top of page

TRANG TÌM KIẾM

Tìm thấy 130 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

Blog (84)

  • [81] QUY ĐỊNH NGOẠI LỆ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH CỦATỔ CHỨC THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (WTO)

    Tác giả: Nguyễn Hoàng Trang, Phùng Đăng Khôi   Dẫn nhập:  Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại một cuộc họp của Uỷ ban Thương mại và Môi trường (CTE) của Tổ chức Thương mại Thế giới (“ WTO ”), đại diện các Thành viên WTO tham gia cuộc họp đã thực hiện tổng kết rà soát ti ến độ của các nước thực hiện nỗ lực đẩy mạnh thực hiện chính sách thương mại trong mối liên hệ v ới môi trường, theo đó xác tầm nhìn sắp tới là tăng cường tính minh bạch trong việc áp dụng các biện pháp nội địa về môi trường. Theo đó, các Thành viên khi áp dụng chính sách thương mại cần đặc biệt lưu ý để không tạo ra các rào cản thương mại không cần thiết. Mặt khác, việc tham gia WTO không đồng nghĩa rằng các Thành viên không được phép các biện pháp hạn chế thương mại, nếu việc áp dụng biện pháp đó nhằm bảo vệ các mục tiêu chính sách của mình, đặc biệt là các mục tiêu về môi trường.   1. Mối liên hệ giữa chính sách môi trường và nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO Lời mở đầu của Hiệp định Marrakesh năm 1994 khẳng định việc thành lập WTO nhằm thực hiện mối liên hệ giữa kinh tế và thương mại "...với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ…". Thương mại quốc tế, tuy vậy, vẫn cần "bảo đảm việc sử dụng tối ưu nguồn lực [...] theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường [...]".[1]  Tầm quan trọng và tính chính đáng của việc bảo vệ môi trường đã được thừa nhận như một mục tiêu của chính sách quốc gia và quốc tế; và phát triển bền vững là mục tiêu của tất cả các Hiệp định trong khuôn khổ WTO.[2] Thực tế, thương mại phụ thuộc mật thiết vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên, nguồn lực này hữu hạn và không thể tái tạo. Khi môi trường bị suy thoái, không chỉ nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất bị cạn kiệt, mà chất lượng đời sống và sức khỏe của con người cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Theo đó, năng suất lao động và sức mua suy giảm, triệt tiêu động lực của thị trường và sự phát triển của thương mại. Do vậy, chính sách thương mại và chính sách môi trường quốc gia có mối quan hệ tương trợ, bởi hệ thống thương mại đa phương hướng tới và hiện thực hóa việc phân bổ và sử dụng tài nguyên hiệu quả, thúc đẩy việc gia tăng sản xuất và cải thiện thu nhập. Đồng thời, bảo vệ môi trường là bảo vệ nguồn tài nguyên đầu vào và nền tảng thị trường cho việc mở rộng nền kinh tế và thương mại.[3] Do vậy, ngoại lệ môi trường, cùng với các ngoại lệ chung theo quy định Điều XX GATT, là cơ chế nhằm hài hoá sự mâu thuẫn tiềm tàng giữa việc tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường với các giá trị và lợi ích xã hội căn bản[4] và bảo đảm an ninh và tính dễ dự đoán của việc tiếp cận thương mại cho thương nhân và nhà đầu tư.[5] 2. Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường trong các Hiệp định WTO Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường xuất hiện trong nhiều Hiệp định WTO. Cụ thể, Điều XX Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan ( “GATT” ) và Điều XIV Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) đều quy định việc cho phép các Thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong trường hợp “cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật.[6] Điều XX GATT có quy định thêm về ngoại lệ trong trường hợp “liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”.[7] Các Hiệp định WTO về các vấn đề chuyên biệt cũng chứa đựng các quy định tương tự cho phép áp dụng ngoại lệ về môi trường khi các chính sách thương mại được áp dụng nhằm theo đuổi các mục tiêu chính sách chính đáng.[8] Điều XX GATT về Ngoại lệ chung liệt kê một danh sách hữu hạn các trường hợp mà Thành viên được phép áp dụng các biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ GATT một cách có điều kiện.[9] Cụ thể, điều khoản có quy định như sau về các ngoại lệ về môi trường: “Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý  giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế , không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp: […] (b) cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật; […] (g) liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước; Có thể nói rằng quy định về ngoại lệ môi trường của GATT là những quy định tiêu biểu, nền tảng và mang tính chất giải thích cao, đặc biệt là đối với những nội dung tương tự tại các Hiệp định WTO khác. Trong giai đoạn từ 1947 đến 1994, vụ Tuna Dolphin I (1991) và Tuna Dolphin II (1994) đã đặt nền móng cho việc giải thích ngoại lệ về môi trường được quy định trong GATT. Hai vụ việc này xoay quanh việc Mỹ đưa ra lệnh cấm đơn phương nhập khẩu cá ngừ đuôi vàng được đánh bắt theo phương thức cũng giết cá heo.[10] Ban Hội thẩm của cả hai vụ việc cho rằng, việc một biện pháp thương mại được đưa ra hướng đến tác động quốc gia khác thay đổi chính sách môi trường không "cần thiết" theo nghĩa của Điều XX(b)[11] và không "liên quan" theo nghĩa của Điều XX(g).[12] Sau khi WTO được thành lập, Cơ quan Phúc thẩm tiếp cận theo hướng mở rộng sự công nhận các biện pháp bảo vệ môi trường chính đáng theo ngoại lệ Điều XX(b) và XX(g).[13] 2.1. Phép thử hai tầng Thoạt nhìn theo quy định của Điều XX, để một biện pháp phù hợp với các quy định về ngoại lệ cần thỏa mãn hai yếu tố: Phần Lời mở đầu ( "Chapeau" ) và các trường hợp cụ thể trong Đoạn (a) đến (j).   Trong vụ US - Gasoline và vụ US - Shrimp , Cơ quan Phúc thẩm nhấn mạnh để xem xét liệu một biện pháp có thoả mãn quy định về ngoại lệ theo Điều XX, Ban Hội thẩm phải trước hết xem xét liệu biện pháp có phù hợp với các quy định trong các đoạn từ (a) đến (j), sau đó mới đánh giá liệu biện pháp đó có thoả mãn các yêu cầu của Chapeau.[14] 2.2. Ngoại lệ tại Điều XX(b) về bảo vệ sự sống, sức khoẻ (người, động, thực vật) Nhằm thoả mãn điều kiện tại Điều XX(b), biện pháp thương mại đó (i)  phải được xây dựng để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật và (ii) biện pháp cần thiết để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật. Về điều kiện thứ nhất, tính phù hợp của mục tiêu biện pháp theo Điều XX(b) được đánh giá dựa trên sự tồn tại của rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật, và rủi ro đó phải hiện hữu, rõ ràng chứ không phải nguy cơ chung chung.[15] Đồng thời, phải có mối quan hệ rõ ràng giữa biện pháp được đưa ra và việc bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[16] Ví dụ, trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, Ban Hội thẩm chấp nhận lập luận của Brazil rằng biện pháp của Brazil phù hợp với trường hợp cụ thể của Điều XX(b).[16] Theo đó, sự tích tụ lốp xe thải tạo ra môi trường sinh sôi của muỗi - là chủ thể chứa bệnh dịch nguy hiểm, và những bệnh dịch đó có thể lây truyền trong quá trình xử lý lốp thải. Đồng thời, lốp xe thải tích tụ có thể rỉ nước, gây cháy và thải ra môi trường khí độc. Trên cơ sở đó, Ban Hội thẩm cho rằng tồn tại rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật[18] và biện pháp được đưa ra nhằm thực hiện bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[119] Về điều kiện thứ hai, biện pháp có được coi là "cần thiết" được xem xét trên cơ sở sự quan trọng của lợi ích hoặc giá trị bị tổn hại, mức độ đóng góp đối với sự hoàn thành mục đích của biện pháp và tính hạn chế thương mại của biện pháp đó. Biện pháp chỉ được coi là cần thiết nếu không tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn mà có mức độ đóng góp tương đương với sự hoàn thành mục đích và biện pháp đó phải tồn tại một cách hợp lý.[20] Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh sự tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn.[21] Theo đó, biện pháp sẽ càng dễ dàng được xem là cần thiết nếu biện pháp có mục đích bảo vệ giá trị xã hội càng quan trọng và đóng góp đáng kể tới việc bảo vệ biện pháp đó. Trong vụ EC - Asbestos, Ban Hội thẩm công nhận việc loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ đe doạ đến sức khoẻ và đến sự sống của sợi amiăng là "quan trọng ở mức độ cao nhất".[22] Trong vụ Brazil - Retreaded Tyres , biện pháp không được coi là tồn tại một cách hợp lý khi mà biện pháp đó chỉ phù hợp trên lý thuyết hoặc bên bị đơn không có khả năng thực hiện hoặc biện pháp cấu thành gánh nặng chi phí hoặc kỹ thuật cho bị đơn.[23] Trong vụ EC - Asbestos, Canada (Nguyên đơn) cho rằng tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn - việc sử dụng có kiểm soát amiăng.[24] Tuy nhiên, Ban Hội thẩm cho rằng biện pháp sử dụng có kiểm soát không hợp lý - bởi biện pháp sẽ không đủ để chấm dứt rủi ro từ amiăng và bảo vệ sức khoẻ con người.[25] 2.3. Ngoại lệ tại Điều XX(g) về giữ gìn nguồn tài nguyên có thể cạn kiệt Điều XX(g) GATT cho phép Thành viên áp dụng biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ nêu tại GATT trong trường hợp việc áp dụng biện pháp đó là “ liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước ”. Trước đây, ngoại lệ Điều XX(g) đã được các Thành viên viện dẫn nhằm biện minh cho đa dạng các biện pháp nhằm hướng tới việc bảo tồn nguyên liệu thô,[26] đất hiếm,[27] cá hồi và cá trích,[28] cá ngừ và cá heo,[29] rùa biển[30] và không khí sạch.[31] Có thể thấy rằng Điều XX(g) áp dụng việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên với nội hàm rộng. Để đáp ứng việc viện dẫn điều khoản này, một biện pháp được áp dụng phải thoả mãn 03 điều kiện: (i)  biện pháp phải là về việc “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; (ii)  biện pháp liên quan tới “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; và (iii)  biện pháp áp dụng hạn chế đối với cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước. Về điều kiện thứ nhất . Trong vụ China – Raw Materials , cụm từ “gìn giữ” đã được giải thích là “việc bảo tồn môi trường, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên.[33] Sau đó, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth  đã mở rộng nội hàm này và cho rằng gìn giữ không đơn thuần là ngăn cấm việc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà còn bao gồm cả những nỗ lực áp dụng các biện pháp nhằm điều tiết và quản lý các hoạt động khai thác này.[34] Trong đó, “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” theo nghĩa tại Điều XX(g) không chỉ bao gồm tài nguyên phi sinh vật (ví dụ: khoáng sản) mà còn bao gồm tài nguyên sinh vật, trong đó bao gồm cả động vật. Trong vụ US – Shrimp , Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan và Malaysia cho rằng cụm từ “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” chỉ ám chỉ khoáng sản hay các tài nguyên phi sinh vật khác bởi tài nguyên sinh vật được xem là có khả năng tái tạo.[35] Tuy nhiên, quan điểm này đã hoàn toàn bị bác bỏ bởi Cơ quan Phúc thẩm, bởi sinh vật hoàn toàn có nguy cơ bị tuyệt chủng và giống với khoáng sản hay bất cứ tài nguyên phi sinh vật nào khác, sinh vật cũng có thể “cạn kiệt”.[36] Nhìn chung, một quan điểm đầy đủ nhất được Cơ quan Phúc thẩm đưa ra trong China – Rare Earth . Theo đó, việc “gìn giữ” khoáng sản có thể được hiểu là bảo tồn loại tài nguyên này thông qua việc giảm thiểu hoặc yêu cầu dừng đối với các hoạt động khai thác. Đối với sinh vật, “gìn giữ” không chỉ có các hoạt động nhằm giảm thiểu hoặc cho dừng các hoạt động thúc đẩy tuyệt chủng đối với các loài động vật quý hiếm, mà còn cả bao gồm việc tạo điều kiện thuận lợi nhằm tái tạo, phục hồi những loài động vật này.[37] Tuy nhiên, tới nay chưa có án lệ WTO nào chỉ ra thực vật cũng được xem là “tài nguyên cạn kiệt” cần được “gìn giữ” theo nghĩa của Điều XX(g). Về điều kiện thứ hai . Biện pháp cản trở thương mại của Thành viên chỉ được chấp nhận là thuộc vào ngoại lệ tại Điều XX(g) khi biện pháp đó “liên quan tới” việc thực hiện mục tiêu chính sách đã được xác định - “gìn giữ tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt”. Điều kiện “liên quan tới” đưa ra yêu cầu về mối quan hệ giữa biện pháp và mục tiêu chính sách ít nghiêm ngặt hơn so với điều kiện “cần thiết” tại Điều XX(b). Theo đó, khi xem xét liệu một biện pháp có “liên quan tới” mục tiêu mà Thành viên đề ra trước đó hay không thì cơ quan giải quyết tranh chấp WTO chỉ cần cân nhắc và phân tích cách thức thiết kế và cấu trúc vận hành của biện pháp thay vì phải đánh giá cả các hệ quả trên thực tế của biện pháp đó.[38] Giữa biện pháp và mục tiêu chính sách phải có một mối liên hệ gần gũi và thực chất.[39] Về điều kiện thứ ba.  Điều XX(g) yêu cầu việc áp dụng biện pháp mang tính hạn chế thương mại đồng thời với cả sản xuất trong nước, hay nói cách khác yêu cầu sự đối xử công bằng, không thiên vị (nguyên gốc:  even-handedness ) giữa hàng hoá trong và ngoài nước.[40] Theo đó, “even-handedness” không đơn thuần là việc áp dụng biện pháp giống hệt với các đối tượng khác nhau - nhà sản xuất trong nước và nước ngoài, mà cần phải được hiểu là sự đối đãi công bằng về thực chất.[41] Như vậy, khi một biện pháp thực sự chính đáng và “liên quan tới gìn giữ tài nguyên cạn kiệt”, biện pháp phải hướng tới việc chia đều trách nhiệm “gìn giữ” này tới tất cả nhà sản xuất, bất kể trong nước hay ngoài nước.[42] 2.4. Lời mở đầu ("Chapeau") của Điều XX Bên cạnh những điều kiện gắn cụ thể với mục tiêu bảo vệ môi trường của chính sách như nêu trên. Một biện pháp cản trở thương mại chỉ được xem là hợp pháp theo Điều XX khi đạt đủ cả các điều kiện nêu tại phần lời mở đầu của điều khoản này, theo đó,  một chính sách thương mạikhông thể được áp dụng trên cơ sở (i)  tạo ra sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý; hoặc (ii)  tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế. Nói cách khác, một biện pháp hạn chế thương mại, ngay cả khi rơi vào trường hợp ngoại lệ tại Điều XX vẫn cần phải được áp dụng một cách hợp lý, phù hợp với các nghĩa vụ pháp lý của các bên có liên quan.[43] Cơ quan Phúc thẩm trong vụ US – Shrimp  cho rằng mục đích của phần lời mở đầu Điều XX là nhằm yêu cầu các Thành viên duy trì sự cân bằng giữa quyền viện dẫn ngoại lệ của bản thân và nghĩa vụ nhằm tự do hoá thương mại của chính Thành viên đó đối với các Thành viên khác.[44] Thứ nhất , biện pháp được coi là "phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý" khi việc áp dụng biện pháp đó phải dẫn đến việc phân biệt đối xử, biện pháp đó có bản chất độc đoán và phi lý, và biện pháp phân biệt giữa các quốc gia có cùng điều kiện[45] hoặc áp dụng cứng nhắc mà không tính đến sự khác biệt trong điều kiện của từng quốc gia.[46] Phân biệt đối xử không chỉ dừng lại ở việc đối xử khác nhau với các quốc gia có cùng điều kiện, mà còn thể hiện ở việc không cho phép tiến hành bất kỳ cuộc điều tra nào về tính phù hợp của chương trình quản lý đối với các điều kiện hiện hành tại các quốc gia xuất khẩu đó.[47] Việc phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc phi lý không được xem xét theo góc độ tác động của việc phân biệt đối xử, mà được xem xét dựa trên liệu lý do của biện pháp có không có mối liên hệ tới mục đích của biện pháp.[48] Thứ hai , trong vụ US – Gasoline,  Cơ quan Phúc thẩm cho rằng một biện pháp hạn chế thương mại tức là biện pháp đó cấu thành sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý, tuy nhiên lại được thực hiện dưới vỏ bọc của biện pháp, trên danh nghĩa, có thể thuộc vào ngoại lệ được liệt kê tại Điều XX.[49] Trên cơ sở nhận định này, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth  đã chỉ ra thêm rằng, một biện pháp phân biệt đối xử có thể cấu thành một hạn chế thương mại trá hình; tuy nhiên một hạn chế thương mại trá hình không luôn luôn là một biện pháp mang tính chất phân biệt đối xử.[50] Nội hàm của cụm từ “hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế” không nằm ở “hạn chế” mà nằm ở từ “trá hình”, có ý nghĩa là “làm biến đổi nhằm đánh lừa” nếu xét theo nghĩa thông thường.[51] Như vậy, ngay cả khi một biện pháp đáp ứng các điều kiện hình thức của Điều XX, lại nhằm che giấu một mục tiêu hạn chế thương mại khác thì không thể được miễn trừ trách nhiệm theo Điều XX.[52] 3. Kết luận  Thông qua xem xét thực tiễn giải quyết tranh chấp, những quy định về ngoại lệ trong các hiệp định WTO về đa dạng các lĩnh vực đã thiết lập nên căn cứ pháp lý hỗ trợ các Thành viên điều tiết các chính sách thương mại quốc tế một cách phù hợp với mục tiêu, tầm nhìn của quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường. Như vậy, khuôn khổ pháp luật WTO đã xác lập một nguyên tắc chung về việc yêu cầu các Thành viên duy trì một cách hợp lý sự cân bằng giữa quyền tự chủ xác lập chính sách bảo vệ môi trường và các nghĩa vụ tự do hóa thương mại được xác lập khi gia nhập WTO - một hệ thống thương mại đa phương. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] Hiệp định Marrakesh, Lời mở đầu. [2] Appellate Body, US – Shrimp , para. 129, 130. [3] Agenda 21, § 2.19, UN Doc. A/CONF. 151/4 (1992) [4] Peter Van den Bossche and Werner Zdouc, The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases, and Materials  (4 th  edition, CUP) p. 544-545 [5] Report by the Consultative Board to the Director-General Supachai Panitchpakdi, Report on the Future of the WTO: Addressing Institutional Challenges in the New Millennium (World Trade Organization, 2014), para. 39 [6] Điều XX(b) GATT; Điều XIV(b) GATS. [7] Điều XX(g) GATT. [8] Điều 27.2 TRIPS; Điều 8.2 SCM; Điều 2.2 SPS; Điều 2.2, Điều 2.4 TBT [9] Panel, US – Section 337 Tariff Act, para 5.9 [10] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy , (3 rd  edition, OUP) page 723 [11] Tuna Dolphin I, para. 5.27; Tuna Dolphin II, paras. 5.36–5.38. [12] Tuna Dolphin I, para. 5.33; Tuna Dolphin II, para. 5.26. [13] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy , (3 rd  edition, OUP) page 724 [14] Appellate Body, US – Shrimp , paras. 119–20; Appellate Body, US – Gasoline, p. 22 [15]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.46. [16] Appellate Body, Colombia - Textiles, para 5.68. [17]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.53, 7.84. [18]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.96 [19]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.99, 7.100 [20] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 178 [21] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 156 [22] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 172. [23] Appellate Body, Brazil – Retreaded Tyres, para. 156 [24] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 169 [25] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 174. [26] China – Raw Materials [27] China – Rare Earth [28] Canada – Herring and Salmon [29] Tuna Dolphin I và Tuna Dolphin II; US – Tuna II [30] US – Shrimp [31] US – Gasoline [32] Nguyên gốc: relating to. [33] Appellate Body, China – Raw Materials, para. 355 [34] Panel, China – Rare Earth, para 7.266. [35]  Appellate Body, US – Shrimp, para. 127. [36] Appellate Body, US – Shrimp, para. 128. [37] Appellate Body, China – Rare Earth, para. 5.89. [38] Panel, China – Rare Earth, para 7.290 và 7.379 [39] US – Shrimp. See also: China – Raw Materials para 355 [40] Appellate Body, US – Gasoline, para 20-1. [41] Ibid. [42] Appellate Body. China – Rare Earth, para. 5.134. [43] Appellate Body, US – Gasoline p. 22, trích dẫn từ US – Spring Assemblies, para 56. [44] Appellate Body, US – Shrimp, para 156. See also: Appellate Body, EC – Seal Products, para 5.297. [45] Appellate Body, US - Shrimp, para 150 [46] EC – Seal Products, Appellate Body Report, para. 5.305. [47] Appellate Body, US - Shrimp, para 164, 165 [47] Indonesia – Import Licensing Regimes, Panel Report, para. 7.824 [49] Appellate Body, US – Gasoline, p.25 [50] Panel, China – Rare Earth, para. 7. 826 [51] Panel, EC – Abestos, para. 7.823 [52] Panel, EC – Abestos, para. 7.823

  • [82] CƠ BẢN VỀ LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ

    Tác giả: Bùi Tú Uyên, Hà Kiều Anh, Bùi Phương Anh Mở đầu : Luật Hình sự Quốc tế là ngành luật đặc thù điều chỉnh việc xác định tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự độc lập đối với các cá nhân có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến trật tự pháp lý toàn cầu. Nhằm hướng tới mục đích nghiên cứu cấu trúc nền tảng của ngành luật đặc biệt này, bài viết sẽ phân tích về những đặc trưng như nguồn, một số đặc điểm cơ bản và một số nguyên tắc chung của Luật Hình sự Quốc tế. Thông qua bài viết, nhóm tác giả mong muốn góp phần làm sáng tỏ, khẳng định nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm hạn chế và khắc phục những vùng xám pháp lý trong quá trình nhận diện và xử lý những tội ác nghiêm trọng nhất.   Từ khóa:  luật hình sự, quốc tế, nguồn, nguyên tắc, đặc điểm, tòa án hình sự.  1. Khái niệm Luật Hình sự Quốc tế Dưới góc độ lý luận, khái niệm Luật Hình sự Quốc tế được tiếp cận tương đối đa dạng. Theo Antonio Cassese, đây là hệ thống quy phạm xác định các tội ác quốc tế và quy kết trách nhiệm cá nhân.[1] Gerhard Werle đồng thời nhấn mạnh chức năng của ngành luật này trong công cuộc xử lý các vi phạm nghiêm trọng nhất của công pháp quốc tế.[2] Từ các quan điểm được công nhận và sử dụng rộng rãi nói trên, có thể khái quát: Luật Hình sự Quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế nhằm điều chỉnh việc nhận diện và xử lý các tội phạm cốt lõi đe dọa an ninh nhân loại. Nội hàm trung tâm của khái niệm này chính là sự bác bỏ cơ chế trách nhiệm tập thể của quốc gia để quy kết trách nhiệm trực tiếp cho các thể nhân thực hiện hành vi phạm tội. 2. Nguồn của Luật Hình sự Quốc tế Là một nhánh của Công pháp Quốc tế với mối quan hệ hai chiều gắn bó (twofold relationship) với Công pháp, Luật hình sự quốc tế mang tính đặc thù cao với cấu trúc lai ghép (hybrid branch of law), được hình thành từ sự giao thoa giữa các khái niệm, nguyên tắc và các cấu trúc pháp lý bắt nguồn từ công pháp quốc tế và luật hình sự quốc gia cùng luật nhân quyền.[3] Hệ thống nguồn của Luật Hình sự Quốc tế về cơ bản xuất phát từ Điều 38(1) của Quy chế Tòa án Công lý Quốc tế (ICJ), bao gồm điều ước, tập quán, nguyên tắc chung của pháp luật và các nguồn bổ trợ. Các nguồn này được pháp điển hóa rõ nét nhất tại Điều 21 của Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và được áp dụng theo một hệ thống thứ bậc chặt chẽ từ (1) Quy chế Rome, Các Yếu tố cấu thành tội phạm trong khuôn khổ ICC (ICC Elements of Crimes) và Quy tắc tố tụng và chứng cứ trong khuôn khổ ICC (ICC Rules of Procedure and Evidence); (2) Các điều ước quốc tế có liên quan cùng các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; (3) Các nguyên tắc chung của pháp luật được Tòa án rút ra từ luật quốc gia của các hệ thống pháp luật trên thế giới, bao gồm cả luật quốc gia của các nước lẽ ra có thẩm quyền tài phán đối với tội phạm đó (nếu phù hợp).[4] 2.1. Nguồn chính  2.1.1. Điều ước quốc tế Là nguồn luật thành văn mang tính nền tảng, điều ước quốc tế không chỉ xác định các quy tắc thực chất để định nghĩa tội phạm mà còn xác lập nghĩa vụ truy tố và trừng phạt của các quốc gia đối với tội phạm quốc tế.[5] Định hình trực tiếp nhất cho hệ thống này là các quy chế thành lập tòa án quốc tế, tiêu biểu như Quy chế Nuremberg, quy chế của các tòa đặc biệt như Tòa án Hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY), Rwanda (ICTR) và Quy chế Rome 1998 (ICC).[6] Cùng với đó là các điều ước quốc tế khác như Quy chế Hague 1907, các Công ước Geneva 1949, Công ước chống Diệt chủng 1948 và Công ước chống Tra tấn 1984.[7] a, Quy chế thành lập các toà án Hình sự Quốc tế Trong Luật Hình sự Quốc tế, các bản quy chế thành lập tòa án đóng vai trò là nguồn luật thành văn cơ bản nhất vì chúng trực tiếp ấn định thẩm quyền và định nghĩa các loại tội phạm.[8] Nền móng của nguồn luật này bắt nguồn từ Thỏa thuận London năm 1945, lập ra Tòa án Nuremberg thời hậu Chiến tranh thế giới thứ hai, đánh dấu lần đầu tiên cá nhân phải chịu trách nhiệm hình sự trực tiếp trước pháp luật quốc tế.[9] Đến thập niên 1990, đối mặt với những hành vi tàn ác tại Nam Tư cũ và Rwanda, hệ thống nguồn chứng kiến một bước ngoặt mới khi Tòa án hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY) và Rwanda (ICTR) không được thành lập bằng các hiệp ước ký kết thông thường mà ra đời từ các Nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.[10] Sức mạnh pháp lý của các bản Quy chế này nằm ở chỗ chúng được ban hành dựa trên thẩm quyền cưỡng chế theo Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc, qua đó mang giá trị ràng buộc tuyệt đối với mọi quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc mà không cần thông qua quy trình phê chuẩn từng nước, được giới học giả đánh giá là có vị thế tương đương với một dạng “luật quốc tế thứ cấp”.[11] Bước tiến hiện đại nhất là Quy chế Rome năm 1998 thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), đây là một điều ước đa phương đồ sộ, pháp điển hóa vô cùng chi tiết các yếu tố cấu thành của các tội phạm cốt lõi.[12] Quy chế Rome là điều ước thành lập ICC, được thông qua vào ngày 17/7/1998 và có hiệu lực vào ngày 01/7/2002. Bao gồm 128 điều, Quy chế Rome đặt nền tảng pháp lý cho sự hình thành và hoạt động của ICC trong hệ thống công lý hình sự quốc tế đương đại.[13] Về nội dung, Quy chế Rome quy định một cách toàn diện về thẩm quyền của Tòa án Hình sự quốc tế, cơ cấu tổ chức, trình tự tố tụng, cũng như các nguyên tắc cơ bản chi phối việc truy cứu trách nhiệm hình sự cá nhân đối với các tội ác quốc tế nghiêm trọng.[14] Trọng tâm của Quy chế là việc xác định bốn nhóm tội phạm thuộc thẩm quyền của ICC, bao gồm tội diệt chủng, tội ác chống loài người, tội ác chiến tranh và tội xâm lược,[15] đồng thời cụ thể hóa các yếu tố cấu thành của từng tội danh nhằm bảo đảm tính rõ ràng và khả năng tiên liệu của pháp luật.[16] Bên cạnh đó, Quy chế Rome ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự hiện đại như trách nhiệm hình sự cá nhân, nguyên tắc không hồi tố, suy đoán vô tội và quyền bào chữa của bị cáo.[17] Đặc biệt, Điều 21 thiết lập một hệ thống nguồn luật áp dụng riêng với trật tự ưu tiên rõ ràng,[18] bảo đảm hoạt động truy tố và xét xử của ICC được tiến hành trên cơ sở pháp luật, đồng thời dung hòa giữa mục tiêu chống miễn trừng phạt (combat impunity)[19] và việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo.[20] b, Các điều ước quốc tế khác Nhóm các điều ước quốc tế khác tiêu biểu như Quy chế Hague 1907, các Công ước Geneva 1949, Công ước chống Diệt chủng 1948 hay Công ước chống Tra tấn 1984 có ý nghĩa rất quan trọng với tư cách là nguồn của luật hình sự quốc tế, vì chúng trực tiếp thiết lập các quy tắc thực chất của luật nhân đạo và định nghĩa các hành vi cấu thành tội phạm quốc tế. Trong thực tiễn xét xử, các tòa án quốc tế thường xuyên viện dẫn các điều ước này để giải thích những khái niệm pháp lý được quy định ẩn ý trong quy chế của chính mình, ví dụ như việc mượn Công ước Geneva để xác định đối tượng nào là “người được bảo vệ” hay “tài sản được bảo vệ”.[22] Tuy nhiên, một điểm hạn chế lớn của các văn kiện này là nội dung văn kiện thường chỉ đơn thuần đặt ra lệnh cấm hành vi (ví dụ: cấm giết tù binh) mà không hề quy định chi tiết về hậu quả hình sự hay điều kiện trừng phạt cá nhân vi phạm.[23] Để giải quyết sự thiếu hụt và tính chất thiếu xác định này, các thẩm phán tại các tòa án quốc gia và quốc tế buộc phải chủ động diễn giải, cụ thể hóa các quy tắc để lấp đầy khoảng trống pháp lý, từ đó mới có thể áp dụng các hình phạt thực tế đối với tội phạm.[24] 2.1.2. Tập quán quốc tế  Trong luật hình sự quốc tế, tập quán quốc tế đóng vai trò nền tảng để định hình các tội phạm cốt lõi và các nguyên tắc truy cứu trách nhiệm pháp lý.[25] Về mặt tội danh, tập quán không chỉ công nhận các quy định của Quy chế Hague 1907 và các Công ước Geneva 1949 là tội ác chiến tranh có thể áp dụng cho cả xung đột vũ trang quốc tế lẫn nội bộ,[26] mà còn kết thành các lệnh cấm cụ thể đối với việc sử dụng lính trẻ em, bạo lực tình dục và các loại vũ khí độc hại.[27] Bên cạnh đó, tập quán cũng định nghĩa rõ tội xâm lược, tội diệt chủng[28] và xác nhận rằng tội ác chống nhân loại có thể xảy ra ngay cả trong thời bình mà không cần có mối liên hệ với xung đột vũ trang.[29] Về mặt trách nhiệm hình sự, thực tiễn xét xử đã đúc kết các tập quán quan trọng, tiêu biểu là trách nhiệm của người chỉ huy đối với hành vi của cấp dưới và trách nhiệm cá nhân khi tham gia vào một kế hoạch tội phạm chung.[30] Tập quán cũng vạch ra giới hạn cho các biện pháp phòng vệ: mặc dù quyền tự vệ được pháp luật công nhận, nhưng những lý do như “bị ép buộc” hay “làm theo lệnh cấp trên” sẽ không giúp miễn trừ trách nhiệm nếu mệnh lệnh đó vi phạm pháp luật một cách rõ ràng hoặc liên quan đến việc sát hại thường dân vô tội.[31] 2.1.3. Các nguyên tắc pháp luật chung trong Luật Hình sự Quốc tế Hệ thống các nguyên tắc chung của pháp luật đóng vai trò cốt yếu trong việc lấp đầy các khoảng trống pháp lý khi các nguồn luật chính yếu như điều ước quốc tế hay luật tập quán chưa có quy định cụ thể. Nhóm nguyên tắc này trước hết bao gồm những quy phạm đặc thù được rút ra trực tiếp từ hệ thống quốc tế và các nguyên tắc hình sự nền tảng như suy đoán vô tội hay nguyên tắc không có luật thì không có tội.[32] Các nguyên tắc pháp luật được thừa nhận bởi các quốc gia mang tính chất bổ trợ và dự phòng, chỉ được ICC viện dẫn khi không thể sử dụng các nguồn khác.[33] Để áp dụng hiệu quả, Tòa án phải thực hiện phương pháp so sánh giữa các hệ thống pháp luật lớn trên thế giới, không chỉ hệ thống thông luật và dân luật mà còn bao gồm pháp luật các nước Hồi giáo, một số nước châu Á như Trung Quốc hay Nhật Bản, và Châu Phi nhằm tìm ra một điểm chung nhất, đồng thời đảm bảo nguyên tắc đó hoàn toàn nhất quán với luật pháp quốc tế.[34] Thực tiễn xét xử đã chứng minh sự vận dụng linh hoạt này qua vụ Prosecutor v. Anto Furundžija , nơi Tòa án đã dựa trên nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm con người và sự đồng thuận của các quốc gia để xác lập định nghĩa về tội hiếp dâm khi các nguồn luật chính còn bỏ ngỏ.[35] Tuy nhiên, phương pháp này cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như trong vụ The Prosecutor v. Dražen Erdemović,  khi Toà án bất thành trong việc tìm kiếm một nguyên tắc chung do sự không thống nhất giữa các hệ thống pháp luật về việc liệu tình trạng bị cưỡng bức có được coi là lý do bào chữa để miễn trách nhiệm hình sự cho tội giết người hay không.[36] 2.2. Nguồn bổ trợ  2.2.1. Án lệ  Án lệ bao gồm các phán quyết của các tòa án quốc tế.[37] Vai trò của án lệ trong Luật Hình sự Quốc tế được ghi nhận trực tiếp trong các quy định pháp lý, theo Khoản 2 Điều 21 của Quy chế Rome, Tòa án có thể viện dẫn và áp dụng các nguyên tắc pháp lý đã được xác lập trong các phán quyết trước đó của mình.[38] Về mặt hình thức, các quyết định pháp lý không tự chúng cấu thành một nguồn luật độc lập mà chỉ là phương tiện bổ trợ.[39] Trong luật hình sự quốc tế, các tòa án không bị ràng buộc tuyệt đối bởi các phán quyết trước đó của chính mình (không áp dụng triệt để nguyên tắc stare decisis  của thông luật), nhưng các phán quyết này vẫn có giá trị thuyết phục cao.[40] Án lệ có tầm quan trọng đặc biệt trong việc xác định sự tồn tại của tập quán quốc tế, đồng thời cung cấp cách giải thích phù hợp cho các quy định thường ngắn gọn và mơ hồ của các điều ước quốc tế.[41] Có ý kiến cho rằng, dựa trên các đặc điểm của Luật Hình sự Quốc tế, ta nên đề cao hơn giá trị của các phán quyết của các toà án quốc gia và quốc tế.[42] Bên cạnh đó, án lệ từ các tòa án quốc gia, quốc tế được coi là nguồn bằng chứng thực chất và chủ yếu về sự tồn tại của luật hình sự quốc tế.[43] 2.2.2. Học thuyết  Học thuyết, bao gồm các công trình nghiên cứu của những học giả và chuyên gia luật quốc tế có uy tín, đóng vai trò là một nguồn bổ trợ trong luật hình sự quốc tế.[44] Mặc dù bản thân các công trình này không trực tiếp tạo ra luật và có trọng lượng pháp lý thấp hơn so với án lệ, chúng vẫn đóng góp đáng kể vào việc nhận diện, giải thích và làm sáng tỏ các quy tắc pháp lý phức tạp của Luật Hình sự Quốc tế.[45] Tuy nhiên, trên thực tế, các tòa án thường rất thận trọng và có phần hạn chế khi viện dẫn các học thuyết, thường do các thẩm phán phải hết sức cẩn trọng để phân định rạch ròi giữa việc học giả đang mô tả chính xác thực trạng pháp luật hiện hành hay chỉ đang nêu lên quan điểm chủ quan của họ về việc luật nên được phát triển và thay đổi như thế nào. Sự cẩn trọng này là yêu cầu bắt buộc nhằm tránh việc tòa án vô tình áp dụng một quy tắc chưa thực sự tồn tại, qua đó bảo đảm quyền lợi của bị cáo và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc “không có tội nếu không có luật định” ( nullum crimen sine lege). [46] 3. Các nguyên tắc cơ bản của Luật Hình sự Quốc tế  3.1. Nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân  Nguyên tắc trách nhiệm hình sự cá nhân là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Luật Hình sự Quốc tế, khẳng định rằng tội ác vi phạm luật quốc tế chỉ có thể được gây ra bởi con người, và chỉ khi các cá nhân phạm tội bị trừng phạt thì các điều khoản luật quốc tế mới được thực thi.[47] Chủ thể của luật quốc tế là các quốc gia và các cá nhân chỉ được xem như đối tượng chứ không sở hữu đầy đủ quyền và nghĩa vụ với tư cách là chủ thể của luật quốc tế,[48] do đó, hành vi vi phạm pháp luật quốc tế chỉ có thể cấu thành bởi một quốc gia theo luật quốc tế,[49] nhấn mạnh nguyên tắc trách nhiệm tập thể. Khác với Luật Quốc tế chung, Luật Hình sự quốc tế khẳng định rằng tội ác vi phạm pháp luật hình sự quốc tế chỉ có thể do con người gây ra,[50] việc trừng phạt các cá nhân do đó nhấn mạnh sự tồn tại của “lựa chọn đạo đức”[51] và tránh khỏi việc trừng phạt các cá nhân vô tội trong một tập thể.[52] Nguyên tắc này đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm hình sự của người chỉ huy và người đứng đầu, trong đó, Tòa án Nuremberg khẳng định trong Điều 6 của Hiến chương và phán quyết Nuremberg rằng: “Những người lãnh đạo, tổ chức, xúi giục và đồng phạm tham gia vào việc xây dựng hoặc thực hiện kế hoạch chung hoặc âm mưu phạm bất kỳ tội nào nêu trên đều phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi do bất kỳ người nào thực hiện trong quá trình thi hành kế hoạch đó.”[53] Trước thế kỷ 20, việc xác định trách nhiệm hình sự cá nhân trở nên khó khăn do không có tòa án nào áp dụng Luật Quốc tế cho các cá nhân. Ý kiến tư vấn của Tòa án Công lý Thường trực trong vụ quan chức đường sắt Danzig đã đưa ra một ngoại lệ đối với quy tắc cá nhân chỉ là đối tượng của luật quốc tế trong trường hợp các bên đưa ra một hiệp ước xác định quyền và nghĩa vụ của cá nhân được thực thi bởi toà án quốc gia.[54] Đồng thời, Hiến chương và phán quyết của Tòa án Nuremberg truy tố các quan chức Đức Quốc xã và những người cộng tác với họ đã đưa ra nền tảng xác định các cá nhân phải chịu trách nhiệm về tội ác quốc tế và tội ác là do con người gây ra chứ không phải thực thể trừu tượng. Nguyên tắc này được củng cố bởi quyết định thành lập các Tòa án Quốc tế như Toà án Hình sự Quốc tế dành cho Nam Tư cũ (ICTY),[55] Toà án Quốc tế dành cho Rwanda (ICTR)[56] và Quy chế Rome thành lập Toà án Hình sự Quốc tế (ICC).[57] 3.2. Nguyên tắc về tính hợp pháp: Không có luật, không có tội, không có phạt Nguyên tắc về tính hợp pháp theo Luật Hình sự Quốc tế là việc một người không phải chịu trách nhiệm hình sự cho bất cứ hành vi nào mà không cấu thành tội phạm hình sự theo luật quốc gia và luật quốc tế tại thời điểm hành vi đó được thực hiện,[58] được khẳng định tại Điều 23 Quy chế Rome thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế. Một người do đó chỉ có thể bị trừng phạt vì một hành vi đã được pháp điển hóa trong Luật tại thời điểm phạm tội ( lex scripta ), được thực hiện sau khi Luật có hiệu lực (lex praevia) , được xác định với đầy đủ chứng cứ và không được diễn giải theo nghĩa tương đồng (lex stricta) .[59] Nguyên tắc trên đồng thời liên hệ đến nguyên tắc không hồi tố (non-retroactivity), nguyên tắc cụ thể và cấm sự tương đồng.[60] Cụ thể, nguyên tắc này khẳng định không ai bị kết án vì một hành vi được không cấu thành tội phạm theo luật pháp tại thời điểm thực hiện (hay trước khi tội danh đó tồn tại).[61]Đồng thời, hành vi cấu thành tội phạm phải được xác định cụ thể,[62] phải được giải thích nghiêm ngặt và không được mở rộng bằng cách tương tự.[63] Nguồn gốc cơ bản đầu tiên của nguyên tắc tính hợp pháp được nhắc đến tại luật thứ hai của Ur-Nammu.[64] Nguyên tắc này trong Đại Hiến chương Magna Carta của Anh được khái quát hoá rằng không một người tự do nào có thể bị bắt giữ, trừ khi việc đó được thực hiện theo luật của quốc gia,[65] tuy nhiên nó không đủ để thiết lập đầy đủ về nguyên tắc này. Đến thời kỳ Khai sáng vào thế kỷ XVIII,  cách mạng công nghiệp lần đầu tiên mang đến nhu cầu tạo ra các khuôn khổ pháp lý để bảo vệ lợi ích kinh tế của tầng lớp trung lưu và chủ nghĩa cá nhân, nguyên tắc hợp pháp hiện đại mới ra đời.[66] Nguyên tắc này dần được pháp điển hóa trong khoảng thế kỷ XVIII-XIX ở các bộ luật khắp châu Âu,[67] từ đó trở thành một nguyên tắc cơ bản trong Luật Hình sự Quốc tế.  3.3. Nguyên tắc Ne bis in idem: Nguyên tắc không bị xét xử hoặc trừng phạt hai lần vì cùng một hành vi phạm tội Ne bis in idem  trong tiếng Latin là “không bị xét xử hoặc trừng phạt hai lần vì cùng một hành vi phạm tội”, do đó, nguyên tắc này trong Luật Hình sự Quốc tế cấm việc một người bị xét xử hai lần vì cùng một hành vi mà người đó đã bị kết án hoặc tuyên bố trắng án theo luật và thủ tục tố tụng hình sự,[68] nhằm mục đích bảo đảm công bằng đối với các bị cáo và bảo đảm điều tra kỹ lưỡng.[69] Nguyên tắc này bảo vệ cá nhân khỏi tình trạng bị truy tố vô hạn lần cho cùng một hành vi và chống lại khả năng lạm dụng thủ tục tố tụng hình sự của các công tố viên và của các bên dân sự có quyền khởi tố.[70] Theo nguyên tắc ne bis in idem , một cá nhân sẽ không bị xét xử hai lần[71] đối với các hành vi cũng vi phạm pháp luật hình sự quốc tế, bao gồm diệt chủng, tội ác vi phạm nhân đạo, tội ác chiến tranh và hành vi xâm lược. Trường hợp ngoại lệ của nguyên tắc trên: một là các thủ tục tại tòa án khác hướng đến việc bảo vệ người liên quan khỏi trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền của tòa án; hai là các thủ tục không được tiến hành độc lập hoặc công bằng theo các chuẩn mực tố tụng hợp pháp hoặc được tiến hành không phù hợp với ý định đưa người liên quan ra trước công lý.[72]  Hình thức sơ khai của nguyên tắc này ra đời từ Luật La Mã, phát triển qua thời kỳ Khai sáng trở thành công cụ bảo đảm quyền lợi cá nhân và được nhấn mạnh như một phần không thể thiếu của Luật Quốc tế nói chung trong các văn kiện quốc tế. Khái niệm “ idem crimen ” - cùng tội danh của nguyên tắc ne bis in idem đã được chuyển sang khái niệm “ idem factum ”  - cùng hành vi thực tế, được nhấn mạnh trong Điều 10 thành lập Toà án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ: “Không ai bị xét xử trước tòa án quốc gia về các hành vi cấu thành vi phạm nghiêm trọng luật nhân đạo quốc tế theo Quy chế hiện hành nếu người đó đã bị Tòa án Quốc tế xét xử trước đó”  Trước khi tồn tại quy chế tòa ICTY, một bị cáo có thể bị kết tội nhiều hơn một tội danh đối với cũng một hành vi cơ bản, miễn là các yếu tố cấu thành tội danh đó khác nhau.[73] 4. Đặc điểm Luật Hình sự Quốc tế 4.1. Bản chất pháp lý đặc thù và tính chất hỗn hợp của Luật Hình sự Quốc tế Luật Hình sự Quốc tế cấu thành một cơ chế pháp lý mang tính chất đặc thù ( sui generis ), được hình thành trên cơ sở sự giao thoa giữa hai ngành luật công là Công pháp quốc tế và Luật hình sự quốc gia.[74] Chính vị thế này đã định hình nên tính lưỡng diện của Luật Hình sự Quốc tế. Một mặt, nó mang đậm màu sắc chính trị của mạng lưới quan hệ quốc tế; mặt khác, nó chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi các nguyên tắc pháp quyền và yêu cầu về tính xác định chặt chẽ của ngành luật hình sự.[75] Xét trên phương diện tố tụng, tính chất hỗn hợp của Luật Hình sự Quốc tế được thể hiện rõ nét qua sự dung hợp và tham chiếu song song hai dòng họ pháp luật lớn trên thế giới. Những văn bản mang tính nền tảng như Quy chế Rome không chỉ áp dụng thuần túy mô hình Tranh tụng của hệ thống Thông luật, cũng không sao chép nguyên mẫu mô hình Thẩm vấn của hệ thống Dân luật.[76] Thay vào đó, một cơ chế tố tụng “lai” đã được thiết lập nhằm trung hòa giữa yêu cầu trừng trị tội phạm và nhiệm vụ bảo đảm các quyền tố tụng cơ bản của con người theo đúng chuẩn mực quốc tế.[77] Đặc trưng này chính là cơ sở dẫn đến sự hình thành các quy phạm pháp luật có tính mở, đồng thời kiến tạo dư địa hữu dụng cho cơ quan tài phán trong việc giải thích luật và phát triển các nguyên tắc pháp lý thông qua thực tiễn xét xử.[78] 4.2. Sự xác lập trách nhiệm hình sự cá nhân và giới hạn của quyền miễn trừ Luật Hình sự Quốc tế hiện đại đánh dấu bước chuyển dịch mang tính nền tảng trong tư duy pháp lý toàn cầu thông qua việc thay thế mô hình trách nhiệm tập thể của quốc gia bằng cơ chế trách nhiệm pháp lý độc lập của cá nhân.[79] Thông qua việc xác lập quyền tài phán trực tiếp lên các thể nhân, luật pháp quốc tế đã vượt qua rào cản chủ quyền quốc gia để quy kết trách nhiệm cho chính những cá nhân thực hiện hành vi phạm tội thay vì chấp nhận sự che chắn của các thực thể trừu tượng như Nhà nước. Theo đó, cơ chế này kiên quyết phủ nhận giá trị của học thuyết “Hành vi quốc gia” ( Act of State doctrine ) khi áp dụng vào lĩnh vực hình sự. Một cá nhân, nhờ vậy, không thể viện dẫn sự tuân thủ đối với quy định pháp luật trong nước hoặc mệnh lệnh của cấp trên nhằm hợp thức hóa các hành vi vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế cũng như để loại trừ trách nhiệm hình sự của bản thân.[80] Điểm tiến bộ nhất trong cơ chế này là việc khống chế triệt để các đặc quyền về miễn trừ tư pháp. Quy chế Rome đã pháp điển hóa nguyên tắc “không áp dụng miễn trừ dựa trên chức vụ”, khẳng định sự bình đẳng tuyệt đối của mọi cá nhân trước công lý quốc tế.[81] Do đó, vị trí chức vụ thậm chí bao gồm cả vị trí Nguyên thủ quốc gia hay người đứng đầu Chính phủ đương nhiệm đều không tạo ra rào cản tố tụng đối với thẩm quyền xét xử của Tòa án.[82]  4.3. Thẩm quyền theo đối tượng và cấu trúc đặc thù của các Tội phạm cốt lõi Thẩm quyền theo đối tượng ( jurisdiction ratione materiae ) của Luật Hình sự Quốc tế mang tính chọn lọc nghiêm ngặt, được giới hạn cụ thể trong bốn nhóm Tội phạm cốt lõi theo quy định của Quy chế Rome: Tội diệt chủng ( Genocide ), Tội ác chống lại loài người ( Crimes against Humanity ), Tội ác chiến tranh ( War Crimes ) và Tội xâm lược ( Crime of Aggression ). Thay vì điều chỉnh mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội, thẩm quyền xét xử của ngành luật này chỉ bao hàm những vi phạm nghiêm trọng nhất được cộng đồng quốc tế thừa nhận là mối đe dọa trực tiếp đến hòa bình, an ninh và các giá trị nhân văn cơ bản của nhân loại.[83] Đặc trưng pháp lý của nhóm tội danh này được thể hiện rõ nét thông qua các yếu tố cấu thành tội phạm. Bên cạnh các yếu tố cơ sở gồm hành vi khách quan ( actus reus ) và yếu tố chủ quan ( mens rea ), Luật Hình sự Quốc tế đòi hỏi sự hiện diện bắt buộc của các yếu tố bối cảnh, hay còn gọi là các yếu tố tiên quyết ( chapeau elements ).[84] Trên thực tế, chính các yếu tố này đóng vai trò phân định và tiên quyết trong việc chuyển đổi nhận định một hành vi phạm tội thông thường trở thành tội ác quốc tế. Một ví dụ điển hình chính là việc hành vi giết người chỉ cấu thành Tội ác chống lại loài người khi và chỉ khi nó được thực hiện như một phần của một cuộc tấn công trên diện rộng hoặc mang tính hệ thống nhắm vào thường dân.[85] Hệ quả tất yếu của tính chất này là sự xác lập thẩm quyền tài phán phổ quát cho các quốc gia, đồng thời loại trừ hoàn toàn sự ràng buộc về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.[86] 4.4. Cơ chế thực thi gián tiếp và Nguyên tắc bổ trợ về thẩm quyền Đặc điểm cấu trúc cơ bản nhằm phân biệt Luật Hình sự Quốc tế với pháp luật quốc gia là sự thiếu vắng một cơ quan cưỡng chế tập trung. Luật Hình sự Quốc tế không thiết lập lực lượng cảnh sát hay cơ quan thi hành án độc lập, mà vận hành dựa trên cơ chế thực thi gián tiếp.[87] Trong hệ thống này, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) nắm giữ thẩm quyền xét xử nhưng không có thẩm quyền cưỡng chế trực tiếp. Hiệu lực thực tế của các phán quyết phụ thuộc hoàn toàn vào nghĩa vụ hợp tác tự nguyện và tương trợ tư pháp của các Quốc gia thành viên, đặc biệt là xuyên suốt quá trình bắt giữ, dẫn độ và thu thập chứng cứ.[88] Nhằm giải quyết mối liên hệ phức tạp giữa chủ quyền quốc gia và thẩm quyền quốc tế, Quy chế Rome đã xác lập Nguyên tắc Bổ trợ trong đó khẳng định ICC không phải là cơ quan xét xử cấp cao hơn, cũng không có chức năng thay thế hệ thống tư pháp quốc gia.[89] Trái lại, thẩm quyền của ICC chỉ mang tính chất bổ sung; thẩm quyền ưu tiên xét xử trong đa số bối cảnh đều thuộc về quốc gia sở tại.[90] Về mặt tố tụng, Tòa án chỉ tuyên bố chấp nhận thụ lý vụ án khi chứng minh được quốc gia có thẩm quyền thuộc một trong hai trường hợp cụ thể. Thứ nhất,  là trường hợp “không muốn”, thể hiện qua việc quốc gia đương sự tiến hành quá trình tố tụng với thái độ thiếu thiện chí, mang tính chất giả tạo nhằm mục đích bao che cho người phạm tội hoặc trì hoãn việc xét xử một cách vô lý.[91] Một ví dụ điển hình có thể kể đến án lệ Al-Bashir , khi quy trình xét xử tại Sudan bị ICC đánh giá chỉ là hình thức nhằm che chắn cho các quan chức cấp cao tại địa phương.[92]  Thứ hai , là trường hợp “không thể”, xảy ra khi hệ thống tư pháp của quốc gia đương sự sụp đổ một phần hoặc toàn phần, dẫn đến việc không còn khả năng bắt giữ bị can, thu thập chứng cứ hoặc thực hiện các quy trình tố tụng cần thiết.[93] Trong án lệ Gaddafi , ICC đưa ra phán quyết rằng chính phủ Libya không thể thực thi công lý do hoàn toàn bất lực trong việc buộc lực lượng dân quân giao nộp bị can.[94] Quy định này vừa bảo đảm nguyên tắc tôn trọng chủ quyền tư pháp quốc gia, vừa ngăn chặn tình trạng tội phạm tự do ngoài vòng pháp luật đối với các tội ác quốc tế nghiêm trọng.[95] Kết luận: Tựu trung lại, sự hoàn thiện và phát triển không ngừng của Luật Hình sự Quốc tế đã và đang đánh dấu một bước chuyển tiếp quan trọng của hệ thống công pháp quốc tế nói chung và Luật Hình sự Quốc tế nói riêng, với cốt lõi là việc xác lập cơ chế trách nhiệm hình sự độc lập đối với từng thể nhân. Thông qua hệ thống nguồn luật mang tính hỗn hợp và nguyên tắc thẩm quyền bổ trợ, thiết chế này cung cấp cơ sở pháp lý để nhận diện và xử lý các nhóm tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất. Trên thực tế, những thách thức từ cơ chế thực thi gián tiếp vẫn còn là bài toán chưa có lời giải đối với các cơ quan tài phán nói riêng và hệ thống luật pháp quốc tế nói chung. Luật Hình sự Quốc tế, dù vậy, luôn đóng vai trò thiết yếu trong việc thu hẹp khoảng trống miễn trừ trách nhiệm và từng bước xóa bỏ nhiều vùng xám pháp lý; qua đó góp phần duy trì tinh thần thượng tôn pháp luật và nhiệm vụ bảo vệ trật tự, an ninh chung của cộng đồng quốc tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1][74][87]Antonio Cassese et al., Cassese’s International Criminal Law , tái bản lần thứ 3, (OUP, 2013). [2][3][74][83] Gerhard Werle and Florian Jeßberger, Principles of International Criminal Law  (4th edn, OUP 2020).  [3][5][6][7][8][9][11][21]-[24][32][34][35][36][39][45] International Criminal Law  (3rd edn, Oxford University Press 2013) [4][17][18][27][33][38][57][61][63][71][72][80][81]-[83][85][88]-[91][93] Rome Statute of the International Criminal Court [10] United Nations Security Council Resolution; United Nations Security Council Resolution. [11]-[16][19][20][25]-[31][37][43][44][46] Robert Cryer, Håkan Friman, Darryl Robinson and Elizabeth Wilmshurst, An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (Cambridge University Press 2010)  [35] Prosecutor v. Furundžija  (Judgment) ICTY Trial Chamber IT-95-17/1-T, 10/12/1998 [36][80] Prosecutor v. Erdemović  (Judgement) IT-96-22-A  (ICTY Appeals Chamber, 07/10/1997)  [47][53][79] Judgment of the International Military Tribunal, in The Trial of German Major War Criminals: Proceedings of the International Military Tribunal sitting at Nuremberg, Germany, Part 22 (HMSO 1950)  [48] Jan Klabbers, The Individual in International Law  (Cambridge University Press 2013) [49][50] International Law Commission, 'Draft Articles on Responsibility of States for Internationally Wrongful Acts' (2001). [51] UNGA, Principles of International Law Recognised in the Charter of the Nuremberg Tribunal and in the Judgement of the Tribunal (1950) UN Doc A/CN.4/22. [52] Criminal Responsibility of Individuals and International Law (1945) 12(4) University of Chicago Law Review. [54][65] Ademola Abass, International Law  (Oxford University Press) 131 [55] Statute of the International Tribunal for the Prosecution of Persons Responsible for Serious Violations of International Humanitarian Law Committed in the Territory of the Former Yugoslavia since 1991 (1993) UN Doc S/RES/827, art 7(1) [56] Statute of the International Criminal Tribunal for the Prosecution of Persons Responsible for Genocide and Other Serious Violations of International Humanitarian Law Committed in the Territory of Rwanda (1994) UN Doc S/RES/955 [58][68] International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 23 March 1976) [59][60]  Kai Ambos, General Principle of Criminal Law in the Rome Statute [62][84] International Criminal Court, Elements of Crimes , (2011) [64]  Russ Versteeg, Early Mesopotamian Law  (Carolina Academic Press 2000). [67] Andrew Ashworth, Principles of Criminal Law  (5th edn, OUP 2006), Anthony John Patrick Kenny, Freewill and Responsibility  (Routledge & Kegan Paul 1978) [69][75] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure  (2nd edn, Cambridge University Press 2010).  [70] Green v. United States  355 US 184 (1957)  [73][75] Prosecutor v Kupreškić and others  (Trial Judgement) ICTY-95-16-T (14 January 2000); [73][78][79][84] Prosecutor v Tadić  (Decision on the Defence Motion on the Principle of Non bis in Idem) ICTY-94-1-T (14 November 1995) [76] Kai Ambos, "Indâternational Criminal Procedure: 'Adversarial', 'Inquisitorial' or Mixed?", International Criminal Law Review  Tập 3, (2003) [77] Prosecutor v Lubanga , ICC-01/04-01/06 A 5, Phán quyết, (ICC, 01/12/2014).; Prosecutor v Bemba , ICC-01/05-01/08 OA 3, Phán quyết, (ICC, 19/10/2010). [80] Prosecutor v. Blaškić , IT-95-14-A, Phán quyết, (ICTY, 29/07/2004) [82]  Prosecutor v. Al-Bashir , ICC-02/05-01/09 OA2, Phán quyết, (ICC, 06/05/2019). [85] Prosecutor v. Kunarac et al. , IT-96-23-T & IT-96-23/1-T, Phán quyết, (ICTY, 22/02/2001); Prosecutor v. Akayesu , ICTR-96-4-T, Phán quyết, (ICTR, 02/09/1998), đoạn 579-581. [86] Convention on the Non-Applicability of Statutory Limitations to War Crimes and Crimes against Humanity  1968. Case Concerning the Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of the Congo v. Belgium) , Phán quyết, Ý kiến độc lập của các Thẩm phán Higgins, Kooijmans và Buergenthal, (ICJ, 14/02/2002),  [88] Assembly of States Parties, "Report of the Bureau on non-cooperation," 18/11/2015. [91] Office of the Prosecutor, “Policy Paper on Preliminary Examinations,” 11/2013.   Prosecutor v. Al-Senussi , ICC-01/11-01/11 OA 6, Phán quyết, (ICC, 24/07/2014). [92] Prosecutor v. Omar Hassan Ahmad Al Bashir, ICC-02/05-01/09, Phán quyết, (ICC, 04/03/2009). [94] Prosecutor v. Saif Al-Islam Gaddafi , ICC-01/11-01/11 OA 6, Phán quyết, (ICC, 21/05/2014). [95] Mohamed El Zeidy, The Principle of Complementarity in International Criminal Law: Origin, Development and Practice , (Martinus Nijhoff, 2008).

  • [80] QUYỀN ĐƯỢC TIẾP CẬN NGUỒN NƯỚC TRONG XUNG ĐỘT VŨ TRANG THEO LUẬT QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Thanh Huyền, Thái Nguyệt Anh Tóm tắt:  Trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang hiện đại ngày càng ảnh hưởng sâu sắc đến các nguồn tài nguyên thiết yếu, quyền được tiếp cận nguồn nước trở thành một vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với dân thường. Bài viết phân tích cơ sở pháp lý của quyền tiếp cận nước trong luật quốc tế, đặc biệt thông qua các chuẩn mực của Luật quốc tế về Quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ các tiêu chuẩn cấu thành nội hàm của quyền này như tính sẵn có, chất lượng và khả năng tiếp cận, đồng thời xem xét các quy định pháp lý liên quan đến việc bảo vệ nguồn nước và các công trình nước trong xung đột vũ trang. Bài viết cũng đề cập đến thực tiễn hiện nay, đặc biệt là hiện tượng “vũ khí hóa nguồn nước” trong một số cuộc xung đột vũ trang đương đại. Bài viết này cũng là bài viết kỷ niệm Ngày Nước Thế giới (22/3), nhằm góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước trong bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang. Từ khóa: Quyền tiếp cận nguồn nước; Luật Nhân đạo quốc tế; xung đột vũ trang; bảo vệ nguồn nước; vũ khí hóa nguồn nước . 1. Quyền tiếp cận nước trong Luật Quốc tế  1.1.Cơ bản về quyền tiếp cận nước trong luật quốc tế Nước là một phần thiết yếu để duy trì sự sống của con người, và do đó, tiếp cận nước cũng là một nhu cầu cơ bản, và thiết yếu để có thể tồn tại và phát triển. Trên cơ sở đó, Quyền được tiếp cận nước sạch đã được ghi nhận là một trong những quyền con người căn bản, là nền tảng đối với sức khỏe, phẩm giá và sự thịnh vượng của con người. [1] Trong quá khứ, quyền tiếp cận nguồn nước chưa được quy định cụ thể mà được ghi nhận trong Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người năm 1948 và Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR) dưới hình thức quyền hàm chứa trong các quy định về quyền sống, [2] quyền có mức sống thích đáng, [3] quyền về sức khỏe. [4] Đến năm 1977, quyền tiếp cận nguồn nước được khẳng định rõ ràng hơn trong Báo cáo của Hội nghị Nước Liên hợp quốc diễn ra vào năm 1977 tại Mar del Plata, cụ thể: “Tất cả mọi người, bất kể trình độ phát triển cũng như điều kiện xã hội và kinh tế của họ, đều có quyền được tiếp cận với nước uống với số lượng và chất lượng đáp ứng các nhu cầu cơ bản”. [5] Ngoài ra, Đại Hội đồng cũng thông qua Nghị quyết A/RES/64/292 về quyền tiếp cận nguồn nước vào 28/7/2010, [6] khẳng định thêm về quyền này trong bất kỳ bối cảnh nào, bao gồm cả xung đột vũ trang.  Các tiêu chuẩn về nguồn nước được mô tả rõ ràng hơn trong Bình luận chung số 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 2002 (ICESCR), bao gồm: (i) Tính sẵn có (Availability), (ii) Chất lượng (Quality), và (iii) Khả năng tiếp cận (Accessibility). [7]  (i) Về tính sẵn có (Availability): Ủy ban của Công ước cho rằng nguồn cung cấp nước phải đủ và liên tục cho các mục đích sinh hoạt cá nhân và gia đình, thông thường bao gồm: uống, vệ sinh cá nhân (personal sanitation),  chuẩn bị thực phẩm, vệ sinh cá nhân và hộ gia đình (personal and household hygiene) . [8] Lượng nước này phải phù hợp với các hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và phù hợp với điều kiện sức khỏe, khí hậu và tính chất công việc của mỗi cá nhân. [9] (ii) Về chất lượng (Quality): Nước dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều cần đáp ứng yêu cầu về chất lượng như sự an toàn, không chứa các vi sinh vật, các chất hóa học hay phóng xạ có thể gây nguy hại cho sức khỏe con người; các vấn đề về màu sắc và mùi vị ở mức chấp nhận được đối với mỗi mục đích sử dụng khác nhau của cá nhân và hộ gia đình. [10] (iii) Về khả năng tiếp cận (Accessibility): Nước và các cơ sở, dịch vụ cung cấp nước phải được tiếp cận công bằng, không phân biệt đối xử dựa trên bốn tiêu chí liên quan mật thiết với nhau:  Khả năng tiếp cận về mặt vật lý (physical accessibility): Trong bối cảnh xung đột vũ trang, nước và các cơ sở, dịch vụ cung cấp nước liên quan phải nằm trong phạm vi tiếp cận an toàn trong mỗi hộ gia đình, cơ sở giáo dục, nơi làm việc hoặc tại khu vực phụ cận an toàn của các địa điểm trên. [11] Việc tiếp cận nguồn nước về mặt vật lý không được phương hại đến sự an toàn cá nhân của dân thường trong bối cảnh xung đột vũ trang. [12] Khả năng tiếp cận về kinh tế (economic accessibility): Trong các tình huống này, các chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến việc tiếp cận nguồn nước phải ở mức có thể chi trả được cho tất cả mọi người. [13] Không phân biệt đối xử (non-discrimination): Việc tiếp cận nguồn nước không được dựa trên bất kỳ sự phân biệt đối xử nào, đặc biệt đối với những nhóm người dễ bị tổn thương như người khuyết tật, trẻ em, phụ nữ. [14] Khả năng tiếp cận thông tin (Information accessibility): Khả năng tiếp cận thông tin bao gồm quyền tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt các thông tin liên quan đến các vấn đề về nước. [15] 1.2. Quyền tiếp cận nước đặt trong bối cảnh xung đột vũ trang Trong bối cảnh xung đột vũ trang, quyền được tiếp cận nguồn nước được coi là một quyền cơ bản và thiết yếu cho cả dân thường, tù binh chiến tranh. [16] Nguồn nước, trong bối cảnh này, được xem như một nguồn tài nguyên bị chính trị hóa và an ninh hóa bởi các bên tham chiến, bất kể trong xung đột vũ trang quốc tế (IAC) hay xung đột vũ trang phi quốc tế (NIAC). [17] Trong các cuộc xung đột, Công ước Geneva (IV) liên quan đến việc bảo vệ dân thường trong thời chiến năm 1949 cũng đã quy định về việc tiếp cận nguồn nước cho các đối tượng dân sự. Cụ thể, các lực lượng chiếm đóng có nghĩa vụ đảm bảo và không trưng dụng lương thực của dân thường, [18] bao gồm nước uống. [19] Bên cạnh đó, nguồn nước được sử dụng cho nhu cầu vệ sinh cá nhân [20] và nhu cầu thực phẩm [21] cũng cần được đảm bảo. Ngoài các quy định liên quan đến nguồn nước sử dụng cho nhu cầu sống còn của dân thường được đề cập ở Công ước Geneva (IV), Nghị định thư bổ sung I năm 1977 của Công ước Geneva năm 1949 đã mở rộng thêm về việc bảo vệ các nguồn cung cấp nước uống, công trình thủy lợi dân sự phục vụ mục đích tưới tiêu, chăn nuôi gia súc. [22] Ngoài ra, các quy định về việc cấm phá hủy các đê, đập bất kể trong trường hợp nào bao gồm cả  mục đích quân sự [23] cũng được đề cập. Bên cạnh đối tượng dân thường, trong các cuộc xung đột vũ trang, tù binh cũng có quyền tiếp cận nước sạch trong quá trình sơ tán, [24] vấn đề thực phẩm [25] và vệ sinh cá nhân [26] được quy định cụ thể trong Công ước Geneva (III) về đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh.  2. Bảo vệ nguồn nước trong Luật Nhân đạo quốc tế  Trong Luật Nhân đạo quốc tế, việc bảo vệ nguồn nước và các công trình liên quan đến nước được thể hiện thông qua nhiều quy định nhằm ngăn ngừa các hành vi gây tổn hại đến nguồn nước cần thiết cho sự sống của dân thường và binh lính trong xung đột vũ trang, cụ thể: (i) Cấm làm cho nguồn nước trở nên không thích hợp để sử dụng; (ii) Cấm nhắm mục tiêu vào nguồn nước hoặc các công trình trên mặt nước; (iii) Cấm phá hủy các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường; và (iv) Cấm tấn công các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm.  2.1. Cấm làm cho nguồn nước trở nên không thích hợp để sử dụng Trong các cuộc xung đột vũ trang, Quy tắc Berlin về tài nguyên nước năm 2004 (sau đây gọi tắt là “Quy tắc Berlin”) quy định các bên tham chiến không được đầu độc hoặc làm cho nguồn nước thiết yếu cho sức khỏe và sự sống còn của dân thường trở nên không thích hợp để sử dụng. [27] Ngoài quy định trên, việc cấm đầu độc nguồn nước còn là quy tắc của tập quán quốc tế được thừa nhận rộng rãi, [28] được ghi nhận ở Công ước La Hay (IV) về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền và Phụ lục của Công ước: Quy chế về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền năm 1907 (sau đây gọi tắt là “Công ước La Hay (IV)”)  về việc cấm “sử dụng thuốc độc hoặc vũ khí có độc”. [29] Trước đó, Dự thảo Tuyên bố Brussels về các luật và tập quán chiến tranh năm 1874 cũng có quy định tương tự về vấn đề này. [30] Mặc dù các văn bản trước Quy tắc Berlin về tài nguyên nước không đề cập trực tiếp đến nguồn nước, các quy định này vẫn phù hợp bởi nó có phạm vi áp dụng tổng quát và mở rộng đối với tất cả các nhu cầu sống còn của dân thường, trong đó có nguồn nước. [31] 2.2. Cấm nhắm mục tiêu vào nguồn nước hoặc các công trình trên mặt nước của đối phương Nguyên tắc này được quy định tại Điều 51 Quy tắc Berlin, cụ thể gồm:  (i) Các bên tham chiến không được phép phá hủy hoặc làm chuyển hướng nguồn nước, hoặc phá hủy các công trình nước, cho các mục đích quân sự hoặc như một biện pháp trả đũa, nếu các hành động đó gây ra sự đau khổ không tương xứng cho dân thường; [32] (ii) Trong bất kỳ trường hợp nào, các bên tham chiến không được tấn công, phá hủy, di dời hoặc làm vô hiệu hóa các nguồn nước và công trình nước thiết yếu cho sức khỏe và sự sinh tồn của dân cư dân sự, nếu các hành động đó có thể được dự đoán là sẽ khiến dân cư dân sự rơi vào tình trạng thiếu nước không thỏa đáng đến mức dẫn tới tử vong do thiếu nước hoặc buộc họ phải di dời; [33] (iii) Ghi nhận các yêu cầu sống còn của bất kỳ bên xung đột nào trong việc phòng thủ lãnh thổ quốc gia chống lại sự xâm lược, một bên xung đột có thể tạm đình chỉ các lệnh cấm quy định tại khoản 1 và khoản 2 trong phạm vi các lãnh thổ dưới sự kiểm soát của chính mình khi có yêu cầu bởi nhu cầu quân sự cấp thiết; [34] và  (iv) Trong bất kỳ tình huống nào, nguồn nước và các công trình nước phải được hưởng sự bảo hộ theo các nguyên tắc và quy tắc của luật quốc tế áp dụng trong chiến tranh hoặc xung đột vũ trang, và không được sử dụng để vi phạm các nguyên tắc và quy tắc đó. [35] Việc bảo vệ nguồn nước và các công trình thủy lợi không chỉ dừng lại ở các lệnh cấm hành động trực tiếp mà còn được cụ thể hóa qua nguyên tắc tỷ lệ và bảo vệ nhu cầu sinh tồn của dân cư. [36] Ngoài ra, Công ước La Hay (IV) năm 1907 cũng có quy định tương tự tại Điều 23(g) trong các cuộc xung đột. [37] Việc các văn bản trên quy định nguồn nước phải được hưởng chế độ bảo hộ đặc biệt, tách biệt khỏi các mục tiêu quân sự nhằm duy trì các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu trong xung đột và tránh gây tổn thương cho các đối tượng dân sự.  2.3. Cấm phá hủy các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường Về mặt nguyên tắc tập quán, các đối tượng thiết yếu cho sự sống của dân thường là các vật thể dân sự và không thể được tấn công. [38] Nguyên tắc này được ghi nhận trong Điều 14 Nghị định thư bổ sung II và Điều 54(2) Nghị định thư bổ sung I năm 1977 cho Công ước Geneva nhằm bảo vệ những đối tượng thiết yếu cho sự sống còn của dân thường trong bối cảnh xung đột vũ trang. Theo đó mọi hành vi tấn công, phá hủy, di dời hoặc làm vô hiệu hóa các đối tượng thiết yếu cho sự sống còn của dân thường bao gồm lương thực, đất nông nghiệp, cây trồng, gia súc, cũng như các công trình và nguồn cung cấp nước, công trình thủy lợi đều bị cấm. [39]   Từ góc độ nội hàm, khái niệm “đối tượng thiết yếu của dân thường” được hiểu theo nghĩa rộng, bao trùm cả các nguồn tài nguyên đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tồn tối thiểu, đặc biệt chú trọng đến nước và hệ thống thủy lợi. [40] Bên cạnh đó, luật Nhân đạo quốc tế có quy định về một số ngoại lệ cụ thể tại Điều 54(5) Nghị định thư I cho phép trong những hoàn cảnh đặc biệt, quốc gia có thể tiến hành các biện pháp ảnh hưởng đến các công trình thủy lợi như một hình thức tự vệ quốc gia, với điều kiện tồn tại nhu cầu quân sự cấp bách và mang tính bắt buộc. Đồng thời, luật quốc tế cũng không cấm việc từ chối cung cấp nước cho lực lượng vũ trang của đối phương, miễn là các biện pháp đó không ảnh hưởng đến sự sống còn của dân thường. [41] Một số tài liệu quân sự của quốc gia, chẳng hạn như sổ tay Hướng dẫn Chiến trường của Quân đội Hoa Kỳ thậm chí còn thừa nhận khả năng thực hiện các biện pháp như chuyển hướng dòng chảy hoặc làm suy giảm nguồn nước, với điều kiện các nguồn này không mang tính thiết yếu đối với dân thường. [42] 2.4. Cấm tấn công các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm (dangerous forces)   Liên quan tới việc bảo vệ các công trình và thiết bị chứa đựng các yếu tố nguy hiểm, Điều 56 của Nghị định thư bổ sung I năm 1977 tiếp tục củng cố nghĩa vụ bảo vệ đối với đập nước, đê điều và nhà máy điện hạt nhân. Cụ thể bao gồm các công trình hoặc cơ sở chứa các nguồn năng lượng nguy hiểm, cụ thể là đập, đê và nhà máy điện hạt nhân. [43] Thêm vào đó, ngay cả khi đây là các mục tiêu quân sự, việc tấn công chúng vẫn bị cấm nếu hành động đó có thể giải phóng các lực lượng nguy hiểm và hậu quả là gây thiệt hại nặng nề cho dân thường. [44] Quyền miễn trừ tấn công chỉ được bãi bỏ khi một trong các công trình, cơ sở hoặc cơ sở đó được sử dụng thường xuyên, đáng kể và trực tiếp để hỗ trợ các hoạt động quân sự và nếu tấn công là cách khả thi duy nhất để chấm dứt sự hỗ trợ đó. [45] 3. Thực trạng quyền tiếp cận và bảo vệ nguồn nước trong xung đột vũ trang   3.1. Vấn đề “Vũ khí hóa nguồn nước” trong xung đột vũ trang (Water Weaponization) Trong bối cảnh các xung đột vũ trang hiện đại ngày càng mang tính phi đối xứng và kéo dài, nguồn nước không chỉ còn là một tài nguyên thiết yếu mà ngày càng bị các quốc gia biến thành công cụ chiến lược phục vụ cho mục tiêu quân sự và chính trị. Hiện tượng này thường được gọi là “vũ khí hóa nguồn nước” (water weaponization), được hiểu là việc sử dụng nước và các hệ thống cấp nước như công cụ hoặc vũ khí trong các cuộc xung đột vũ trang. [46] Về mặt quân sự, các chiến thuật thường bao gồm việc cố ý gây ngập lụt thông qua phá hủy hệ thống đập và đê [47], làm ngập các khu vực canh tác để tạo tình trạng thiếu hụt lương thực [48], làm cạn kiệt tài nguyên nước tại các khu vực bị kiểm soát và làm ô nhiễm các nguồn nước bằng dầu, xác chết và chất độc hại. [49] Tuy nhiên các mục tiêu về mặt quân sự thường chỉ đóng vai trò như các công cụ ngắn hạn để phục vụ mục đích rộng hơn về mặt chính trị. Thuật ngữ “chính trị nguồn nước” (hydropolitics) gắn với việc việc thao túng hạn chế nguồn nước thông qua các thỏa thuận hợp tác không công bằng và các quyết định bất cân xứng giữa các chủ thể. [50] Có thể lấy ví dụ bằng thỏa thuận đa phương giữa Israel, Jordan và Tổ chức Giải phóng Palestine đã hạn chế đáng kể quyền tiếp cận của người Palestine đối với sông Jordan cũng như nguồn nước ngầm, qua đó đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng quốc gia của Israel. [51] Những hành vi này đặt ra thách thức nghiêm trọng với khuôn khổ của luật nhân đạo quốc tế đặc biệt là các quy định liên quan đến bảo vệ dân thường và các đối tượng thiết yếu cho sự sống còn.[52] Mặc dù các quy phạm như Điều 54 của Nghị định thư bổ sung I năm 1977 và Điều 14 của Nghị định thư bổ sung II năm 1977 đã nghiêm cấm việc sử dụng đói khát như một phương thức chiến tranh, việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt khi các bên tham chiến viện dẫn lý do quân sự để biện minh cho hành vi của mình. Thêm vào đó rất khó để phân biệt tính chất của các công trình nước trong chiến tranh khi vừa phục vụ mục tiêu dân sự vừa hỗ trợ hoạt động quân sự. Thực tiễn tại khu vực Trung Đông cho thấy nước ngày càng bị sử dụng như một công cụ chiến tranh, thông qua các phương thức như làm ô nhiễm nguồn nước, gây tắc nghẽn hệ thống cấp nước hoặc tạo ra lũ lụt có chủ đích.[53] Những hành vi này không chỉ gây hậu quả nhân đạo nghiêm trọng mà còn đặt ra thách thức trong việc bảo đảm tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của luật nhân đạo quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc phân biệt, tương xứng và nghĩa vụ thận trọng.[54] Một minh chứng điển hình có thể thấy trong xung đột tại Ukraine, khi quân đội nước này đã kích nổ đập trên sông Irpin vào tháng 2/2022 để làm ngập lụt hàng ngàn mẫu đất, ngăn xe tăng Nga tiến vào thủ đô Kiev (Kyiv).[55] Dù biện pháp này mang lại lợi thế quân sự nhất định, song cũng làm dấy lên tranh luận pháp lý đáng kể bởi các quy định bảo vệ đặc biệt của luật nhân đạo quốc tế chủ yếu áp dụng đối với các hành vi “tấn công”.[56] Trong khi đó, việc một quốc gia tự phá hủy cơ sở hạ tầng trên lãnh thổ của mình vì nhu cầu quân sự cấp bách thường không được coi là “tấn công” theo nghĩa hẹp, ngay cả khi gây thiệt hại lớn cho dân thường. Tương tự, trong trường hợp đập Nova Kakhovka, phía Nga có thể lập luận rằng việc phá hủy công trình khi đang nằm dưới sự kiểm soát của mình là một hành vi phá hoại nội bộ, thay vì là một cuộc tấn công quân sự chống lại đối phương.[57] Cách diễn giải này trên thực tế có thể được sử dụng nhằm né tránh việc áp dụng các tiêu chuẩn bảo vệ nghiêm ngặt của luật nhân đạo quốc tế. Điều này tạo ra một “vùng xám pháp lý”, trong đó các hành vi vũ khí hóa nguồn nước không dễ dàng bị phân loại hoặc đánh giá theo các khuôn khổ pháp lý hiện hành. Hệ quả là, mặc dù hậu quả nhân đạo gây ra là hết sức nghiêm trọng, việc xác định vi phạm và truy cứu trách nhiệm pháp lý vẫn gặp nhiều trở ngại. Từ góc độ thực tiễn, nhiều cuộc xung đột gần đây cho thấy xu hướng gia tăng của việc sử dụng nước như một công cụ chiến tranh, qua đó làm nổi bật khoảng cách giữa quy phạm pháp lý hiện hành và thực tiễn áp dụng. 3.2. Vấn đề bảo vệ nguồn nước trong xung đột vũ trang  Trước những thách thức ngày càng gia tăng liên quan đến việc vũ khí hóa nguồn nước, cộng đồng quốc tế đã có nhiều nỗ lực nhằm củng cố cơ chế bảo vệ tài nguyên này trong bối cảnh xung đột vũ trang. Một trong những diễn đàn đáng chú ý là các cuộc họp theo Công thức Arria của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, tiêu biểu là phiên họp về chủ đề “Protecting Water in Armed Conflicts” do Slovenia cùng nhiều quốc gia đồng tổ chức và nhận được sự ủng hộ rộng rãi từ cả các nước thành viên và không thành viên Hội đồng Bảo an,[58] cho thấy mức độ quan tâm ngày càng gia tăng đối với vấn đề này. Sự tham gia của các tổ chức quốc tế chủ chốt như Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc không chỉ phản ánh tính chất liên ngành của vấn đề, mà còn nhấn mạnh mối liên hệ chặt chẽ giữa an ninh nguồn nước, sức khỏe cộng đồng và bảo vệ dân thường.[59] Các tài liệu chuẩn bị cho cuộc họp đã chỉ ra rằng nước đang ngày càng trở thành “vừa là nạn nhân, vừa là công cụ của chiến tranh”, khi các cơ sở hạ tầng nước bị tấn công, phá hủy hoặc làm gián đoạn, gây ra những hậu quả nhân đạo nghiêm trọng.[60] Điều này phù hợp với xu hướng được ghi nhận trong nhiều báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình trạng khan hiếm nước và mất an ninh lương thực trong các khu vực xung đột như Gaza, Sudan hay Syria.  Đây cũng là minh chứng cho thấy xu hướng ngày càng gia tăng của cộng đồng quốc tế về vấn đề bảo vệ nguồn nước tại các điểm nóng về xung đột vũ trang nhưng thực tế vẫn chỉ đang mang tính khuyến nghị và chưa có cơ chế rõ ràng đảm bảo tính thực thi. Điều này đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và tăng cường trách nhiệm giải trình nhằm bảo đảm rằng nguồn nước với tư cách là điều kiện sống thiết yếu  được bảo vệ một cách thực chất trong các tình huống xung đột vũ trang.  4. Kết luận  Quyền được tiếp cận nguồn nước trong xung đột vũ trang là một quyền thiết yếu bảo đảm các điều kiện sinh tồn tối thiểu cho con người, được ghi nhận trong nhiều quy phạm của luật quốc tế. Thông qua các chuẩn mực của Luật quốc tế về Quyền con người và Luật Nhân đạo quốc tế, nguồn nước và các công trình liên quan được đặt dưới sự bảo vệ nhằm hạn chế những tác động tiêu cực của chiến tranh đối với dân thường và các đối tượng được bảo hộ. Tuy nhiên, thực tiễn các cuộc xung đột hiện nay cho thấy nguồn nước vẫn có nguy cơ bị nhắm mục tiêu hoặc bị “vũ khí hóa”, dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng đối với đời sống con người và môi trường. Do đó, việc củng cố và bảo đảm tuân thủ các quy định của luật quốc tế liên quan đến bảo vệ nguồn nước là cần thiết nhằm duy trì các tiêu chuẩn nhân đạo tối thiểu và bảo vệ quyền con người ngay cả trong bối cảnh xung đột vũ trang. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO  [1] UN Water, Human Rights to Water and Sanitation , ( UN Water ), https://www.unwater.org/water-facts/human-rights-water-and-sanitation , truy cập ngày 20/03/2026. [2] Tuyên ngôn Quốc tế về Quyền con người 1948, Điều 3.  [3][4]  Công ước Quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội 1966, Điều 11(1), Điều 12(1).  [5]  Nguyên văn bằng tiếng Anh: “ All peoples, whatever their stage of development and their social and economic conditions, have the right to have access to drinking water in quantities and of a quality equal to their basic needs ”. Xem thêm tại Báo cáo Hội nghị Nước Liên hợp quốc 1977, Nghị quyết II về Cung cấp nước cho cộng đồng. [6] Đại Hội đồng, Nghị quyết A/RES/64/292 về Quyền con người đối với nguồn nước và vệ sinh.  [7] [8] [9] [10] [11][12][13][14][15] Bình luận chung số 15 của Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 2002, đoạn 12.  [8] Trong bối cảnh này, “uống” có nghĩa là nước được sử dụng để tiêu thụ thông qua đồ uống và thực phẩm. “Vệ sinh cá nhân” (personal sanitation)  có nghĩa là việc xử lý chất thải của con người. Nước cần thiết cho vệ sinh cá nhân khi các phương thức vệ sinh dựa trên nước được áp dụng. “Chuẩn bị thực phẩm” bao gồm vệ sinh thực phẩm và việc chế biến thực phẩm, dù nước được sử dụng như một thành phần trong thực phẩm hay chỉ tiếp xúc với thực phẩm. “Vệ sinh cá nhân và hộ gia đình” (personal and household hygiene)  có nghĩa là sự sạch sẽ của cá nhân và vệ sinh của môi trường sinh hoạt trong gia đình . [9] Xem thêm J. Bartram and G. Howard, “Domestic water quantity, service level and health: what should be the goal for water and health sectors”, WHO, 2002.  [10] Xem thêm WHO, Guidelines for drinking water quality, ấn bản lần thứ 2, tập 1-3 (Geneva, 1993).  [16]  Mara Tignino, ‘Water in Armed Conflicts’ (International Institute of Humanitarian Law, 2024)   https://iihl.org/mara-tignino-water-in-armed-conflicts/   truy cập ngày 18/03/2026. [17] Mark Zeitoun, Karim Eid-Sabbagh, and Jeremy Loveless, “The analytical framework of water and armed conflict: a focus on the 2006 Summer War between Công ước Geneva (IV) năm 1949 về việc bảo vệ dân thường trong thời chiến đã quy định về việc tiếp cận nguồn nước cho các đối tượng dân sự trong thời chiến. Israel and Lebanon”, tr.24.  [18] [20][21][22]Công ước Geneva (IV) liên quan đến việc bảo vệ dân thường trong thời chiến, Điều 55, Điều 85(3),  Điều 89(3).  [19] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Bình luận năm 2025 về Điều 55 Công ước Geneva IV năm 1949 liên quan đến việc bảo vệ thường dân trong thời chiến   https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/gciv-1949/article-55/commentary/2025  truy cập 20/3/2026. Xem thêm Mara Tignino,   ‘Water, international peace, and security’ , International Review of the Red Cross,  Vol. 92, No. 879, September 2010, tr. 647-674 .  [23]  Nghị định thư bổ sung I, Điều 56.  [24][25][26] Công ước Geneva (III) về đối xử nhân đạo với tù binh chiến tranh, Điều 20(1), Điều 26(3), Điều 29(3).  [27] [32] [33][34][35] Quy tắc Berlin về tài nguyên nước 2004, Điều 50, Điều 51.  [28] [36] [44] [45] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), “Water and Armed Conflicts” , Case Study trong bộ tài liệu How Does Law Protect in War?   https://casebook.icrc.org/case-study/water-and-armed-conflicts  truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2026. [29] [37]  Công ước La Hay (IV) về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền và Phụ lục của Công ước: Quy chế về các Luật và Tập quán Chiến tranh trên Đất liền 1907, Điều 23(a),(g). Xem thêm  Ameur Zemmali, ‘The Protection of Water in Times of Armed Conflict’ (1995) 9 International Review of the Red Cross   550 , tr. 552.   [30] Dự thảo Tuyên bố Brussels về các luật và tập quán chiến tranh 1874, Điều 13(a).  [31]  Ameur Zemmali, ‘The Protection of Water in Times of Armed Conflict’ (1995) 9 International Review of the Red Cross  550, tr. 553.  [38]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Luật Nhân đạo Quốc tế tập quán, Nguyên tắc phân biệt giữa mục tiêu dân sự và mục tiêu quân sự , https://ihl-databases.icrc.org/en/customary-ihl/v1/rule7  truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2026. [39]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) Bình luận năm 1987  về Điều 54 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư I), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/api-1977/article-54/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [40]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Bình luận năm 1987 về Điều 14 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư II), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/apii-1977/article-14/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [41] Yoram Dinstein, Siege Warfare and the Starvation of Civilians, in humanitarian law of armed conflict: challenges ahead ; frits kalshoven 145-46 (Astrid Delissen & Gerard Tania eds 1991)  [42] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC), Обычное мгп , Практика, связанная с Норма 54, Attacks against Objects Indispensable to the Survival of the Civilian Population,   https://ihl-databases.icrc.org/ru/customary-ihl/v2/rule54  , truy cập ngày 19/3/2026. [43]  Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế (ICRC) Bình luận năm 1987  về Điều 56 Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, liên quan đến việc bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang phi quốc tế (Nghị định thư I), ngày 8 tháng 6 năm 1977. https://ihl-databases.icrc.org/en/ihl-treaties/api-1977/article-54/commentary/1987?activeTab=  truy cập ngày 18/3/2026. [46]  Paola Gaeta and Etienne Henry, ‘Hands Off Water in War: Weaponization of Water in the Occupied Palestinian Territory’ Opinio Juris (2025). https://opiniojuris.org/2025/07/24/hands-off-water-in-war-weaponization-of-water-in-the-occupied-palestinian-territory/ .  truy cập ngày 19/3/2026. [47] Peter H Gleick, Rivers and Water Systems as Weapons and Casualties of the Russia-Ukraine War  (2023) 11(10) Earth’s Future. [48] Cecilia Grech-Madin, Water and Warfare: The Evolution and Operation of the Water Taboo  (Routledge 2021) 84-125.  [49] Michael D King,  The Weaponization of Water in Syria and Iraq (2015) 153-69; Pacific Institute, The World’s Water. [50]  Peter P Mollinga, Water and Politics: Levels, Rational Choice and South Indian Canal Irrigation (2001) 33(8-9) Futures 733-52. [51] Mark Zeitoun and others, Analysis for Water Conflict Transformation  (2020) 45(4) Water International 365-84;  xem them  James Fergusson, In Search of the River Jordan: A Story of Palestine, Israel and the Struggle for Water  (Yale University Press 2023). [52]  Geneva Academy of International Humanitarian Law and Human Rights, Water Wars: How Sudan’s Conflict Weaponizes a Basic Human Need  (2025) https://geneva-academy.ch/water-wars-how-sudans-conflict-weaponizes-a-basic-human-need/  truy cập ngày 21/3/2026. [53][54] Yedur Mihir and Emin Carpentier, The Weaponization of Water: Water Politics in the Middle East,  Oxford Political Review (2023) https://oxfordpoliticalreview.com/2023/06/24/the-weaponization-of-water-water-politics-in-the-middle-east/   truy cập ngày 20/3/2026. [55] Antonia Zimmermann, Russia’s war on water in Ukraine  (2023) https://www.politico.eu/article/russias-war-on-water-in-ukraine ? truy cập ngày 21/3/2026. [56]  Agnieszka Szpak. The use of Water as a Weapon under International Humanitarian law with special emphasis on the destruction of the Nova Kakhovka Dam. (Studia Iuridica, 2024) https://doi.org/10.31338/2544-3135.si.2024-103.4   tr.67 [57] Milanovic M. The Destruction of the Nova Kakhovka Dam and International Humanitarian Law: Some Preliminary Thoughts,  (2023) https://www.ejiltalk.org/the-destruction-of-thenova-kakhovka-dam-and-international-humanitarian-law-some-preliminary-thoughts/  truy cập ngày 21/3/2026. [58][59]  Security Council Report, Arria-Formula Meeting on Protecting Water in Armed Conflict  (2025) https://www.securitycouncilreport.org/whatsinblue/2025/05/arria-formula-meeting-on-protecting-water-in-armed-conflict.php   truy cập ngày 21/3/2026. [60]  Slovenia, Protecting Water in Armed Conflict: Protecting Civilian Lives, https://buildingtrust.si/protecting-water-in-armed-conflict-protecting-civilian-lives/  truy cập ngày 21/3/2026.

Xem tất cả

Trang khác (46)

  • Phạm Thanh Huyền | Juris Exploratores

    GIỚI THIỆU DỰ ÁN Website Juris Exploratores được thành lập bởi sinh viên Khoa Luật Quốc tế Học viện Ngoại Giao trên cơ sở Ban Nghiên cứu Pháp lý của Ban tổ chức Hoạt động Sinh viên Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao. Mục đích chính của website là cung cấp một nền tảng thông tin, học hỏi và trao đổi về các khía cạnh pháp luật quốc tế, nhằm thúc đẩy sự hiểu biết, nâng cao nhận thức và hỗ trợ việc nghiên cứu. Tập thể thành viên nhiệm kỳ 2025-2026 Hàng tháng, website sẽ cung cấp tới các bạn đọc những bài viết về nghiên cứu pháp luật quốc tế và giới thiệu các hoạt động học thuật của sinh viên Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao. Cung cấp thông tin đa dạng về pháp luật quốc tế: Trang web nhằm cung cấp các tài liệu, bài viết và thông tin liên quan đến các lĩnh vực pháp luật khác nhau, từ pháp luật quốc tế đến pháp luật nội địa, giúp người đọc tiếp cận thông tin một cách toàn diện. Hỗ trợ nghiên cứu và học tập: Trang web cung cấp tài liệu và nguồn tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu và học tập về pháp luật, giúp người đọc nâng cao khả năng nghiên cứu, phân tích và ứng dụng pháp luật vào thực tế. Thảo luận và trao đổi kiến thức: Trang web tạo môi trường cho các cuộc thảo luận, bình luận và trao đổi kiến thức giữa các thành viên trong cộng đồng pháp luật. Người đọc có cơ hội chia sẻ ý kiến, trao đổi quan điểm và học hỏi từ nhau. MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG 1 Bài viết được đăng trên website này không đại diện cho bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào. Mọi quan điểm và thông tin chỉ là ý kiến cá nhân của tác giả và không phản ánh quan điểm chính thức của website. Tác giả chịu mọi trách nhiệm về nội dung trong bài viết. 2 Việc sử dụng, phát hành và đăng tải lại các bài viết trên website của Dự án, cần phải trích dẫn đầy đủ tên tác giả, năm xuất bản, tên bài viết và đường dẫn đến trang web. Tuyệt đối không được thay đổi nội dung của bài viết nếu không có sự đồng ý của Ban biên tập. 3 Tất cả bài nghiên cứu, và tài liệu khác được đăng trên trang web này đều thuộc quyền sở hữu tác giả hoặc các chủ sở hữu bản quyền tương ứng. Bạn đọc có nghĩa vụ không phân phối hoặc sử dụng bài viết cho mục đích thương mại mà không có sự đồng ý từ tác giả và Ban biên tập. BAN BIÊN TẬP VÀ CỐ VẤN Lê Thị Hiền Hạnh Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 50 Đinh Văn Khiêm Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 50 Nguyễn Ngọc Trâm Phó trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 51 Trương Hoàng Khôi Nguyên Phó trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 51 Dương Duy Khang Cố vấn - Sinh viên khoá 49 Phạm Quốc Hào Cố vấn - Sinh viên khoá 49 Phạm Thanh Huyền Cố vấn - Sinh viên khoá 49 ĐỘI NGŨ XÂY DỰNG NỘI DUNG Nguyễn Thị Minh Hằng Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Nguyễn Vũ Khôi Việt Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Cao Bình Nguyên Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Nguyễn Hoàng Trang Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Phùng Đăng Khôi Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Phạm Minh Ngọc Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Kiều Thu Chang Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Đặng Quốc Dũng Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Phạm Thị Lan Hương Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Phạm Diệp Anh Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Hà Kiều Anh Thành viên - Sinh viên Khóa 52 Bùi Nguyên Gia Phúc Thành viên - Sinh viên Khóa 52 Lê Thùy Dung Thành viên - Sinh viên Khóa 52 Cao Ngọc Khánh Linh Thành viên - Sinh viên Khóa 52 NHIỆM KỲ 2024 - 2025

  • Phan Nguyễn Quỳnh Nhi | Juris Exploratores

    NHIỆM KỲ 2023 - 2024 BAN BIÊN TẬP VÀ CỐ VẤN Dư Vũ Quỳnh Anh Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 48 Phạm Quốc Hào Phó Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 49 Trịnh Bình Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Tạ Quang Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Nguyễn Phương Linh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Dương Duy Khang Biên tập viên - Sinh viên khoá 49 ĐỘI NGŨ XÂY DỰNG NỘI DUNG Nguyễn Quỳnh Diệp Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Chu Trang Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Hoàng Hải Vân Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Nguyễn Khánh Linh Thành viên - Sinh viên Khoá 47 Nguyễn Vũ Khôi Việt Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Phạm Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Hoàng Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Phạm Thanh Huyền Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Dương Hải Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Tăng Bảo Đan Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Phan Nguyễn Quỳnh Nhi Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Thị Hiền Hạnh Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Đinh Văn Khiêm Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Nguyễn Thị Minh Hằng Sinh viên Khoá 49 Lê Nhật Quỳnh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lương Vũ Khánh Ly Thành viên - Sinh viên Khoá 48 NHIỆM KỲ 2024 - 2025

  • Luật Nhân đạo Quốc tế | Juris Exploratores

    LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ QUYỀN ĐƯỢC TIẾP CẬN NGUỒN NƯỚC TRONG XUNG ĐỘT VŨ TRANG THEO LUẬT QUỐC TẾ Chuyên mục đặc biệt Phạm Thanh Huyền, Thái Nguyệt Anh 5 giờ trước 21 phút đọc [77] NỘI HÀM CỦA NGUYÊN TẮC PHÂN BIỆT THEO LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ Luật Nhân đạo Quốc tế Đỗ Kim Ngân, Lê Thùy Dung 16 thg 2 20 phút đọc [63] XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LÝ VỀ VŨ KHÍ SÁT THƯƠNG TỰ ĐỘNG VỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG XUNG ĐỘT VŨ TRANG DƯỚI GÓC NHÌN CỦA LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ Luật Nhân đạo Quốc tế Nguyễn Hoàng Vân Ly, Phạm Thảo Nguyên, Phạm Nam Khánh 5 thg 8, 2025 25 phút đọc [47] QUYỀN ĐƯỢC TIẾP CẬN GIÁO DỤC CỦA TRẺ EM TRONG BỐI CẢNH XUNG ĐỘT VŨ TRANG THEO NGUYÊN TẮC PHÂN BIỆT TRONG LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ: THỰC TIỄN TẠI DẢI GAZA Chuyên mục đặc biệt Chu Trang Anh, Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Vũ Khôi Việt 20 thg 11, 2024 20 phút đọc [46] AN NINH LƯƠNG THỰC TRONG XUNG ĐỘT VŨ TRANG: TIẾP CẬN TỪ QUY ĐỊNH CỦA LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ Luật Nhân đạo Quốc tế Tăng Bảo Đan, Phan Nguyễn Quỳnh Nhi, Nguyễn Vũ Khôi Việt 27 thg 7, 2024 20 phút đọc [13] ĐỐI TƯỢNG BẢO VỆ CỦA LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ (LNĐQT) Luật Nhân đạo Quốc tế Lê Nhật Quỳnh, Dương Duy Khang 14 thg 4, 2023 8 phút đọc [12] PHẠM VI ÁP DỤNG CỦA LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ Luật Nhân đạo Quốc tế Lê Nhật Quỳnh, Dương Duy Khang 10 thg 4, 2023 9 phút đọc [11] NGUỒN VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CỦA LUẬT NHÂN ĐẠO QUỐC TẾ Luật Nhân đạo Quốc tế Nguyễn Quỳnh Diệp, Lương Vũ Khánh Ly 7 thg 4, 2023 11 phút đọc

Xem tất cả
bottom of page