khi hành vi đó chấm dứt, họ sẽ được khôi phục đầy đủ sự bảo vệ theo LNĐQT.[12]  2.2. Chiến binh Theo Luật Nhân đạo Quốc tế, lực lượng vũ trang của một bên tham chiến được hiểu là các lực lượng, nhóm và đơn vị có tổ chức hoạt động dưới sự chỉ huy có trách nhiệm và chịu sự ràng buộc của một hệ thống kỷ luật nội bộ nhằm đảm bảo việc tuân thủ các quy tắc nhân đạo trong xung đột vũ trang.[13] Cách tiếp cận này cho thấy rằng không phải mọi cá nhân mang vũ khí đều mặc nhiên được coi là chiến binh. Tư cách chiến binh chỉ xuất hiện khi cá nhân đó thực sự thuộc về một lực lượng vũ trang hợp pháp và đáp ứng các tiêu chí nêu trên.[14]  Trên cơ sở đó, chiến binh được xác định là thành viên của lực lượng vũ trang và có quyền trực tiếp tham gia vào các hành động thù địch.[15] Đồng thời, chiến binh cũng có quyền trực tiếp tham gia vào những hoạt động hỗ trợ tác chiến có tính chất trực tiếp và tức thời như trinh sát, dẫn đường hoặc cung cấp thông tin mục tiêu cho lực lượng chiến đấu.[16] Những hệ quả pháp lý đặc thù của quyền tham chiến này là chiến binh có thể trở thành mục tiêu quân sự hợp pháp trong suốt thời gian tham gia xung đột và khi rơi vào kẻ thù sẽ được hưởng quy chế tù binh chiến tranh.[17] Điều này phản ánh sự cân bằng cốt lõi của Luật Nhân đạo Quốc tế giữa quyền tham chiến và nghĩa vụ chấp nhận rủi ro pháp lý phát sinh từ việc sử dụng vũ lực.  Do đó, sự phân biệt giữa dân thường và chiến binh được xem là ranh giới nền tảng của Luật Nhân đạo Quốc tế. Trong khi chiến binh có quyền tham chiến và có thể bị tấn công hợp pháp thì dân thường được miễn trừ khỏi các cuộc tấn công trực tiếp.[18] Chính sự phân biệt này đã nảy sinh vấn đề pháp lý phức tạp liên quan đến những cá nhân không mang tư cách chiến binh nhưng lại trực tiếp tham gia vào các hành động thù địch. Trong các trường hợp này, họ sẽ không được hưởng quy chế chiến binh và đồng thời có thể tạm thời mất sự bảo vệ dành cho dân thường trong thời gian tham gia các hoạt động thù địch.[19] Ủy ban Nhân quyền Liên Mỹ trong vụ La Tablada (Argentina) đã khẳng định rõ rằng sự mất bảo vệ này là tạm thời, gắn với hành vi cụ thể và không làm biến đổi vĩnh viễn tư cách dân thường. Bên cạnh đó, Luật Nhân đạo Quốc tế còn đặt ra sự phân biệt rõ ràng giữa chiến binh và lính đánh thuê. Mặc dù lính đánh thuê có thể trực tiếp tham gia vào các hành động thù địch nhưng họ không được pháp luật thừa nhận với tư cách chiến binh hợp pháp. Do đó, họ sẽ không được hưởng quy chế tù binh chiến tranh khi bị bắt.[20] Quyết định loại trừ lính đánh thuê khỏi quy chế chiến binh đã phản ánh rõ lập trường nhất quán của Luật Nhân đạo Quốc tế về việc ngăn chặn thương mại hóa chiến tranh.[21] Đồng thời, quyết định này cũng bảo vệ cấu trúc pháp lý của nguyên tắc phân biệt khi chỉ công nhận quyền tham chiến đối với những lực lượng vũ trang có tổ chức và chịu trách nhiệm pháp lý.  2.3. Mục tiêu hợp pháp của tấn công vũ trang Nguyên tắc phân biệt đặt ra yêu cầu cốt lõi rằng mọi hành động tấn công trong xung đột vũ trang chỉ được hướng vào các mục tiêu quân sự hợp pháp và loại trừ tuyệt đối các mục tiêu dân sự khỏi đối tượng của sự tấn công.[22] Nguyên tắc này được thừa nhận rộng rãi không chỉ trong điều ước quốc tế mà còn trong thực tiễn quốc gia mà từ đó hình thành nên một quy tắc của luật quốc tế tập quán áp dụng cho cả xung đột vũ trang quốc tế và phi quốc tế.[23] Theo cách hiểu thống nhất trong Luật Nhân đạo Quốc tế, mục tiêu dân sự, về nguyên tắc, không được là đối tượng của sự tấn công.[24] Ngược lại, mục tiêu quân sự chỉ được xác định hợp pháp khi thỏa mãn các tiêu chí liên quan đến tính chất, vị trí, mục đích hoặc việc sử dụng. Đồng thời, mục tiêu quân sự được hợp pháp hóa khi việc tiêu diệt, chiếm giữ hoặc vô hiệu hóa mục tiêu mang lại lợi thế quân sự cụ thể và xác định.[25] Cách tiếp cận này nhằm hạn chế tối đa sự tùy tiện trong việc lựa chọn mục tiêu và buộc bên tiến hành tấn công phải tiến hành đánh giá thực chất dựa trên hoàn cảnh cụ thể của từng trường hợp.  Một hệ quả pháp lý đặc biệt quan trọng của nguyên tắc phân biệt là nghĩa vụ thận trọng trong trường hợp tồn tại sự không chắc chắn. Trên thực tế, trong các cuộc xung đột vũ trang quốc tế thường tồn tại các mục tiêu kép (dual-use), tức một thực thể tồn tại với cả mục đích dân sự và quân sự. Theo quy định của Luật Nhân đạo quốc tế, khi không thể xác định rõ ràng rằng một đối tượng có phải là mục tiêu quân sự hay không thì đối tượng đó không được coi là mục tiêu quân sự hợp pháp và không được phép tấn công.[26] Quy tắc này phản ánh trực tiếp tinh thần suy đoán có lợi cho dân thường, đồng thời đóng vai trò then chốt trong việc ngăn chặn các cuộc tấn công bừa bãi hoặc việc sử dụng những phương thức, phương tiện chiến tranh không thể giới hạn tác động của chúng. Tuy nhiên, Luật Nhân đạo quốc tế cũng quy định chừng nào một mục tiêu thỏa mãn cả hai điều kiện của một mục tiêu quân sự thì mục tiêu đó vẫn được coi là mục tiêu quân sự. Cách hiểu trên đã được củng cố mạnh mẽ bởi án lệ quốc tế. Trong ý kiến tư vấn về tính hợp pháp của việc sử dụng vũ khí hạt nhân, Tòa án Công lý Quốc tế khẳng định rằng nguyên tắc phân biệt là một trong những nguyên tắc cốt lõi và bất khả xâm phạm của Luật Nhân đạo Quốc tế, có giá trị ràng buộc đối với mọi bên tham chiến, bất kể họ có là thành viên của các điều ước liên quan hay không.[27] Nhận định này cho thấy nguyên tắc phân biệt không chỉ mang tính kỹ thuật trong việc xác định mục tiêu mà còn là nền tảng chuẩn mực chi phối toàn bộ phạm vi bảo hộ của Luật Nhân đạo Quốc tế trong xung đột vũ trang. 2.4. Mối quan hệ giữa nguyên tắc phân biệt và các nguyên tắc khác của Luật Nhân đạo Quốc tế Nguyên tắc phân biệt không vận hành một cách biệt lập mà gắn bó chặt chẽ với các nguyên tắc nền tảng khác của Luật Nhân đạo Quốc tế để cùng nhau tạo thành một hệ thống chuẩn mực điều chỉnh việc sử dụng vũ lực trong xung đột vũ trang.[28] Về mặt chức năng, nếu nguyên tắc phân biệt xác định chủ thể và đối tượng nào có thể trở thành mục tiêu của sự tấn công thì các nguyên tắc còn lại đóng vai trò giới hạn và định hướng cách thức tiến hành tấn công đó. Trên cơ sở này, nguyên tắc tương xứng đặt ra giới hạn đối với mức độ thiệt hại ngẫu nhiên có thể gây ra cho dân thường và các đối tượng dân sự ngay cả khi cuộc tấn công nhắm vào một mục tiêu quân sự hợp pháp.[29] Song song với đó, nguyên tắc cần thiết quân sự yêu cầu việc sử dụng vũ lực chỉ được tiến hành trong phạm vi cần thiết để đạt được một lợi thế quân sự hợp pháp loại trừ những hành vi bạo lực không phục vụ mục tiêu quân sự cụ thể.[30] Bao trùm lên toàn bộ các nguyên tắc này là nguyên tắc nhân đạo, hướng tới việc giảm thiểu đau khổ không cần thiết và bảo vệ con người trước những hệ quả khắc nghiệt của chiến tranh.[31] Trong mối quan hệ tương tác đó, nguyên tắc phân biệt giữ vai trò điểm khởi đầu mang tính quyết định. Việc không xác định chính xác tư cách dân thường, chiến binh hoặc tính chất dân sự hay quân sự của mục tiêu sẽ làm mất cơ sở pháp lý cho mọi đánh giá tiếp theo về tính tương xứng hay tính cần thiết quân sự.[32] Do đó, nguyên tắc phân biệt không chỉ là một quy tắc độc lập mà còn là nền tảng cấu trúc đảm bảo sự vận hành nhất quán và hiệu quả của toàn bộ hệ thống Luật Nhân đạo Quốc tế trong xung đột vũ trang.  3. Thách thức trong áp dụng nội hàm của nguyên tắc phân biệt để xác định tính hợp pháp của hành vi tấn công trong một số xung đột vũ trang hiện tại  Nguyên tắc phân biệt là trụ cột của LNĐQT, tập trung vào xác định mục tiêu quân sự hợp pháp, thông qua đó bảo vệ ở mức độ tối đa các đối tượng không tham chiến trong xung đột vũ trang. Các xung đột hiện nay như tranh chấp đền Preah Vihear, xung đột Nga–Ukraine và xung đột tại Dải Gaza cho thấy mức độ và tính chất thách thức khác nhau trong việc vận dụng nguyên tắc phân biệt, từ đó đặt ra câu hỏi về mức độ phù hợp và hiệu quả thực tiễn của nguyên tắc này trong bối cảnh chiến tranh đương đại. Dưới đây là hai thách thức chủ yếu gây cản trở cho việc áp dụng nguyên tắc phân biệt.  3.1. Sự thay đổi của bối cảnh không gian và phạm vi địa lý từ khu vực giao tranh xác định sang khu vực giao tranh tại đô thị và các khu vực đông dân cư  Các cuộc xung đột vũ trang trước đây thường diễn ra trong khu vực giao tranh xác định, điều kiện thuận lợi để áp dụng nguyên tắc phân biệt nhằm bảo vệ dân thường và mục tiêu dân sự do khu vực hiện hữu của nhóm đối tượng này tương đối rõ ràng. Trong xung đột vũ trang biên giới giữa Thái Lan và Campuchia, khu vực diễn ra đụng độ và hiện diện quân sự chỉ tập trung tại khu vực đền Preah Vihear và dọc theo đường biên giới giữa hai quốc gia này nơi có các ngôi đền đang xảy ra tranh chấp[33]. Với khu vực giao tranh xác định rõ ràng như tại khu vực biên giới hay trên các điểm cao, đồn bốt, trận địa cụ thể, mục tiêu quân sự sẽ hiện hữu rõ hơn, nguy cơ nhầm lẫn với mục tiêu dân sự giảm xuống. Do đó, về mặt kỹ thuật, khi có các khu vực giao tranh xác định các quốc gia buộc phải xác định rõ khu vực tác chiến, kiểm soát tốt hơn hướng tấn công và phạm vi gây thiệt hại của các phương thức tấn công. Tuy nhiên, với xung đột có quy mô lớn, kéo dài với sự can thiệp của nhiều chủ thể, diễn ra trong khu vực đô thị thay vì một không gian giao tranh rõ ràng thì khả năng bảo vệ dân thường theo đúng tinh thần của nguyên tắc phân biệt bị giới hạn đáng kể. Trong các không gian đô thị, sự hiện diện của các mục tiêu kép dày đặc hơn khi các hạ tầng năng lượng, giao thông, liên lạc, thậm chí là y tế vừa có tính dân sự vừa đồng thời có giá trị quân sự.  Trong xung đột giữa Nga và Ukraine, các trường hợp được ghi nhận cho thấy các đơn vị quân đội Nga hoạt động từ bờ trái sông Dnipro, dưới sự chỉ huy tập trung, đã sử dụng cùng một phương thức hoạt động để cố ý nhắm mục tiêu vào dân thường và các mục tiêu dân sự,[34] đa số thương vong do tên lửa tầm xa và munition bay vòng nhắm vào các đô thị lớn như Kyiv Kharkiv, Dnipro[35]. Dù các loại vũ khí này gây thương vong một cách rộng rãi trong khu vực đông dân cư, đặc biệt với tên lửa và phương tiện bay không người lái là nguồn chính gây thương vong thì Nga vẫn có thể lập luận rằng trong những mục tiêu này bao gồm ý định quân sự và việc tiêu diệt các căn cứ này có thể đem lại hiệu quả quân sự tương đương và cụ thể[36], tức hành vi tấn công của Nga tuân thủ cả nguyên tắc phân biệt và tương xứng.  3.2. “Lá chắn sống” - nguy cơ gây suy yếu nguyên tắc phân biệt, đặt trong tương quan với nguyên tắc tương xứng và cẩn trọng  Bên cạnh đó, quan ngại về vấn đề sử dụng con người làm lá chắn sống cũng gây ra cản trở trong việc áp dụng nguyên tắc phân biệt. Luật Nhân đạo quốc tế đã cấm hoàn toàn việc “sử dụng sự hiện diện của dân thường hoặc các đối tượng được bảo vệ để khiến một điểm hay khu vực không thể bị tấn công quân sự” (war crime),[37] tuy nhiên điều này không ngăn cản tình trạng con người bị các bên trong xung đột vũ trang bố trí như hệ thống lá chắn.  Vấn đề pháp lý cốt lõi không chỉ nằm ở bản thân hành vi sử dụng lá chắn sống – vốn đã bị coi là trái pháp luật – mà còn ở những hệ quả gián tiếp của hành vi này đối với việc áp dụng nguyên tắc phân biệt của bên tiến hành tấn công. Trong bối cảnh dân thường bị cố tình bố trí tại hoặc xung quanh các mục tiêu quân sự, ranh giới giữa đối tượng dân sự và mục tiêu quân sự có nguy cơ bị làm mờ trên thực tế, tạo điều kiện cho lập luận rằng toàn bộ khu vực có sự hiện diện của lá chắn sống đã bị “quân sự hóa”. Tuy nhiên, theo Luật Nhân đạo quốc tế, một khu vực hoặc đối tượng chỉ có thể bị coi là mục tiêu quân sự nếu đồng thời đáp ứng hai tiêu chí nghiêm ngặt: đóng góp hiệu quả vào hoạt động quân sự và việc phá hủy, chiếm giữ hoặc vô hiệu hóa đối tượng đó mang lại một lợi thế quân sự cụ thể và trực tiếp.[38] Việc hiện diện của dân thường, dù bị lạm dụng làm lá chắn sống, không tự động làm mất đi quy chế dân sự của khu vực đó, cũng như không chuyển hóa dân thường thành mục tiêu quân sự hợp pháp.[39] Trong thực tiễn, lập luận về lá chắn sống thường dẫn đến sự dịch chuyển trọng tâm phân tích pháp lý từ nguyên tắc phân biệt sang nguyên tắc tương xứng, theo đó bên tấn công thừa nhận trước khả năng gây thương vong cho dân thường và chỉ tập trung vào việc cân đối giữa thiệt hại dân sự dự kiến và lợi thế quân sự đạt được. Cách tiếp cận này tiềm ẩn nguy cơ làm suy yếu cấu trúc thứ bậc của các nguyên tắc cơ bản trong Luật Nhân đạo quốc tế, bởi nguyên tắc phân biệt phải được tuân thủ một cách độc lập và tiên quyết, trước khi bất kỳ đánh giá nào về tính tương xứng được đặt ra.[40] Việc đối phương vi phạm nghĩa vụ không sử dụng lá chắn sống không thể được viện dẫn như một cơ sở để hạ thấp ngưỡng bảo vệ dành cho dân thường hoặc để suy đoán bất lợi về quy chế pháp lý của họ trong quá trình lựa chọn mục tiêu. Trong xung đột giữa quân đội Israel và Hamas, Israel thường xuyên viện dẫn luận điểm rằng Hamas và các nhóm vũ trang sử dụng dân thường làm lá chắn sống để che chắn các cơ sở quân sự, từ đó lập luận rằng các khu vực dân cư (bao gồm cả bệnh viện, trường học và thị trấn đông dân) không còn được xem chỉ là khu vực dân sự đơn thuần mà phải được coi là phần bố trí trong quân sự dẫn đến việc ra lệnh sơ tán quy mô lớn khu vực phía Bắc dải Gaza và các cơ sở được luật bảo vệ trước khi tấn công.[41] Có thể thấy rằng, khi một bên lập luận rằng đối phương sử dụng lá chắn sống tại một khu vực đó, khu vực đó trên thực tế có thể bị lập luận là trận địa đóng góp hiệu quả vào hoạt động quân sự của phía có sử dụng lá chắn sống và đồng thời, phía tấn công (như Israel) hoàn toàn có thể có cơ sở để chứng minh tính cần thiết trong phá hủy mục tiêu đó để đạt lợi thế quân sự, tức một khu vực dân sự đã bị quân sự hóa. Trong trường hợp dân thường không thể rời đi, họ có thể bị xem là “chịu rủi ro” bởi hành vi tấn công trong xung đột vũ trang và bên tấn công sẽ có cơ sở để viện dẫn loại trừ trách nhiệm pháp lý cho mình.  Từ đó có thể thấy rằng, hiện tượng sử dụng lá chắn sống không chỉ cấu thành một vi phạm độc lập của bên sử dụng, mà còn đặt ra một phép thử nghiêm khắc đối với mức độ tuân thủ nguyên tắc phân biệt của bên tiến hành tấn công. Nếu không được đặt trong khuôn khổ nghiêm ngặt của các nguyên tắc phân biệt, tương xứng và cẩn trọng, lập luận dựa trên “lá chắn sống” có nguy cơ bị biến dạng thành công cụ pháp lý nhằm hợp thức hóa các cuộc tấn công gây hậu quả nghiêm trọng cho dân thường, đi ngược lại mục tiêu bảo vệ nhân đạo vốn là nền tảng của Luật Nhân đạo quốc tế.[42] Kết luận Nguyên tắc phân biệt là một nguyên tắc nền tảng của LNĐQT, có giá trị ràng buộc pháp lý rộng rãi và giữ vai trò trung tâm trong việc bảo vệ dân thường và các mục tiêu dân sự trong xung đột vũ trang. Với tư cách vừa là quy phạm điều ước vừa là tập quán quốc tế, nguyên tắc này áp dụng cho cả xung đột vũ trang quốc tế và không mang tính quốc tế, đồng thời là căn cứ quan trọng để đánh giá tính hợp pháp của các hành vi tấn công và xác định trách nhiệm pháp lý quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn xung đột vũ trang hiện đại cho thấy việc áp dụng nguyên tắc phân biệt đang gặp nhiều thách thức do tính chất phức tạp của chiến tranh đô thị, chiến tranh bất đối xứng và các phương thức tác chiến mới. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp cận toàn diện hơn nhằm bảo đảm mục tiêu nhân đạo cốt lõi của Luật nhân đạo quốc tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Phạm Lan Dung, Giáo trình Luật quốc tế  (NXB Thế giới 2021); xem thêm Jean-Marie Henckaerts và Louise Doswald-Beck (chủ biên), Luật Nhân đạo Quốc tế tập quán, Tập I: Các quy tắc  (Cambridge University Press 2005) Quy tắc 1 và 7. [2] Nghị định thư bổ sung cho các Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 liên quan đến bảo vệ nạn nhân của xung đột vũ trang quốc tế (Nghị định thư I) (8 tháng 6 năm 1977) Điều 50(1); Công ước Geneva (III) về đối xử với tù binh chiến tranh (12 tháng 8 năm 1949) Điều 4A; Nghị định thư I Điều 43. [3] Nghị định thư I (8 tháng 6 năm 1977) Điều 43; Điều 50(1); Điều 8; Điều 15. [4] Prosecutor v Tihomir Blaškić  (Phán quyết) IT-95-14-T (ICTY, 3 March 2000) paras 180–184. [5] Nghị định thư I Điều 50(1). [6] Nghị định thư I Điều 50(2). [7] Nghị định thư I Điều 50(3). [8] Nghị định thư I Điều 50(3). [9] Nghị định thư I Điều 50(3). [10] Nghị định thư I Điều 51(3). [11] Nghị định thư I Điều 51(3). [12] Yoram Dinstein, The Conduct of Hostilities under the Law of International Armed Conflict  (3rd edn, Cambridge University Press 2016) 159–161. [13] Nghị định thư I Điều 43(1). [14] Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC), Commentary on the Additional Protocols of 8 June 1977  (ICRC 1987) paras 1672–1685. [15] Nghị định thư I Điều 43(2). [16] Nghị định thư I Điều 43(2). [17] Công ước Geneva (III) (12 tháng 8 năm 1949); Nghị định thư I (1977); Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (17 tháng 7 năm 1998). [18] Nghị định thư I Điều 48; Điều 51; Legality of the Threat or Use of Nuclear Weapons (Advisory Opinion)  [1996] ICJ Rep 226. [19] ICRC, Interpretive Guidance on the Notion of Direct Participation in Hostilities under International Humanitarian Law  (ICRC, Geneva 2009). [20] Nghị định thư I Điều 47. [21] Nghị định thư I Điều 47; ICRC, Commentary on the Additional Protocols of 8 June 1977  (ICRC 1987) bình luận Điều 47. [22] Nghị định thư I (1977); xem thêm ICRC, Customary IHL Database   https://ihl-databases.icrc.org  truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026. [23] Jean-Marie Henckaerts và Louise Doswald-Beck (chủ biên), Customary International Humanitarian Law, Volume I: Rules  (Cambridge University Press 2005). [24] Nghị định thư I (1977); Quy chế Rome (1998) Điều 8. [25] Nghị định thư I Điều 52; thực tiễn quốc gia. [26] Nghị định thư I (1977); Henckaerts và Doswald-Beck (chủ biên) (n 23) Quy tắc 16. [27] Legality of the Threat or Use of Nuclear Weapons (Advisory Opinion)  [1996] ICJ Rep 226, 226. [28] Henckaerts và Doswald-Beck (chủ biên) (n 23). [29] Nghị định thư I Điều 51(5)(b); án lệ ICTY. [30] Yoram Dinstein (n 12) 16–20. [31] Công ước La Hay (II) về Luật và Tập quán Chiến tranh trên bộ (29 July 1899) Điều khoản Martens. [32] Legality of the Threat or Use of Nuclear Weapons (Advisory Opinion)  [1996] ICJ Rep 226, paras 78–79. [33] ‘Xung đột quân sự Thái Lan – Campuchia: cuộc chiến không có người chiến thắng’, Nghiên cứu Chiến lược   https://nghiencuuchienluoc.org/xung-dot-quan-su-thai-lan-campuchia-cuoc-chien-khong-co-nguoi-chien-thang/  truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026. [34] Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền (OHCHR), ‘Russian authorities committed crimes against humanity…’ (Thông cáo báo chí, 28 October 2025). [35] Yoram Dinstein (n 12) 16–20. [36] Phái đoàn Thường trực Liên bang Nga tại Liên Hợp Quốc, ‘Statement by Dmitry Polyanskiy at the UN Security Council briefing on Ukraine’ (29 August 2025)   https://russiaun.ru/en/news/29082025  truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026. [37] Henckaerts và Doswald-Beck (chủ biên) (n 23) Quy tắc 97; Nghị định thư I Điều 51(7); Quy chế Rome Điều 8(2)(b)(xxiii). [38] Nghị định thư I Điều 52(2). [39] ICRC, Commentary on the First Additional Protocol  (2nd edn, ICRC 2016) Điều 51 paras 2245–2249. [40] Prosecutor v Kupreškić  (Phán quyết) IT-95-16-T (ICTY, 14 January 2000) paras 521–526. [41] Federica Marsi, ‘What is a “human shield” and why is Israel using the term in Gaza?’ Al Jazeera  (13 November 2023)   https://www.aljazeera.com/news/2023/11/13/what-is-a-human-shield-and-why-is-israel-using-the-term-in-gaza  truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2026. [42] Henckaerts và Doswald-Beck (chủ biên) (n 23) Quy tắc 1, 14 và 15.

  • [76] MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG NHẬN VÀ KẾ THỪA QUỐC GIA TRONG LUẬT QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Minh Ngọc Tóm tắt: Bài viết phân tích mối quan hệ giữa công nhận quốc gia và kế thừa quốc gia trong luật quốc tế, hai cơ chế pháp lý có sự gắn bó chặt chẽ trong thực tiễn pháp luật. Qua các ví dụ như Liên Xô, Nam Tư, Đức thống nhất hay Nam Sudan, bài viết làm rõ rằng công nhận thể hiện quan điểm chính trị của các quốc gia khác về tư cách quốc gia của một thực thể pháp lý, còn kế thừa là hệ quả pháp lý của việc thay đổi chủ quyền hoặc hình thành quốc gia mới. Sự kết hợp giữa hai cơ chế này quyết định việc quốc gia mới có được thừa nhận là chủ thể hợp pháp và có quyền tiếp nối các điều ước quốc tế, tài sản, nghĩa vụ hay vị trí trong tổ chức quốc tế hay không. Từ đó, bài viết khẳng định công nhận có vai trò hợp thức hóa hệ quả của kế thừa, đồng thời cho thấy ảnh hưởng của yếu tố chính trị đối với việc duy trì ổn định trật tự pháp lý quốc tế. Từ khoá: Luật Quốc tế, công nhận quốc gia, kế thừa quốc gia, quốc gia tiếp nối, quốc gia tiền nhiệm, quốc gia kế nhiệm, nghĩa vụ pháp lý quốc tế Mở đầu Trước những biến động không ngừng của bản đồ chính trị thế giới, việc hiểu rõ mối liên hệ giữa công nhận và kế thừa quốc gia trở nên cần thiết để lý giải cách cộng đồng quốc tế duy trì tính liên tục và ổn định của trật tự toàn cầu. Công nhận quốc gia là hành vi pháp lý - chính trị của một hoặc nhiều quốc gia khác nhằm xác nhận sự tồn tại và tư cách pháp nhân quốc tế của một thực thể mới,[1] còn kế thừa quốc gia là quá trình chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế từ quốc gia tiền nhiệm sang quốc gia kế nhiệm.[2] Hai cơ chế này phản ánh những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ giữa các quốc gia: công nhận thể hiện ý chí chủ quan của các quốc gia khác, trong khi kế thừa là hệ quả khách quan của những biến động về chủ quyền, lãnh thổ hoặc tư cách pháp nhân nhà nước.[3] Công nhận và kế thừa quốc gia trong thực tiễn luôn có sự đan xen, đặc biệt trong những tình huống sáp nhập, ly khai hoặc giải thể. Những trường hợp như Liên Xô, Nam Tư, Đức thống nhất, Kosovo hay Palestine cho thấy luật quốc tế phải xử lý đồng thời hai vấn đề: (i) quốc gia mới có được thừa nhận là một chủ thể hợp pháp hay không, và (ii) liệu quốc gia đó có được kế thừa quyền và nghĩa vụ của quốc gia tiền nhiệm. Chính sự giao thoa này làm phát sinh nhu cầu xem xét lại bản chất của mối quan hệ giữa công nhận và kế thừa, từ đó đánh giá giới hạn tác động của chính trị đối với nguyên tắc pháp quyền quốc tế.[4] 1. Công nhận quốc gia 1.1. Khái niệm - các học thuyết về công nhận quốc gia Trong luật quốc tế, công nhận quốc gia được hiểu là hành vi pháp lý - chính trị của một hay nhiều quốc gia khác nhằm xác nhận tư cách chủ thể quốc tế của một thực thể đáp ứng các tiêu chí của quốc gia (dân cư thường trú, lãnh thổ xác định, chính phủ hữu hiệu và năng lực thiết lập quan hệ quốc tế).[5] Công nhận không tạo ra quốc gia theo nghĩa vật chất, nó xác lập cách thức mà cộng đồng quốc tế đối xử với thực thể đó về mặt pháp lý trong quan hệ quốc tế, mở cánh cửa tham gia vào các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các điều ước quốc tế (ĐƯQT) và quyền miễn trừ.[6] Hai cách tiếp cận học thuyết chi phối vấn đề này bao gồm học thuyết cấu thành ( constitutive ) và học thuyết tuyên bố ( declaratory ). Học thuyết cấu thành ( constitutive ) coi công nhận là điều kiện làm phát sinh tư cách quốc gia trước cộng đồng quốc tế: nếu không được công nhận, thực thể thiếu “ năng lực hành động   đầy đủ ” ( lacks the full capacity ) trên bình diện đối ngoại.[7] Ngược lại, học thuyết tuyên bố ( declaratory ) cho rằng sự tồn tại của quốc gia mang tính khách quan, công nhận chỉ là sự thừa nhận một quốc gia đã hình thành và tồn tại như một thực thể pháp lý độc lập.[8] Mặc dù học thuyết tuyên bố chiếm ưu thế trong thực tiễn sau năm 1945, học thuyết công nhận vẫn đóng vai trò quan trọng trên thực tế, khi giúp quốc gia mới thuận lợi hơn trong việc tham gia các thể chế quốc tế và củng cố sự xác nhận về tư cách pháp lý của mình trong cộng đồng quốc tế.[9] 1.2. Các hình thức công nhận quốc gia Trong luật quốc tế, công nhận quốc gia có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, phổ biến nhất là: (i) công nhận de facto , (ii) công nhận de jure , (iii) công nhận ngầm và (iv) công nhận có điều kiện.[10] Công nhận de facto  là sự thừa nhận tạm thời và có giới hạn, phản ánh việc quốc gia công nhận thừa nhận năng lực kiểm soát thực tế của chính quyền mới nhưng chưa sẵn sàng công nhận đầy đủ về mặt pháp lý - thường vì vẫn đang quan sát mức độ ổn định của chính thể đó.[11] Đây là hình thức linh hoạt, có thể bị rút lại khi bối cảnh chính trị thay đổi.[12] Công nhận de jure , ngược lại, là sự công nhận đầy đủ và chính thức, khẳng định quốc gia được công nhận đáp ứng ổn định và bền vững các tiêu chí của một quốc gia và sẵn sàng thiết lập toàn bộ quan hệ pháp lý - ngoại giao tương ứng.[13] Bên cạnh đó, công nhận có thể phát sinh theo lối ngầm định khi các quốc gia tiến hành những hành vi chỉ có ý nghĩa giữa các quốc gia với nhau như ký kết ĐƯQT song phương, trao đổi cơ quan đại diện có quy chế công vụ, thừa nhận miễn trừ quốc gia trước tòa, mà không kèm tuyên bố danh xưng “công nhận”.[14] So với de jure , công nhận de facto  chỉ có giá trị hạn chế và mang tính tạm thời, đồng thời không tạo nền tảng pháp lý mạnh mẽ cho quốc gia được công nhận. Ngược lại, công nhận de jure  thể hiện sự thừa nhận trọn vẹn về tư cách pháp lý quốc gia, có giá trị ổn định hơn và thường không thể dễ dàng bị rút lại.[15] Ở hình thức công nhận có điều kiện, quốc gia chỉ đồng ý công nhận khi thực thể mới đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định, như tuân thủ thỏa thuận hòa bình, bảo đảm nhân quyền hay tôn trọng các điều ước biên giới.[16] Đồng thời, sau khi Hiến chương Liên Hợp Quốc ra đời, nghĩa vụ không công nhận các tình huống được tạo ra bởi vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế (ví dụ như xâm lược[17]) đặt ra một “ranh đỏ” pháp lý, việc công nhận không chỉ còn là lựa chọn phù hợp với lợi ích chính trị của các quốc gia mà bị ràng buộc bởi các giới hạn pháp lý rõ ràng.[18] 1.3. Phân biệt công nhận quốc gia và công nhận chính phủ Trong luật quốc tế, cần phân biệt rõ giữa công nhận quốc gia và công nhận chính phủ, bởi đây là hai hành vi pháp lý - chính trị có đối tượng và hệ quả pháp lý khác nhau. Công nhận quốc gia là việc một hoặc nhiều quốc gia khác thừa nhận một thực thể mới là một quốc gia có chủ quyền, qua đó xác lập tư cách pháp nhân quốc tế của thực thể đó.[19] Hành vi này tác động trực tiếp đến địa vị pháp lý quốc tế của thực thể được công nhận, bao gồm năng lực tham gia quan hệ quốc tế, ký kết điều ước, gia nhập tổ chức quốc tế và hưởng các quyền miễn trừ theo luật quốc tế.[20] Ngược lại, công nhận chính phủ liên quan đến việc thừa nhận một chính quyền cụ thể là đại diện hợp pháp của một quốc gia đã tồn tại.[21] Hình thức công nhận này thường phát sinh trong các bối cảnh thay đổi chính quyền bằng biện pháp phi hiến định như đảo chính, nội chiến hoặc xung đột vũ trang.[22] Việc công nhận hay không công nhận chính phủ không làm ảnh hưởng đến tư cách pháp nhân quốc tế của quốc gia, mà chủ yếu chi phối vấn đề đại diện, quan hệ ngoại giao và xử lý các giao dịch quốc tế nhân danh nhà nước.[23] Trong thực tiễn, công nhận chính phủ thường xét tới hiệu quả kiểm soát, tức là mức độ kiểm soát thực tế của chính phủ đó đối với lãnh thổ và bộ máy nhà nước.[24] Tuy nhiên, một số quốc gia ngày càng chú trọng thêm tiêu chí tính “hợp pháp” (legitimacy), đặc biệt trong bối cảnh đề cao dân chủ, nhân quyền và trật tự hiến định.[25] Việc không công nhận chính phủ có thể dẫn đến đình chỉ hoặc hạn chế quan hệ ngoại giao, dù quốc gia đó vẫn tiếp tục tồn tại và được công nhận đầy đủ.[26] Ví dụ điển hình cho sự phân biệt giữa công nhận quốc gia và công nhận chính phủ là trường hợp quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và chính phủ Đài Loan. Từ năm 1949, hai chính quyền song song cùng tồn tại sau nội chiến Trung Quốc, mỗi bên đều từng tuyên bố là chính phủ hợp pháp duy nhất của “Trung Quốc”.[27] Trường hợp này thường được nhắc đến như một ví dụ cho thấy sự phức tạp trong việc phân biệt giữa công nhận quốc gia và công nhận chính phủ trong thực tiễn luật quốc tế.[28] Như vậy, công nhận quốc gia có ý nghĩa pháp lý quốc tế rộng và nền tảng hơn, vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của một chủ thể trong hệ thống quốc tế; trong khi công nhận chính phủ chủ yếu tác động đến phương thức và mức độ tương tác giữa các quốc gia, mà không làm thay đổi địa vị pháp lý của quốc gia được đại diện.[29] 1.4. Tác động pháp lý của công nhận quốc gia Trên phương diện đối ngoại, công nhận là chiếc “chìa khóa pháp lý và thể chế” ( a legal and institutional key ) giúp quốc gia mới tiếp cận mạng lưới ĐƯQT, tổ chức quốc tế và cơ chế miễn trừ tài phán.[30] Một khi được công nhận rộng rãi, quốc gia mới có vị thế thuận lợi để xây dựng hệ thống ĐƯQT của mình, bao gồm tham gia đàm phán kế thừa ĐƯQT trong trường hợp tồn tại quốc gia tiền nhiệm, hoặc thiết lập và gia nhập các điều ước quốc tế mới với tư cách một chủ thể độc lập; tiếp nhận tư cách thành viên trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ theo quy tắc nội bộ của chúng, và xác lập năng lực ký kết ĐƯQT mới với đầy đủ hiệu lực ràng buộc.[31] Tác động này lan tỏa đến tính ổn định của quan hệ quốc tế: các bên thứ ba có cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý tài sản, nợ, lưu trữ, cũng như trách nhiệm quốc tế phát sinh từ hành vi của chính thể kế nhiệm.[32] Về phương diện đối nội, công nhận thường là điều kiện để hệ thống pháp luật quốc gia thừa nhận tư cách pháp lý và quyền hạn của chính phủ mới trước tòa án và cơ quan hành chính.[33] Nó chi phối hiệu lực các giao dịch công (hợp đồng nhà nước, trái phiếu, miễn trừ thi hành án) và tư (tư cách pháp nhân của cơ quan đại diện, quyền và nghĩa vụ của công dân nước được công nhận trên lãnh thổ nước công nhận). Đồng thời, công nhận quốc gia còn quyết định việc hệ thống pháp luật nội địa có áp dụng các quy tắc xung đột pháp luật và chế độ đặc quyền miễn trừ hay không, tức là xác định liệu chính phủ, cơ quan nhà nước và đại diện ngoại giao của thực thể được công nhận có được coi là chủ thể công quyền nước ngoài, được hưởng miễn trừ tài phán và miễn trừ thi hành án trước tòa án quốc gia hay không, từ đó tạo ra sự nhất quán giữa chính sách đối ngoại của hành pháp và thực hành tư pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia.[34] 2. Kế thừa quốc gia 2.1. Khái niệm và các nguyên tắc điều chỉnh Kế thừa quốc gia được hiểu là quá trình chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế từ quốc gia tiền nhiệm sang quốc gia kế nhiệm trong những trường hợp có sự thay đổi căn bản về chủ quyền và quan hệ quốc tế của một vùng lãnh thổ nhất định.[35] Bản chất của kế thừa quốc gia phản ánh sự liên tục và ổn định của trật tự pháp lý quốc tế trong bối cảnh biến động chính trị - lãnh thổ. Dù Hiến chương Liên Hợp Quốc không trực tiếp quy định, các công ước chuyên biệt như Công ước Viên năm 1978 về kế thừa quốc gia đối với ĐƯQT và Công ước Viên năm 1983 về kế thừa quốc gia đối với tài sản, lưu trữ và nợ của quốc gia đã hệ thống hóa những nguyên tắc nền tảng chi phối quá trình này. Hai nguyên tắc chủ đạo được ghi nhận trong thực tiễn là (i) nguyên tắc tôn trọng sự lựa chọn của quốc gia kế nhiệm ( clean slate ) - thể hiện qua quyền không bị ràng buộc bởi các ĐƯQT của quốc gia tiền nhiệm, trừ khi quốc gia kế nhiệm đồng ý kế thừa;[36] và (ii) nguyên tắc duy trì tính liên tục của nghĩa vụ quốc tế cơ bản, phát sinh một cách đương nhiên theo pháp luật.[37] Trong khi nguyên tắc clean state được áp dụng cho các quốc gia mới giành độc lập, thì nguyên tắc duy trì tính liên tục của các nghĩa vụ theo ĐƯQT lại được áp dụng cho các quốc gia kế thừa trong những trường hợp khác như trường hợp kế thừa do sáp nhập hoặc hợp nhất hay kế thừa do chia tách.[38] 2.2. Các trường hợp kế thừa quốc gia Luật quốc tế phân biệt bốn mô hình kế thừa phổ biến, tương ứng với bản chất của biến động lãnh thổ hoặc tư cách quốc gia, bao gồm: (i) sáp nhập, (ii) ly khai, (iii) giải thể và (iv) tái thống nhất.[39] Sáp nhập  là khi một quốc gia sáp nhập hoàn toàn vào một quốc gia khác, quốc gia tiền nhiệm chấm dứt tồn tại, và toàn bộ quyền, nghĩa vụ quốc tế của nó chuyển sang quốc gia nhận sáp nhập.[40] Ví dụ điển hình là Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức năm 1990 thay vì hình thành quốc gia mới. Ly khai   là khi một phần lãnh thổ tách ra để thành lập một quốc gia mới, quốc gia gốc vẫn tiếp tục tồn tại.[41] Quốc gia ly khai chỉ kế thừa những quyền, nghĩa vụ có liên quan trực tiếp đến lãnh thổ hoặc nhân khẩu của mình, trừ khi có thỏa thuận khác.[42] Trường hợp Nam Sudan (2011) là minh chứng rõ cho nguyên tắc clean slate : sau khi tách khỏi Sudan, quốc gia này không tự động kế thừa các ĐƯQT, nghĩa vụ tài chính hay tư cách thành viên quốc tế của Sudan, mà chỉ đảm nhận những quyền và nghĩa vụ mà chính mình chủ động lựa chọn hoặc tuyên bố chấp nhận thông qua các thỏa thuận và hành vi pháp lý độc lập. Giải thể xảy ra khi quốc gia tiền nhiệm chấm dứt tồn tại hoàn toàn và được thay thế bởi nhiều quốc gia mới.[43] Trường hợp Liên bang Nam Tư là ví dụ điển hình, sau khi các nước cộng hòa tách ra, quốc gia mẹ là Cộng hòa Liên bang Nam Tư bị coi là đã chấm dứt tồn tại. Không quốc gia nào được công nhận là “tiếp tục” tư cách pháp lý của Nam Tư; thay vào đó, mỗi quốc gia mới đều phải xin gia nhập Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế như một chủ thể hoàn toàn mới, cũng như đàm phán phân chia tài sản, nợ và nghĩa vụ quốc tế.[44] Trái lại, trong trường hợp Liên Xô, dù cũng trải qua quá trình tan rã đầu thập niên 1990, Nga được cộng đồng quốc tế công nhận là quốc gia tiếp nối (continuator state), tiếp nhận ghế thường trực Hội đồng Bảo an, quyền và nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế cũng như tư cách pháp nhân của Liên Xô. Các nước cộng hòa còn lại được xem là quốc gia kế thừa (successor states), chỉ tiếp nối một phần nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy phạm tập quán, phản ánh sự kết hợp giữa lý luận pháp lý và thực tế công nhận quốc tế.[45] Tái thống nhất   xảy ra khi hai hoặc nhiều quốc gia trước đây độc lập hợp nhất để hình thành một quốc gia mới hoặc khôi phục quốc gia cũ.[46] Trường hợp Yemen (1990) là ví dụ điển hình: Cộng hòa Yemen tuyên bố chấp nhận toàn bộ điều ước và nghĩa vụ quốc tế của cả Bắc Yemen và Nam Yemen, và được các tổ chức quốc tế đối xử như chủ thể kế thừa đầy đủ quyền, nghĩa vụ của hai nhà nước tiền nhiệm.”.[47] Ngoài ra, chia tách  được xem là hình thức trung gian giữa ly khai và giải thể, khi quốc gia gốc vẫn tồn tại nhưng mất đi một phần chủ quyền lãnh thổ đáng kể.[48] Trường hợp Pakistan và Bangladesh (1971) thể hiện cách tiếp cận dung hòa: Pakistan vẫn được coi là quốc gia tiếp nối, trong khi Bangladesh được thừa nhận là quốc gia mới kế thừa một phần nghĩa vụ tài chính và điều ước khu vực.[49] 2.3. Nội dung kế thừa quốc gia Phạm vi kế thừa quốc gia trải dài trên bốn lĩnh vực chính: (i) ĐƯQT, (ii) tài sản và nợ, (iii) lưu trữ nhà nước, và (iv) tư cách thành viên các tổ chức quốc tế. Kế thừa ĐƯQT  là nội dung trung tâm của vấn đề kế thừa quốc gia trong luật quốc tế. Theo Công ước Viên 1978, quốc gia kế nhiệm có thể lựa chọn kế thừa hoặc không kế thừa ĐƯQT của quốc gia tiền nhiệm, tùy thuộc vào bản chất của ĐƯQT (song phương, đa phương) và sự đồng thuận của các bên liên quan.[50] Trong trường hợp clean slate , quốc gia mới không tự động bị ràng buộc bởi các ĐƯQT trước đây; tuy nhiên, các ĐƯQT nhân đạo (như Công ước Geneva 1949 về bảo vệ thường dân trong thời chiến) được coi là có hiệu lực phổ quát và tiếp tục ràng buộc quốc gia kế nhiệm.[51] Kế thừa tài sản, lưu trữ và nợ quốc gia  được điều chỉnh bởi Công ước Viên 1983 về Kế thừa quốc gia liên quan đến tài sản, kho lưu trữ và nợ của quốc gia. Nguyên tắc cơ bản là “sự công bằng và thỏa thuận”: các bên đàm phán phân chia tài sản, nghĩa vụ tài chính và hồ sơ lưu trữ trên cơ sở vị trí địa lý, mục đích sử dụng, và lợi ích chính đáng của cư dân địa phương.[52] Thực tiễn giải thể Liên Xô và Tiệp Khắc cho thấy việc phân chia tài sản và nợ luôn gắn chặt với thỏa thuận chính trị, hơn là áp dụng cơ học quy phạm quốc tế.[53] Kế thừa tư cách thành viên tổ chức quốc tế  là vấn đề phức tạp nhất, bởi nó phụ thuộc vào cả quy chế pháp lý của tổ chức và mức độ công nhận quốc tế.[54] Trong trường hợp Liên Xô, Liên bang Nga được thừa nhận là quốc gia kế tục tư cách thành viên Liên Hợp Quốc, bao gồm cả ghế thường trực Hội đồng Bảo an, một tiền lệ khẳng định vai trò của công nhận chính trị trong cơ chế kế thừa pháp lý. Ngược lại, Nam Tư sau khi giải thể phải nộp đơn xin gia nhập mới, thể hiện sự thiếu đồng thuận của cộng đồng quốc tế về tư cách “tiếp nối” của bất kỳ quốc gia thành phần nào.[55] Cuối cùng, các vấn đề trách nhiệm quốc tế  cũng được xem xét trong khuôn khổ kế thừa. Quốc gia kế nhiệm có thể phải gánh vác nghĩa vụ bồi thường hoặc thi hành phán quyết quốc tế nếu hành vi vi phạm phát sinh trước khi việc kế thừa hoàn tất.[56] 3. Mối quan hệ giữa công nhận quốc gia và kế thừa quốc gia 3.1. Vai trò của công nhận trong kế thừa quốc gia Trong tiến trình kế thừa quốc gia, công nhận giữ vai trò then chốt trong việc xác lập tư cách chủ thể quốc tế của các thực thể mới hoặc quốc gia tiếp nối. Khi xảy ra chia tách, sáp nhập hay tuyên bố kế tục, chính sự công nhận trực tiếp hoặc ngầm định của cộng đồng quốc tế sẽ quyết định chủ thể nào được thừa nhận là quốc gia hợp pháp kế thừa quyền, nghĩa vụ và vị thế pháp lý của quốc gia tiền nhiệm.[57] Công nhận có vai trò then chốt trong việc xác định tư cách pháp lý và phạm vi kế thừa của quốc gia mới hình thành. Dù kế thừa quốc gia là hệ quả pháp lý khách quan của sự thay đổi chủ quyền, việc quốc gia kế nhiệm có được thừa nhận là chủ thể hợp pháp hay không lại phụ thuộc vào sự công nhận của cộng đồng quốc tế.[58] Công nhận tạo cơ sở hợp pháp cho việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ quốc tế. Khi một quốc gia bị chia tách, công nhận là yếu tố trung tâm xác lập tư cách pháp nhân của các thực thể mới.[59] Dù có thể đáp ứng tiêu chí quốc gia theo Công ước Montevideo 1933, các thực thể này chỉ trở thành chủ thể quốc tế hợp pháp khi được công nhận.[60] Khi một quốc gia tuyên bố kế tục tư cách của quốc gia tiền nhiệm, hiệu lực tuyên bố này phụ thuộc vào sự công nhận của các quốc gia khác.[61] Sau khi Liên Xô tan rã, Nga thông báo tiếp nhận tư cách pháp nhân và ghế thường trực Hội đồng Bảo an. Mặc dù không có nghị quyết chính thức, sự im lặng chấp thuận của các thành viên Liên Hợp Quốc được xem là công nhận ngầm (de facto), qua đó hợp thức hóa tư cách tiếp nối của Nga.[62] Ngược lại, khi thiếu sự công nhận, việc kế thừa chỉ mang tính tuyên bố đơn phương và khó được thừa nhận trong quan hệ đối ngoại. Công nhận trong bối cảnh kế thừa quốc gia ảnh hưởng trực tiếp đến tư cách kế thừa ĐƯQT, tài sản và vị trí trong các tổ chức quốc tế.[63] Trong quan hệ song phương, việc quốc gia khác chấp nhận ký kết hoặc tiếp tục quan hệ với thực thể mới thường đồng nghĩa với công nhận ngầm tư cách kế thừa.[64] Trong quan hệ đa phương, tổ chức quốc tế có thể cho phép quốc gia mới tạm thời tham gia, nhưng chưa chính thức thừa nhận cho đến khi đạt đồ[65]ng thuận chính trị.[66] Trường hợp Nam Tư tan rã là ví dụ điển hình, khi Serbia ban đầu tuyên bố tiếp tục tư cách pháp nhân của Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, song Liên Hợp Quốc không chấp nhận yêu sách này, buộc Serbia phải nộp đơn gia nhập như một quốc gia mới. Thực tiễn này cho thấy công nhận là yếu tố quyết định việc một chủ thể có được coi là kế thừa hợp pháp hay không, đồng thời khẳng định rằng công nhận chính là cơ chế hợp thức hóa mối liên hệ giữa kế thừa pháp lý và thừa nhận chính trị trong trật tự quốc tế. Tuy nhiên, công nhận không có giá trị sáng lập nghĩa vụ pháp lý. Một quốc gia được công nhận không đương nhiên bị ràng buộc bởi các ĐƯQT hay nợ quốc tế của quốc gia tiền nhiệm, trừ khi chính họ chấp nhận hoặc quy phạm tập quán quốc tế yêu cầu[67]. Do đó, công nhận chỉ mang tính hợp thức hóa chứ không tạo lập, phản ánh sự giao thoa giữa chính trị và pháp lý trong quá trình kế thừa quốc gia. 3.2. Mối quan hệ giữa công nhận quốc gia và kế thừa quốc gia Công nhận và kế thừa quốc gia là hai cơ chế pháp lý độc lập trong luật quốc tế, nhưng giữa chúng tồn tại mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại. Về bản chất, kế thừa là hệ quả khách quan của sự thay đổi chủ quyền hoặc tư cách pháp nhân nhà nước, trong khi công nhận phản ánh yếu tố chủ quan của cộng đồng quốc tế đối với sự thay đổi đó.[68] Tuy nhiên, trong thực tiễn, không có quá trình kế thừa nào đạt được hiệu lực đầy đủ nếu thiếu một mức độ công nhận nhất định, dù là rõ ràng hay ngầm định, từ các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế có liên quan. Một mặt, công nhận là điều kiện thực thi của kế thừa. Kế thừa quốc gia về nguyên tắc có thể tồn tại mà không cần công nhận, nhưng hiệu lực của nó, đặc biệt trong quan hệ điều ước, tài sản, nợ công hay tư cách thành viên quốc tế lại phụ thuộc vào sự chấp thuận của các chủ thể khác trong hệ thống quốc tế.[69] Khi cộng đồng quốc tế không công nhận, các tuyên bố kế thừa thường không có giá trị thực tế. Trường hợp Serbia - Montenegro năm 1992 là ví dụ điển hình: dù tự nhận là quốc gia tiếp nối của Nam Tư, tuyên bố này không được công nhận và do đó không tạo ra quyền kế thừa đối với tư cách thành viên Liên Hợp Quốc.[70] Mặt khác, kế thừa có thể củng cố cơ sở pháp lý của công nhận. Khi một quốc gia chứng minh được tính liên tục của chủ quyền, cấu trúc nhà nước và nghĩa vụ quốc tế, như Nga trong việc tiếp nối Liên Xô, thì cộng đồng quốc tế có cơ sở pháp lý vững chắc hơn để công nhận tư cách tiếp nối.[71] Trong trường hợp này, công nhận không sáng lập quyền kế thừa, mà hợp thức hóa và củng cố tính liên tục pháp lý của quốc gia.[72] Do đó, mối quan hệ giữa công nhận và kế thừa mang tính tương hỗ, công nhận hợp pháp hóa hệ quả của kế thừa, trong khi kế thừa tạo nền tảng pháp lý cho công nhận. Tuy nhiên, sự tương hỗ này không phải tuyệt đối, mà công nhận vẫn là một hành vi chính trị mang tính chủ quan, có thể bị chi phối bởi lợi ích quốc gia và cấu trúc quyền lực quốc tế.[73] Trong khi đó, kế thừa phản ánh tính khách quan của trật tự pháp lý quốc tế, hướng tới duy trì tính ổn định và liên tục của các quan hệ quốc tế bất chấp biến động chính trị.[74] Tựu trung, công nhận và kế thừa quốc gia là hai khía cạnh gắn liền trong việc xác lập vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế: công nhận mang lại sự thừa nhận bên ngoài, còn kế thừa bảo đảm sự tiếp nối bên trong của tư cách quốc gia. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này tạo nên cơ chế cân bằng giữa tính hợp pháp và tính chính danh chính trị trong trật tự quốc tế hiện đại. Kết luận Công nhận và kế thừa quốc gia là hai cơ chế pháp lý độc lập nhưng luôn đan xen trong thực tiễn. Công nhận thể hiện ý chí chủ quan của các quốc gia khác, còn kế thừa là hệ quả khách quan của sự thay đổi chủ quyền hoặc tư cách pháp nhân nhà nước. Trong nhiều trường hợp, công nhận là điều kiện để việc kế thừa có hiệu lực đối ngoại, trong khi kế thừa lại củng cố cơ sở pháp lý cho sự công nhận. Mối quan hệ này bảo đảm tính liên tục và ổn định của trật tự pháp lý quốc tế, giúp duy trì các quyền và nghĩa vụ giữa các quốc gia khi có biến động chính trị - lãnh thổ. Tuy nhiên, sự chi phối của yếu tố chính trị trong hành vi công nhận vẫn là thách thức lớn, có thể dẫn tới cách hiểu và áp dụng không thống nhất về kế thừa quốc gia. Do đó, luật quốc tế cần hướng tới việc tăng cường tính khách quan và dự đoán được của cơ chế kế thừa, nhằm giữ vững sự cân bằng giữa hợp pháp, ổn định và công bằng trong trật tự quốc tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn., Cambridge University Press 2021), p. 360. [2] [35] Công ước Viên về Kế thừa quốc gia trong lĩnh vực điều ước quốc tế, Điều 2(1)(b). [3] Hersch Lauterpacht, Recognition in International Law  (Cambridge University Press 1947), trang 6-9. Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn., Oxford University Press 2006), trang 386-388. [4] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn., Cambridge University Press 2021), p. 361-364. [5] Công ước Montevideo về Quyền và Nghĩa vụ của các Quốc gia, Điều 1. [6] Malcolm N Shaw, International Law  (9th end., Cambridge University Press 2021), p. 362-363. [7] Hersch Lauterpacht, Recognition in International Law  (Cambridge University Press 1947), p. 28-33. [8] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn., Oxford University Press 2006), p. 27-30. [9] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd end., Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30. [10] [11] [12] [13] [19] [30] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn., Cambridge University Press 2021), p. 360-366. [14] Malcolm N Shaw, International Law  (9th end., Cambridge University Press 2021), p. 366-367. Xem thêm Lassa Oppenheim, International Law: A Treatise , vol 1 (8th edn., edited by H Lauterpacht, Longmans, Green & Co 1955), p. 150. [15] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24. [16] Pavle Kilibarda, 3 Types of Recognition: de jure, de facto and conditional recognition , Oxford Scholarship Online 2024, Chapter 3, p. 52-59. [17] Legal Committee of the International Law Commission, “Chapter V: Peremptory norms of general international law (jus cogens) - Report of the International Law Commission: Seventy-first session (29 April–7 June & 8 July–9 August 2019)”  (UN Doc A/74/10, 2019). [18] Stefan Talmon, The Duty Not to “Recognize as Lawful” a Situation Created by a Serious Breach of a Jus Cogens Obligation , Christian Tomuschat and Jean-Marc Thouvenin (eds), The Fundamental Rules of the International Legal Order: Jus Cogens and Obligations Erga Omnes  (Brill 2006), p. 99-126. [20] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30, 703-708. [21] [22] Malcolm N Shaw, International Law,  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 387-390. [23] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (9th edn, Oxford University Press 2019), p. 165-168. [24] [25] [26] Mirza Nazim Beg, Recognition of Governments vs. Recognition of States: Legal Distinction , Contemporary Relevance and Challenges (tháng 7, 2025), Indian Journal of Law and Legal Research ,  Volume   VI I Issue III. [27] [28] Shirley A Kan, China/Taiwan: Evolution of the “One China” Policy  (Congressional Research Service, 2014), trang 1-3. [29] Stefan Talmon, Recognition of Governments in International Law  (Oxford University  1998), p. 3-7, 28-31. [31] [32] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30, 703-708. [33] [34] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 369-370. [36] Philipp Janig, The 1978 Vienna Convention, the Clean Slate Doctrine and the Decolonization of Sources (2020) Austrian Review of International and European Law. [37] Menno T Kamminga, State Succession in Respect of Human Rights Treaties (1996), European Journal of International Law, p. 482. [38] Menno T Kamminga, State Succession in Respect of Human Rights Treaties (1996), European Journal of International Law, p. 471. [39] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 390-410. [40] [41] [42] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 494-495. [43] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 409-410. [44] United Nations General Assembly, Resolution 47/1: Recommendation of the Security Council of 19 September 1992  (22 tháng 9, 1992) UN Doc A/RES/47/1. Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 715-722. [45] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (9th edn, Oxford University Press 2019), p. 424-425. [46] [48] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 410-411. [47] Agreement Establishing a Union between the Yemen Arab Republic and the People’s Democratic Republic of Yemen, Điều 1-2. Xem thêm Konrad G Bühler, State Succession and Membership in International Organizations: Legal Theories versus Political Pragmatism  (Martinus Nijhoff 2001), p. 115-121. [49] A Boyle, ‘Annex A Opinion: Referendum on the Independence of Scotland - International Law Aspects’  (UK Government, 2013), para 54-56. S Raza, Bangladesh-Pakistan Relations:   A Hostage to History (2015), American International Journal of Contemporary Research (2.3 ‘Asset Sharing’). [50] Công ước Viên năm 1978 về Kế thừa quốc gia trong lĩnh vực điều ước quốc tế, Điều 34(1). [51] International Committee of the Red Cross (ICRC), Commentary on the First Geneva Convention  (2nd edn, Cambridge University Press 2016), đoạn 259. Xem thêm James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (9th edn, OUP 2019), p. 179-181. [52] D P O’Connell, State Succession in Municipal Law and International Law  (Cambridge University Press 1967) vol II, p. 499-503. [53] Matthew Craven, ‘The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law’ (1998) 9 EJIL 142, trang 160-163; Malgosia Fitzmaurice, ‘State Succession in Practice: The Case of Czechoslovakia’ (1995) 4 Finnish YIL 89, p. 103-106. [54] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 688-693. [55] Letter dated 24 December 1991 from the President of the Russian Federation to the Secretary-General, UN Doc A/46/915 (1991). Xem thêm Marc Weller, The International Response to the Dissolution of the Socialist Federal Republic of Yugoslavia  (1992) 86 AJIL  569, p. 590-592. [56] Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC), Các điều khoản dự thảo về Trách nhiệm của quốc gia đối với hành vi quốc tế sai trái, kèm theo chú giải  (2001), trong Niên giám Ủy ban Luật pháp quốc tế, Tập II (Phần Hai), các Điều 40-41 và phần Chú giải, đoạn 3-5. [57] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), trang 380-383. [58] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 27-30, 405. [59] Matthew Craven, The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law  (1998), European Journal of International Law, p. 158-160. [60] [61] Rose Parfitt, Matthew Craven, Statehood, Self-Determination and Recognition , trong Malcolm D Evans, International Law  (5th edn., Oxford University Press 2018), p. 177-226. [62] UNSCOR , 46th Year, 301st meeting (31 January 1992). Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 405-406. [63] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30. [64] [65] MCR Craven, The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law  (1998) 9 EJIL  1471. [66] Công ước Viên về Kế thừa quốc gia trong lĩnh vực điều ước quốc tế, Điều 16. Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 418-420. [67] JG Devaney, The Law of State Succession: Regulating the Aftermath , trong  J Vidmar, S McGibbon and L Raible (eds), Research Handbook on Secession  (Edward Elgar 2022). [68] D P O’Connell, The Law of State Succession  (Cambridge University Press 1956), p. 52-55, 245-250. [69] UN General Assembly, Resolution 47/1: Recommendations of the Security Council regarding the membership of the Federal Republic of Yugoslavia (Serbia and Montenegro)  (22 tháng 9, 1992) UN Doc A/RES/47/1. [70] [71] Letter dated 24 December 1991 from the President of the Russian Federation to the Secretary-General, UN Doc A/46/915 (1991). Xem thêm Matthew Craven, The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law  (1998), trong European Journal of International Law , p. 155-160. [72] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law,  (9th edn, Oxford University Press 2019), p. 143-145. [73] James Crawford, The Creation of States in International Law,  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30, 703-708.

  • [75] CÁC CÁCH THỨC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ THEO LUẬT QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Thị Lan Hương, Nguyễn Hà Minh Thu   Tóm tắt: Trong suốt quá trình phát triển của các quốc gia, lãnh thổ luôn giữ vai trò quan trọng gắn liền với chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, do các biến động lịch sử như chiến tranh, di cư, và thỏa thuận chính trị, ranh giới lãnh thổ của nhiều quốc gia thường thay đổi. Chính vì vậy, ngành luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ ra đời nhằm điều chỉnh những biến động này một cách hợp pháp. Bài viết tập trung phân tích 05 cách thức thụ đắc lãnh thổ cơ bản theo luật quốc tế, bao gồm: (1) chuyển nhượng; (2) chiếm hữu; (3) chiếm hữu theo thời hiệu; (4) bồi tụ; (5) sử dụng vũ lực/xâm lược - phương thức đã bị cấm sau năm 1945. Từ khóa: Luật Quốc tế, thụ đắc lãnh thổ, cách thức thụ đắc lãnh thổ, chuyển nhượng, chiếm hữu, chiếm hữu theo thời hiệu, bồi tụ, xâm lược. Mở đầu Theo luật quốc tế “Thụ đắc lãnh thổ” là quá trình một quốc gia xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới, hay nói cách khác, là việc một quốc gia mở rộng lãnh thổ hiện có một cách hợp pháp thông qua các hành động mà luật quốc tế cho phép. Truyền thống phân loại các phương thức thụ đắc lãnh thổ bắt nguồn từ luật La Mã cổ đại,[1] theo đó có 05 cách thức thụ đắc lãnh thổ cơ bản: chuyển nhượng; chiếm hữu; chiếm hữu theo thời hiệu; bồi tụ; và xâm lược - phương thức hiện đã bị cấm sau năm 1945 theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc. Tuy nhiên cách phân loại này hiện nay được đánh giá là chưa đầy đủ và không hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện đại[2] do tính phức tạp của các tranh chấp lãnh thổ, vì vậy không thể chỉ dựa vào một phương thức thụ đắc đơn lẻ mà cần xem xét toàn diện nhiều yếu tố, bao gồm sự công nhận của cộng đồng quốc tế và các hành vi thực thi chủ quyền của quốc gia liên quan.[3] Vì vậy, các phương thức thụ đắc lãnh thổ chỉ nên được xem như những cách phân loại thuận tiện để nghiên cứu, còn thực tế việc xác định chủ quyền lãnh thổ đòi hỏi phải xét đến nhiều yếu tố phức tạp và đa chiều hơn. 1. Thụ đắc lãnh thổ theo hình thức chuyển nhượng (Cession)  Chuyển nhượng là phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng cách chuyển nhượng lãnh thổ của quốc gia này sang quốc gia khác dựa trên sự đồng thuận giữa các quốc gia, thông thường qua việc ký kết các điều ước quốc tế có hiệu lực pháp lý.[4] Cơ sở cho phương thức này chính là ý định của các quốc gia.[5] Đồng thời các quốc gia không thể chuyển nhượng nhiều hơn những gì mình có, trừ trường hợp thụ đắc bằng phương thức bồi tụ (accretion).[6] Trong  Vụ Đảo Palmas (Hoa Kỳ v. Hà Lan) , tòa đã nhấn mạnh điểm này và các bên chấp nhận rằng Tây Ban Nha không thể chuyển nhượng cho người Mỹ nhiều hơn những quyền họ đang sở hữu.[7] Trong lịch sử từng tồn tại những trường hợp cưỡng ép chuyển nhượng lãnh thổ bằng việc đe dọa hay sử dụng vũ lực, ví dụ như trong vụ Iloilo (Hoa Kỳ v. Philippines), Philippines đã chuyển nhượng khu vực này cho Mỹ theo Điều ước Paris 1898 mặc dù quân đội Mỹ đã chiếm cứ Iloilo 2 tháng trước đó.[8] Sau này trong Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế 1969, các điều ước quốc tế cần phải có hiệu lực theo luật quốc tế để bảo để bảo đảm tính hợp pháp, bao gồm những điều ước quốc tế về việc chuyển nhượng, điều này đồng nghĩa với việc các điều ước này không thuộc những trường hợp bị vô hiệu hoá trong công ước.[9] Ngoài ra, chuyển nhượng khác với việc cho thuê lãnh thổ hay còn được hiểu là chuyển nhượng quyền hành chính (administrative cession) của một lãnh thổ.[10] Điển hình của việc chuyển nhượng quyền hành chính là trường hợp Trung Quốc cho Anh thuê toàn bộ Hồng Kông hiện nay theo Hiệp ước về Mở rộng Lãnh thổ Hồng Kông năm 1898 trong vòng 99 năm kể từ ngày 01/07/1898. Trong Tuyên bố chung Anh-Trung về Vấn đề Hồng Kông ngày 19/12/1984, các bên công nhận chủ quyền của Trung Quốc với Hồng Kông và lên tiến trình bàn giao khôi phục việc thực thi chủ quyền của Trung Quốc tại Hồng Kông.[11] Trong khi đó, các hiệp ước chuyển nhượng thường sẽ nêu rõ quốc gia gia này chuyển chủ quyền lãnh thổ sang quốc gia khác. Ví dụ, ngay tại Điều 1 hiệp ước chuyển nhượng tài sản của Nga ở Bắc Mỹ, hiệp ước đã ghi nhận sự đồng ý thành văn của Sa hoàng Nga về chuyển nhượng tài sản ở Bắc Mỹ cho Mỹ: “Sa hoàng Nga đồng ý nhượng cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ toàn bộ lãnh thổ và quyền thống trị hiện đang có theo hiệp ước này, ngay sau khi trao đổi các văn kiện phê chuẩn.” [12] Lịch sử thế giới cũng ghi nhận nhiều trường hợp chuyển nhượng lãnh thổ giữa các quốc gia với nhau thông qua mua bán như Hoa Kỳ mua lại Louisiana từ Pháp,[13]   Anh và Đức đã trao đổi hai vùng Heligoland và Zanzibar.[14] Ngày nay, do tính chất nhạy cảm của chủ quyền lãnh thổ và phản ứng của dư luận, việc chuyển nhượng giữa các quốc gia trở nên hiếm hoi và chủ yếu tại các vùng cận biên liên quan đến thiết lập biên giới như Hoa Kỳ nhượng lại quần đảo Swans cho Honduras năm 1971.[15] Tóm lại, chuyển nhượng là một phương thức thụ đắc mang tính chất hòa bình, dựa trên sự đồng thuận của các quốc gia có chủ quyền, thông qua một hoặc nhiều điều ước quốc tế và tuân thủ luật pháp quốc tế nói chung mặc dù trước Công ước viên 1969, còn tồn tại trường hợp đe doạ sử dụng vũ trang hoặc sử dụng vũ trang để cưỡng ép chuyển nhượng. Thực tiễn quốc tế cho thấy, việc chuyển nhượng không chỉ dừng lại ở chuyển giao chủ quyền, mà còn bao gồm các hình thức chuyển giao quyền hành chính có giới hạn về thời gian, như trường hợp Hồng Kông nói trên. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, do tính nhạy cảm về vấn đề chủ quyền nên các trường hợp chuyển nhượng ngày càng trở nên hiếm hoi, nếu có thì chủ yếu xảy ra ở khu vực biên giới nhằm giải quyết tranh chấp hoặc hoàn thiện đường biên.   2. Thụ đắc lãnh thổ bằng hình thức chiếm hữu (Occupation) Một trong những phương thức thụ đắc lãnh thổ lâu đời trong lịch sử luật quốc tế là chiếm hữu (occupation),[16] xuất phát từ khái niệm occupatio từ thời La Mã cổ đại. Khái niệm này vốn không đề cập trực tiếp về thụ đắc đất đai, lãnh thổ mà liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật bị từ bỏ quyền sở hữu hoặc vật của người khác đánh mất nhưng bản thân đã sử dụng trong khoảng thời gian lâu dài, hợp lý.[17] Chiếm hữu là cách thức pháp lý hoà bình xác lập chủ quyền đối với lãnh thổ vô chủ, không thuộc về bất kỳ một ai tại thời điểm thụ đắc  (terra nullius) .[18] Lãnh thổ vô chủ là điều kiện cơ bản cho phép quốc gia xác lập chủ quyền bằng phương thức thụ đắc chiếm hữu.[19] Lãnh thổ vô chủ hay lãnh thổ không thuộc về một ai tại thời điểm thụ đắc có thể là các vùng lãnh thổ và đảo không có người sinh sống,[20] hoặc một số trường hợp khác như quốc gia trước đó từ bỏ chủ quyền.[21] Trước đây, một số học giả phương Tây cho rằng lãnh thổ có cư dân bản địa sinh sống nhưng không được quản lý bởi một nhà nước vẫn có thể được coi là terra nullius ,[22] quan điểm này sau đó bị bác bỏ bởi tòa ICJ trong Ý kiến tư vấn trong Vụ Tây Sahara .[23] Nhận định của Tòa rằng “ Mặc dù các luật gia có những ý kiến khác nhau, thực tiễn chung trong thời điểm đó không công nhận những lãnh thổ có sự sinh sống của bộ tộc hoặc nhóm người có một tổ chức chính trị - xã hội là terra nullius”, [24] đã   phản ánh việc cần có những đòi hỏi chặt chẽ hơn để xác minh lãnh thổ vô chủ. Trên thực tế, thế giới hiện nay gần như không có khu vực nào đủ “trống”[25] hay nằm ngoài chủ quyền một quốc gia nhất định[26] để được công nhận là terra nullius.  Biển cả nằm ngoài phạm vi của phương thức này do là res communis  (dành cho tất cả các quốc gia).[27] Đối với trường hợp lãnh thổ đã từng thuộc chủ quyền của một quốc gia nhưng sau đó bị từ bỏ, cần xét đến hai yếu tố: (i) không có những hành động thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó và (ii) ý định từ bỏ chủ quyền của quốc gia trước đó.[28] Nhằm xác lập chủ quyền lãnh thổ, các quốc gia từng sử dụng cách thức phát hiện hay khám phá (discovery).[29] Nhìn lại lịch sử, cùng với sự phát triển của ngành hàng hải từ thế kỷ XII, các quốc gia Châu Âu đã đặt chân đến những vùng đất mới nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ. Khoảng giữa thế kỷ XV đến XVI, các quốc gia có thể thiết lập chủ quyền trên lãnh thổ vô chủ được quốc gia đó phát hiện. Điển hình, Hiệp ước Tordesillas giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1494 đã pháp điển hoá sắc lệnh của Giáo hoàng Alexander VI, cho phép Bồ Đào Nha lập chủ quyền đối với các đảo và đất liền tìm thấy và sẽ tìm thấy ở phía Đông của một đường cách đường nối từ Cực Nam với Cực Bắc thông qua phía Tây đảo Cape Verde 370, các vùng lãnh thổ ở phía Tây đường này thuộc về Tây Ban Nha.[30] Tuy nhiên theo thời gian, cách thức này bộc lộ nhiều hạn chế.[31] Nhiều lập luận cho rằng, cách thức này chỉ tạo ra “danh nghĩa ban đầu” (inchoate title) chứ không thể thiết lập chủ quyền,[32] luật pháp quốc tế đòi hỏi cách thức xác lập chủ quyền thực chất hơn. Thông qua việc để lại bằng chứng mang tính biểu tượng trên các vùng lãnh thổ vô chủ như cắm cờ hay ra tuyên bố quốc tế,[33] cách thức chiếm hữu tượng trưng có nhiều ưu điểm hơn cách thức phát hiện nhưng dễ dẫn đến tranh chấp do nhiều điều kiện như thông tin chưa phát triển lúc bấy giờ.[34] Thế kỷ XIX, những điều kiện mới xuất hiện đã đặt ra yêu cầu cách thức chiếm hữu bằng phát hiện hiện cần song hành với thời gian hợp lý bởi chiếm hữu thực sự (effective occupation).[35] Hai yếu tố cần xét đến để chứng minh sự hữu hiệu của chiếm hữu (occupation) chính là sự chiếm hữu (possession) và sự quản lý hành chính (administration).[36] Nói một cách dễ hiểu, chiếm hữu hữu hiệu được thể hiện thông qua sự chiếm hữu về mặt lãnh thổ và động thái quản lý của chính quyền nhà nước. Sự chiếm hữu (possession) ở đây bao gồm hai điều kiện: (i) chiếm hữu hữu hình (corpus) , có thể được biểu hiện tùy thuộc vào đặc điểm lãnh thổ; và (ii) ý định chiếm hữu lãnh thổ  (animus) , thường được chứng minh thông qua những động thái chính thức thể hiện ý định xác lập chủ quyền đối với lãnh thổ mới được chiếm hữu của quốc gia có yêu sách chủ quyền.[37] Phân tích về chiếm hữu thực sự, James Crawford[38] trích dẫn nhận định của tòa trong Vụ Eastern Greenland (Đan Mạch v. Na Uy) : “Một yêu sách chủ quyền không dựa trên một số hành động cụ thể hay danh nghĩa chủ quyền được thiết lập dựa trên điều ước chuyển nhượng mà chỉ dựa trên việc tiếp tục thể hiện thẩm quyền, bao gồm hai yếu tố mà mỗi yếu tố phải được chứng minh là tồn tại: ý định và ý chí hành động với tư cách chủ quyền, và một số hành động thực tế hoặc sự thể hiện thẩm quyền đó.” [39] Lập luận về chiếm hữu thực sự này sau đó tiếp tục được đề cập tới trong một số vụ việc như Eritrea v. Yemen. [40] Theo đó, ý định của quốc gia trong việc thiết lập chủ quyền đối với lãnh thổ và những động thái trên thực tế là hai điều kiện tối quan trọng để quốc gia thụ đắc lãnh thổ theo cách thức chiếm hữu thực sự. Yếu tố quản lý (administration) đòi hỏi quốc gia chiếm hữu cần có các động thái quản lý tiếp sau khi chiếm hữu lãnh thổ terra nullius để được cấu thành thành chiếm hữu thực sự.[41] Trong Định ước Berlin năm 1885, mặc dù chỉ giới hạn giữa các thành viên tham gia Hội nghị Berlin và lãnh thổ châu Phi, cũng quy định hai điều kiện công nhận tính hợp pháp của hành động chiếm hữu với các vùng lãnh thổ châu Phi là phải thông báo cho các quốc gia tham gia hội nghị và nước chiếm hữu phải duy trì sự hiện diện của nhà nước tại vùng lãnh thổ mới chiếm hữu.[42] Mối tương quan giữa phát hiện và chiếm hữu thực sự có thể được nhìn thấy trong Vụ Đảo Palmas. Trong vụ việc này, Hoa Kỳ cho rằng theo Hiệp ước Paris năm 1898, Tây Ban Nha đã nhượng lại toàn bộ chủ quyền của Tây Ban Nha đối với đảo này dựa trên việc Tây Ban Nha đã phát hiện đảo vào thế kỷ XIV, trong khi Hà Lan khẳng định nước này đã xác lập chủ quyền thông qua việc thực thi chủ quyền trong thời gian dài.[43] Tòa trọng tài nhận định sự phát hiện chỉ tạo ra danh nghĩa ban đầu (inchoate title) , không có những động thái chiếm hữu trên thực tế.[44] Danh nghĩa này chỉ được hoàn thiện đầy đủ với “việc chiếm hữu thực chất khu vực được cho là được phát hiện trong một khoảng thời gian hợp lý (a reasonable period)”.[45] Như vậy Tây Ban Nha đã không thể xác lập chủ quyền đầy đủ đối với đảo Palmas, do đó không thể chuyển nhượng cho Hoa Kỳ nhiều hơn những gì Tây Ban Nha có.[46] Như vậy, chiếm hữu từ lâu đã xuất hiện trong buổi bình minh của luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ và sau này được phát triển và hoàn thiện bởi những đòi hỏi chặt chẽ về chiếm hữu thực sự. Tuy theo thời gian, việc chứng minh tiền đề terra nullius ngày càng khó khăn và phức tạp do sự trái biệt về các học thuyết và tiến bộ công nghệ - kic thuật. Thực tiễn quốc tế cho thấy chính sự khó khăn này dẫn đến việc khó phân biệt rạch ròi giữa cách thức chiếm hữu và chiếm hữu theo thời hiệu. 3. Thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức chiếm hữu theo thời hiệu (Prescription) Chiếm hữu theo thời hiệu là cách thức xác lập chủ quyền lãnh thổ dựa trên các hoạt động thực thi chủ quyền thực chất, hòa bình, liên tục trong một khoảng thời gian hợp lý.[47] Đối tượng của chiếm hữu theo thời hiệu là lãnh thổ được giành từ một quốc gia khác một cách bất hợp pháp, không phải là lãnh thổ vô chủ, hoặc những trường hợp không xác minh được tính hợp pháp của hành vi thụ đắc lãnh thổ.[48] Chiếm hữu theo thời hiệu yêu cầu bên xác lập chủ quyền phải đáp ứng quá trình thụ đắc các yếu tố thực thi chủ quyền phải thực chất, phải hoà bình, không bị các quốc gia khác phản đối[49] dẫn đến sự gián đoạn tiến trình thụ đắc. Paul Fauchille chỉ ra bốn điều kiện để thụ đắc lãnh thổ bằng cách thức chiếm hữu theo thời hiệu trong luật quốc tế như sau: (i) việc chiếm hữu cần phải được thực thi với tư cách chủ quyền  (à titre de souverain) , quốc gia thụ đắc không chỉ cần thực thi chủ quyền mà còn cần không thừa nhận chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào khác tại vùng lãnh thổ được thụ đắc; (ii) sự chiếm hữu cần hòa bình và không bị gián đoạn, hay được hiểu là yêu sách chủ quyền của một quốc gia trên vùng lãnh thổ liên quan không bị thách thức; (iii) chiếm hữu phải công khai; (iv) chiếm hữu phải liên tục (persist).[50][51] Các điều kiện trên nhận được sự đồng tình của nhiều học giả như James Crawford,[52] hay David Johnson.[53] Tòa trọng tài trong Vụ Chamizal (Hoa Kỳ v. Mexico)  cũng sử dụng những điều kiện này để phủ nhận lãnh thổ El Chamizal trong vụ việc được Hoa Kỳ thụ đắc bằng cách thức chiếm hữu theo thời hiệu khi các trọng tài đồng thuận rằng không có gì chắc chắn quá trình chiếm hữu của Mỹ tại khu vực này không bị xáo trộn, gián đoạn và thách thức kể từ ngày ký thỏa thuận thành lập tòa trọng tài.[54] Mặt khác, sự chiếm hữu vật chất của công dân Hoa Kỳ và sự kiểm soát chính quyền của chính quyền địa phương và chính phủ liên bang đã luôn bị thách thức và hoài nghi thông qua các nhà ngoại giao của Mexico.[55] Phản đối ngoại giao hay các hành động hay phát biểu khác có tính chất phản đối đối với tình trạng chiếm hữu hữu hiệu sẽ vô hiệu hóa việc chiếm hữu theo thời hiệu[56] khi gián đoạn quá trình chiếm hữu. Trong một số trường hợp, sự chấp thuận của bên đối lập cũng trở thành một yếu tố quan trọng trong đánh giá yêu sách của một quốc gia dựa trên chiếm hữu theo thời hiệu.[57] Sự chấp thuận ở đây là sự im lặng hoặc không có sự phản đối của các quốc gia trong điều kiện cần thiết phải có những động thái phản đối rõ rệt.[58] Vụ Chamizal nêu trên là một ví dụ điển hình. Yêu cầu về “một khoảng thời gian hợp lý” không phải điều kiện mang yếu tố quyết định mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác và tình tiết vụ việc.[59] Trên thực tế, thời hiệu chỉ đóng vai trò bổ trợ chứng minh sự kiểm soát hiệu quả của một quốc gia đối với vùng lãnh thổ đó.[60] Trong một số vụ việc cụ thể, không dễ để phân biệt cách thức thụ đắc là chiếm hữu theo thời hiệu hay chiếm hữu thực sự do sự ngặt nghèo trong việc chứng minh terra nullius, liệu có hay không vùng lãnh thổ đó thật sự là terra nullius hay từng thuộc chủ quyền một quốc gia “thứ nhất” trước khi quốc gia “thứ hai” đưa ra yêu sách chủ quyền. Chẳng hạn, trong Vụ Đảo Palmas , phán quyết trọng tài không khẳng định liệu hòn đảo có thuộc chủ quyền Tây Ban Nha[1]  trước khi Hà Lan tiến hành kiểm soát hay không.[61] Trong trường hợp từ bỏ chủ quyền lãnh thổ[62] khi cần chứng minh quốc gia ban đầu đã từ bỏ cả về lãnh thổ (corpus) và ý định chiếm hữu lãnh thổ đó (aminus). [63] Tóm lại, cách thức chiếm hữu theo thời hiệu là cách thức thụ đắc lãnh thổ đối với lãnh thổ không phải vô chủ (terra nullius), dựa trên chiếm hữu thực sự, hòa bình, liên tục trong một khoảng thời gian hợp lý. 4. Thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức bồi tụ (Accretion) Bồi tụ (Accretion) là phương thức thụ đắc lãnh thổ thông qua các hiện tượng tự nhiên như bồi đắp phù sa, chuyển dòng chậm rãi của sông, hoạt động núi lửa hoặc do quá trình kiến tạo đất liền làm phát sinh phần lãnh thổ gắn liền với lãnh thổ hiện hữu của một quốc gia.[64] Theo đó, quốc gia có quyền xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới hình thành này với điều kiện quá trình bồi tụ phải diễn ra một cách khách quan, tự nhiên và từ từ, và không làm phát sinh tranh chấp từ các quốc gia lân cận.[65] Một ví dụ điển hình về việc công nhận lãnh thổ mới do hoạt động của núi lửa là sự công nhận một hòn đảo mới nổi lên trong vùng biển lãnh hải của đảo Iwo Jima thuộc Nhật Bản năm 1986, sự kiện này đã được chính phủ Anh công nhận ngay lập tức là một phần lãnh thổ của Nhật Bản mà không cần các hành động chiếm hữu chính thức nào.[66] Trái ngược với bồi tụ (accretion), thuật ngữ xói mòn hay chuyển dịch đột ngột (avulsion) cũng thường được đề cập đến khi nói về cách thức thụ đắc lãnh thổ này, đặc biệt là các dòng sông biên giới.[67] Sự chuyển dịch tự nhiên của dòng sông, qua thời gian có thể làm thay đổi đường biên giới đã vạch ra trước đó, và đặt ra câu hỏi đường biên giới giữa hai quốc gia có dịch chuyển theo dòng chảy mới không? Câu trả lời phụ thuộc vào cách thức dịch chuyển của dòng sông. Trường hợp dòng sông thay đổi một cách đột ngột, mạnh mẽ và đáng kể (avulsion) thì sẽ không được xem là thay đổi đường biên giới; nói cách khác, đường biên giới sông lúc này không được tính theo dòng nước mà theo phần đất bên dưới.[68] Ngược lại, trường hợp thay đổi của dòng sông là sự tích lũy trầm tích và không dễ nhận thấy, có thể dẫn đến việc mở rộng chủ quyền của quốc gia ven sông.[69] Tính chất từ từ của quá trình bồi tụ dẫn đến sự giả định về chiếm hữu của quốc gia ven sông và sự mặc nhiên chấp nhận của các quốc gia khác; do đó biên giới lúc này được xem là chuyển dịch với sự thay đổi dòng sông.[70] Điều này cũng được áp dụng đối với các hồ biên giới.[71] Ví dụ trong vụ  Nebraska v. lowa,  143 U.S. 359 (1892), Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã xác định biên giới giữa hai bang là dòng sông Missouri vốn có sự thay đổi dòng chảy theo thời gian và là thay đổi đột ngột (avulsion), do đó ranh giới giữa bang Nebraska và bang lowa vẫn được giữ nguyên tại dòng chảy cũ.[72] Tương tự, vụ Chamizal  (Mexico v. Hoa Kỳ) là một ví dụ điển hình cho quá trình bồi tụ liên quan đến sự dịch chuyển dòng chảy tự nhiên của sông Rio Grande. Theo đó, phán quyết trọng tài đã xác định rằng những thay đổi ở Rio Grande trong khoảng thời gian từ năm 1852 đến năm 1864 là kết quả của quá trình xói mòn dần dần và lắng đọng phù sa, trong khi vào năm 1864 là sự thay đổi đột ngột.[73] Do đó đường biên giới sông được giữ nguyên tại trung tâm dòng sông như đã được xác định vào thời điểm trước trận lũ năm 1864, ngược lại sự thay đổi đột ngột trong trận lũ năm 1864 không được xem là cơ sở hợp pháp cho việc thay đổi biên giới.[74] Như vậy phần diện tích đất hình thành trước năm 1864 được xác định là kết quả của quá trình bồi tụ tự nhiên và dần dần, nên được xem là thụ đắc hợp pháp theo nguyên tắc bồi tụ. Tóm lại, trong thực tiễn quốc tế, bồi tụ vừa là kết quả của các quá trình tự nhiên, vừa là cơ sở để quốc gia ven biên xác lập và mở rộng chủ quyền một cách hòa bình. Khác với sự thay đổi đột ngột (avulsion), quá trình bồi tụ chậm rãi, khách quan và liên tục thường dẫn đến sự mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của quốc gia ven sông hoặc vùng lãnh thổ tiếp giáp. Các phán quyết quốc tế như vụ Nebraska v. Iowa  hay Chamizal được nhắc đến ở trên đã làm rõ sự phân biệt giữa hai khái niệm này và khẳng định nguyên tắc: sự dịch chuyển lãnh thổ do bồi tụ có thể làm thay đổi đường biên giới, với điều kiện không có tranh chấp và được các bên mặc nhiên chấp nhận. 5. Thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức sử dụng vũ lực/xâm lược Phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm lược là một khái niệm từng tồn tại trong luật quốc tế, khi các quốc gia sử dụng vũ lực để chiếm đóng và sáp nhập lãnh thổ của một quốc gia khác.[75] Về mặt lịch sử, xâm lược từng được coi là một phương thức hợp pháp để thụ đắc lãnh thổ. Bởi trước thế kỷ XX, luật pháp quốc tế không phân biệt nguyên nhân chính đáng và không chính đáng của các hành vi xâm lược, cũng như không cấm việc sử dụng vũ lực để mở rộng lãnh thổ; do đó, việc chiếm đoạt lãnh thổ bởi các hành vi xâm lược không bị xem là injuria  (hành vi sai trái).[76] Điều này có thể thấy qua lịch sử mở rộng quyền lực của Anh ở Ấn Độ; của chủ quyền Hà Lan tại Đông Ấn; của quyền lực đế quốc Nga ở Bắc và Trung Á; và của sự cai trị của Pháp ở Đông Dương.[77] Tuy nhiên, sự phát triển của luật quốc tế đã nghiêm cấm hành vi xâm lược và coi việc thụ đắc lãnh thổ do sử dụng vũ lực là bất hợp pháp.[78] Quá trình phát triển của nguyên tắc này bắt đầu từ sau Thế chiến I với sự ra đời của Hiệp ước Thành lập Hội Quốc Liên (1919). Trong đó Điều 10 của Hiệp ước nêu rõ: “ Các thành viên của Liên minh cam kết tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị hiện có của tất cả các thành viên của Liên minh trước sự xâm lược từ bên ngoài.” [79] Hiệu quả của điều khoản này là cấm tuyệt đối việc chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực và buộc thành viên của Hiệp ước phải cam kết ngăn chặn mọi hành vi xâm lược khi chúng xảy ra.[80] Tuy nhiên Hiệp ước năm 1919 không hoàn toàn coi tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược trở thành bất hợp pháp, do các điều khoản chủ yếu nhằm ngăn chặn chiến tranh bằng cách khuyến khích quốc gia giải quyết tranh chấp bằng các phương thức hòa bình.[81] Tiếp sau Hiệp ước năm 1919, Hiệp ước Kelogg-Briand năm 1928 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc pháp điển hóa nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, khi hầu hết các cường quốc trên thế giới đều bỏ quyền sử dụng chiến tranh như một công cụ của chính sách quốc gia.[82] Tuy nhiên, chiến tranh vẫn được coi là hợp pháp trong trường hợp tự vệ - một ngoại lệ không được nêu rõ trong văn bản của Hiệp ước nhưng đã được ngầm hiểu trong các cuộc trao đổi ngoại giao trước kí kết.[83] Theo các học giả như McMahon và Brownlie phân tích, việc các quốc gia khác tham gia vào “chiến tranh trừng phạt” để khôi phục hòa bình, có thể đẫn đến sự thay đổi lãnh thổ và được cộng đồng quốc tế công nhận nếu thấy đây là biện pháp cần thiết để ngăn chặn sự tái phát xâm lược trong tương lai.[84] Do đó, Hiệp ước Kelogg-Briand chỉ tăng cường hạn chế đối với hành vi mở rộng lãnh thổ bằng vũ lực, mà không loại bỏ hoàn toàn khả năng thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức này, đặc biệt khi đi kèm với vấn đề trừng phạt kẻ xâm lược và duy trì an ninh tập thể.[85] Với sự phát triển của luật pháp quốc tế sau Thế chiến II, sự ra đời của Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định rõ ràng và dứt khoát Nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực nhằm mở rộng lãnh thổ. Cụ thể Điều 2(4) của Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định tất cả các quốc gia thành viên phải từ bỏ đe dọa vũ lực hoặc sử dụng vũ lực nhằm chống lại toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào.[86] Tương tự, Nghị quyết 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhấn mạnh “sự không thể chấp nhận của việc chiếm lãnh thổ bằng chiến tranh”.[87] Và Tuyên bố Các Nguyên tắc Pháp lý Quốc tế năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng quy định: “ Lãnh thổ của một quốc gia sẽ không phải là đối tượng của việc chiếm đoạt bởi một quốc gia khác thông qua đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Không có sự chiếm đoạt lãnh thổ nào từ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực sẽ được công nhận là hợp pháp ”.[88] Sau năm 1945, Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực không chỉ được quy định trong các văn kiện pháp lý mà còn được được củng cố trong thực tiễn thông qua phản ứng của cộng đồng quốc tế và được công nhận là một quy phạm tập quán quốc tế trong phán quyết kinh điển  Vụ Nicaragua v. Mỹ năm 1986.[89] Bên cạnh đó, Nguyên tắc trên liên tục được khẳng định thông qua các trường hợp cụ thể khi một số quốc gia tìm cách chiếm đóng lãnh thổ bằng vũ lực, song đều không được cộng đồng quốc tế công nhận.[90] Một ví dụ điển hình của việc bác bỏ hành vi sử dụng vũ lực là trường hợp Iraq xâm lược Kuwait năm 1990. Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã nhanh chóng lên án hành vi xâm lược và quyết định rằng việc Iraq tuyên bố sáp nhập Kuwait “dưới bất kỳ hình thức nào và với bất kỳ lý do nào đều không có giá trị pháp lý và bị coi là vô hiệu”.[91] Sự kiện này đã tái khẳng định rằng việc chiếm lãnh thổ bằng vũ lực là bất hợp pháp và không thể tạo ra quyền thụ đắc lãnh thổ theo luật quốc tế hiện nay. Như vậy, mặc dù trong lịch sử, xâm lược từng được coi là phương thức hợp pháp để thụ đắc lãnh thổ, song sự phát triển của luật pháp quốc tế hiện đại đã từng bước xóa bỏ tính chính danh của phương thức này. Từ Hiệp ước thành lập Hội Quốc Liên năm 1919, Hiệp ước Kellogg-Briand năm 1928, đến Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 và các văn kiện tiếp theo, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực nhằm mở rộng lãnh thổ đã được xác lập một cách rõ ràng, dứt khoát, và được củng cố bằng thực tiễn pháp lý quốc tế. Việc thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực không chỉ bị lên án về mặt pháp lý mà còn không được cộng đồng quốc tế công nhận trong mọi hình thức. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp, cũng như bảo đảm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia trong thời đại hiện nay.   Kết luận:  Trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ vẫn đang diễn ra tại nhiều khu vực trên thế giới, việc hiểu rõ các phương thức thụ đắc lãnh thổ mang ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ chủ quyền, cũng như thúc đẩy giải quyết tranh chấp một cách hòa bình trên nền tảng pháp lý vững chắc. Trên cơ sở đó, bài viết đã tập trung phân tích năm phương thức thụ đắc lãnh thổ cơ bản trong luật quốc tế: chuyển nhượng, chiếm hữu, chiếm hữu theo thời hiệu, bồi tụ, và xâm lược (đã không còn hợp pháp). Mỗi phương thức được làm rõ thông qua cơ sở pháp lý, điều kiện áp dụng, cũng như các ví dụ minh họa từ án lệ và thực tiễn quốc tế, như  Vụ Đảo Palmas  hay Vụ Chamizal. Qua đó, bài viết giúp người đọc có cái nhìn hệ thống và thực tiễn về cách thức các quốc gia có thể mở rộng hoặc xác lập chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế, phù hợp với sự phát triển của luật pháp quốc tế hiện đại. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Robert Jennings and Arthur Watts (biên tập), Oppenheim’s International Law, vol 1 (9th edn, Longman 1992) p. 677. Xem thêm James Crawford,  Brownlie’s Principles of Public International Law (8th edn, OUP 2012), p.221. [2] Malcolm N. Shaw, International Law (6th ed., Cambridge University Press, 2008) p.495. Xem thêm O’Connell, Law, p. 405 [3] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law (8th edn, OUP 2012), p.221-222. [4] [5] [6] Malcolm N. Shaw, International Law  (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p. 499. [7] [46] Island of Palmas  (1928) 2 RIAA, p. 829 (1928); 4 AD, p.103. [8]  Ida Robinson Smith Putnam (USA) v United Mexican States 4 RIAA, p.158 (1925); 3 AD, p. 336 [9] Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, Điều 43 - 53. [10] Oliver Dörr, ‘Cession’ (Oxford Public International Law, August 2019), < https://opil.ouplaw.com/display/10.1093/law:epil/9780199231690/law-9780199231690-e1377?prd=MPIL > truy cập ngày 11/05/2025. [11] Joint declaration of the government of the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and The Government of The People's Republic of China on the question of Hongkong 1984, Điều 3(1). [12] Hiệp định về Chuyển nhượng của Nga hoàng các tài sản của Nga tại Bắc Mỹ cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Điều 1, < http://avalon.law.yale.edu/19th_century/treatywi.asp > truy cập ngày 13/05/2025. [13] Louisiana Purchase Treaty, 1803. [14] Anglo - German Treaty, 1890. [15] Surya Prakash Sharma, Territorial Acquisition, Disputes, and International Law (Martinus Nijhoff Publishers, 1997), p.62. [16] [21] [22] Peter Malanckzuk,  Akehurst’s Modern Introduction to International Law  (7th ed., Routledge, 1997), p.148. [17] Randall Lesaffer, ‘Argument from Roman Law in Current International Law: Occupation and Acquisitive Prescription’, [2005] 16(1) The European Journal of International Law, p.40, < http://www.ejil.org/pdfs/16/1/289.pdf > truy cập ngày 10/05/2025. [18] Western Sahara , Advisory opinion 1975, p.38-39, para. 79 - 83. [19] [39] Legal Status of Eastern Greenland , Judgement, P.C.I.J. 1933 (Series A/B, No. 53). [20] [27] Malcolm N. Shaw, International Law (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p.503. [23] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd ed., Oxford University Press, 2006), p.259. [24]  Western Sahara , Advisory opinion 1975 p.38-39, para. 80. [25]  “In the modern context, it has fallen into disuse. This is because there remains on the surface of the earth no truly ‘vacant’ territory”  trích từ James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) p.220. [26] [28] [32] Peter Malanckzuk, Akehurst’s Modern Introduction to International Law (7th ed., Routledge, 1997), p.148 - 150. [29] Surya Prakash Sharma, Territorial Acquisition, Disputes, and International Law (Martinus Nijhoff Publishers, 1997), p.40 - 46. [30] Phạm Lan Dung (Chủ biên),  Giáo trình Công pháp Quốc tế , (Nhà xuất bản Thanh niên 2024), tr. 200. [31] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) p.223. [33] [48] Malcolm N. Shaw,  International Law  (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p. 504. [34] Phạm Lan Dung (Chủ biên), Giáo trình Công pháp Quốc tế , (Nhà xuất bản Thanh niên 2024), tr. 200. Xem thêm Trần Thị Thuỳ Dương, Nguyễn Thị Yên (Chủ biên), Giáo trình công pháp quốc tế , quyển 1 (Nhà xuất bản Công an nhân dân), tr. 247. [35] Island of Palmas  (1928) 2 RIAA, p. 829, 846; 4 AD, p. 103, 108. [36] [37] [41] Robert Jennings and Arthur Watts, Oppenheim’s International Law (Oxford University Press, 1996), p. 688 - 689. [38] James Crawford, B rownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012), p.222. [40]  Eritrea v. Yemen  (1998) 114 ILR 1, p.69. [42] General Act of the Berlin Conference on West Africa 1885, Article 34, 35. [43] Island of Palmas (1928) 2 RIAA. [44] [45]  Island of Palmas (1928) 2 RIAA, p. 846. [47] I.A. Shearer (ed.), Starke’s International Law (11th ed., 1994), at 153. [49] Peter Malanckzuk, Akehurst’s Modern Introduction to International Law  (7th ed., Routledge, 1997), p. 150 - 154. [50] Paul Fauchille, Traité de droit international public  (8th ed., 1925), p. 760-761. [51] Fauchille rút những điều kiện này từ Bộ luật Dân sự Pháp. Trích từ Randall Lesaffer, “Argument from Roman Law in Current International Law: Occupation and Acquisitive Prescription”, [2005] 16(1) The European Journal of International Law, p.40. Retrieved from < http://www.ejil.org/pdfs/16/1/289.pdf > truy cập ngày 10/05/2025. [52] James Crawford,  Brownlie’s Principles of Public International Law (8th ed., Oxford University Press 2012) p.231. [53] David Johnson, ‘Acquisitive Prescription in International Law’ [1950] The British Year Book of International Law, p.343. [54] [55] Chamizal  (1911) 11 RIAA 309, p.328. Xem thêm Randall Lesaffer, ‘Argument from Roman Law in Current International Law: Occupation and Acquisitive Prescription’, [2005] 16(1) The European Journal of International Law, p.51, < http://www.ejil.org/pdfs/16/1/289.pdf > truy cập ngày 13/05/2025. [56] Trần Hữu Duy Minh, ‘Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ’ (Công pháp Quốc tế, 2024) < https://iuscogens-vie.org/2017/09/22/35/#_ftnref8 > truy cập ngày 20/04/2025. [57] I.C. MacGibbon, ‘The Scope of Acquiescence in International Law’, [1954] The British Year Book of International Law, p.154. [58] I.C. MacGibbon, ‘The Scope of Acquiescence in International Law’, [1954] The British Year Book of International Law, p.143 - 186. [61] James Crawford,  Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) p.230. Peter Malanckzuk, Akehurst’s Modern Introduction to International Law (7th ed., Routledge, 1997), p. 150. [59] [60] [62] Malcolm N. Shaw,  International Law (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p. 504 - 507. [63] Charles L O Buderi, Luciana T Ricart, ‘Modes of Acquisition and Effective Control of Territory’ [2018] The Iran-UAE Gulf Islands Dispute, p.158. [64] [65] [67] Malcolm N. Shaw, International Law  (6th edn, Cambridge University Press 2008)​ p.498. [66] Geoffrey Marston, ‘United Kingdom Materials on International Law 1986’ (1986) 57 British Yearbook of International Law  487, 563.​ Trích từ James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) 240. [68] [69] [70] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) 240-241. [71] “Đối với các hồ biên giới, nguyên tắc được áp dụng là đường trung tuyến (median line), nhưng như thường lệ, các thỏa thuận rõ ràng hoặc sự mặc nhiên chấp nhận cũng có thể dẫn đến những cách phân chia khác.”  Trích từ James Crawford, (8th edn, Oxford University Press 2012) p.240-241. [72]  Nebraska v. Iowa, 143 U.S. 359 (1892). [73] [74]  Chamizal (1911) 11 RIAA 309, p.316. Đọc thêm tại Ram Prakash Anand, “Accretion” trong Rüdiger Wolfrum, Anne Peters (biên tập), The Max Planck Encyclopedias of Public International Law  (Oxford University Press 2006). [75]  Malcolm N. Shaw, International Law  (6th edn, Cambridge University Press 2008), p.​ 500 - 501. [76] [77] Sharon Korman, The Right of Conquest: The Acquisition of Territory by Force in International Law and Practice  (Oxford University Press 1996), p.12, p.64. [78] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) 243. [79]  Covenant of the League of Nations  (1919), Điều 10. [80] [81] [83]  Sharon Korman, The Right of Conquest: The Acquisition of Territory by Force in International Law and Practice  (Oxford University Press 1996), p.180-193. [84] Ibid, p. 193-198. [85] Ibid, p. 197-199. [86]  Hiến chương Liên Hợp Quốc 1 UNTS XVI, Điều 2(4). [87]  Nghị quyết 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (ngày 22/11/1967) UN Doc S/RES/242. [88] Tuyên bố về Các Nguyên tắc Pháp lý Quốc tế liên quan đến Quan hệ Hữu nghị và Hợp tác giữa Các Quốc gia UNGA Res 2625 (XXV) (1970). Xem thêm Điều 5(3) của Định nghĩa đồng thuận về xâm lược được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1974. Xem thêm Malcolm N. Shaw, International Law  (6th edn, Cambridge University Press 2008)​ 502.  [89] Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. United States of America). Merits, Judgment. I.C.J. Reports 1986, p. 14 [90]  Xem Vụ Israel sáp nhập Đông Jerusalem (1967) và Cao nguyên Golan (1981). Xem thêm trong Vụ chiến tranh Falklands (1982); Trường hợp Ấn Độ sáp nhập Goa (1961), Indonesia sáp nhập Đông Timor (1976). [91] Nghị quyết 662 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc UN Doc S/RES/662 (1990). Xem thêm Sharon Korman, The Right of Conquest: The Acquisition of Territory by Force in International Law and Practice  (Oxford University Press 1996), p. 292-301.

bottom of page