top of page

TRANG TÌM KIẾM

Tìm thấy 108 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

Blog (78)

  • [76] MỐI QUAN HỆ GIỮA CÔNG NHẬN VÀ KẾ THỪA QUỐC GIA TRONG LUẬT QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Minh Ngọc Tóm tắt: Bài viết phân tích mối quan hệ giữa công nhận quốc gia và kế thừa quốc gia trong luật quốc tế, hai cơ chế pháp lý có sự gắn bó chặt chẽ trong thực tiễn pháp luật. Qua các ví dụ như Liên Xô, Nam Tư, Đức thống nhất hay Nam Sudan, bài viết làm rõ rằng công nhận thể hiện quan điểm chính trị của các quốc gia khác về tư cách quốc gia của một thực thể pháp lý, còn kế thừa là hệ quả pháp lý của việc thay đổi chủ quyền hoặc hình thành quốc gia mới. Sự kết hợp giữa hai cơ chế này quyết định việc quốc gia mới có được thừa nhận là chủ thể hợp pháp và có quyền tiếp nối các điều ước quốc tế, tài sản, nghĩa vụ hay vị trí trong tổ chức quốc tế hay không. Từ đó, bài viết khẳng định công nhận có vai trò hợp thức hóa hệ quả của kế thừa, đồng thời cho thấy ảnh hưởng của yếu tố chính trị đối với việc duy trì ổn định trật tự pháp lý quốc tế. Từ khoá: Luật Quốc tế, công nhận quốc gia, kế thừa quốc gia, quốc gia tiếp nối, quốc gia tiền nhiệm, quốc gia kế nhiệm, nghĩa vụ pháp lý quốc tế Mở đầu Trước những biến động không ngừng của bản đồ chính trị thế giới, việc hiểu rõ mối liên hệ giữa công nhận và kế thừa quốc gia trở nên cần thiết để lý giải cách cộng đồng quốc tế duy trì tính liên tục và ổn định của trật tự toàn cầu. Công nhận quốc gia là hành vi pháp lý - chính trị của một hoặc nhiều quốc gia khác nhằm xác nhận sự tồn tại và tư cách pháp nhân quốc tế của một thực thể mới,[1] còn kế thừa quốc gia là quá trình chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế từ quốc gia tiền nhiệm sang quốc gia kế nhiệm.[2] Hai cơ chế này phản ánh những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ giữa các quốc gia: công nhận thể hiện ý chí chủ quan của các quốc gia khác, trong khi kế thừa là hệ quả khách quan của những biến động về chủ quyền, lãnh thổ hoặc tư cách pháp nhân nhà nước.[3] Công nhận và kế thừa quốc gia trong thực tiễn luôn có sự đan xen, đặc biệt trong những tình huống sáp nhập, ly khai hoặc giải thể. Những trường hợp như Liên Xô, Nam Tư, Đức thống nhất, Kosovo hay Palestine cho thấy luật quốc tế phải xử lý đồng thời hai vấn đề: (i) quốc gia mới có được thừa nhận là một chủ thể hợp pháp hay không, và (ii) liệu quốc gia đó có được kế thừa quyền và nghĩa vụ của quốc gia tiền nhiệm. Chính sự giao thoa này làm phát sinh nhu cầu xem xét lại bản chất của mối quan hệ giữa công nhận và kế thừa, từ đó đánh giá giới hạn tác động của chính trị đối với nguyên tắc pháp quyền quốc tế.[4] 1. Công nhận quốc gia 1.1. Khái niệm - các học thuyết về công nhận quốc gia Trong luật quốc tế, công nhận quốc gia được hiểu là hành vi pháp lý - chính trị của một hay nhiều quốc gia khác nhằm xác nhận tư cách chủ thể quốc tế của một thực thể đáp ứng các tiêu chí của quốc gia (dân cư thường trú, lãnh thổ xác định, chính phủ hữu hiệu và năng lực thiết lập quan hệ quốc tế).[5] Công nhận không tạo ra quốc gia theo nghĩa vật chất, nó xác lập cách thức mà cộng đồng quốc tế đối xử với thực thể đó về mặt pháp lý trong quan hệ quốc tế, mở cánh cửa tham gia vào các tổ chức quốc tế liên chính phủ, các điều ước quốc tế (ĐƯQT) và quyền miễn trừ.[6] Hai cách tiếp cận học thuyết chi phối vấn đề này bao gồm học thuyết cấu thành ( constitutive ) và học thuyết tuyên bố ( declaratory ). Học thuyết cấu thành ( constitutive ) coi công nhận là điều kiện làm phát sinh tư cách quốc gia trước cộng đồng quốc tế: nếu không được công nhận, thực thể thiếu “ năng lực hành động   đầy đủ ” ( lacks the full capacity ) trên bình diện đối ngoại.[7] Ngược lại, học thuyết tuyên bố ( declaratory ) cho rằng sự tồn tại của quốc gia mang tính khách quan, công nhận chỉ là sự thừa nhận một quốc gia đã hình thành và tồn tại như một thực thể pháp lý độc lập.[8] Mặc dù học thuyết tuyên bố chiếm ưu thế trong thực tiễn sau năm 1945, học thuyết công nhận vẫn đóng vai trò quan trọng trên thực tế, khi giúp quốc gia mới thuận lợi hơn trong việc tham gia các thể chế quốc tế và củng cố sự xác nhận về tư cách pháp lý của mình trong cộng đồng quốc tế.[9] 1.2. Các hình thức công nhận quốc gia Trong luật quốc tế, công nhận quốc gia có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, phổ biến nhất là: (i) công nhận de facto , (ii) công nhận de jure , (iii) công nhận ngầm và (iv) công nhận có điều kiện.[10] Công nhận de facto  là sự thừa nhận tạm thời và có giới hạn, phản ánh việc quốc gia công nhận thừa nhận năng lực kiểm soát thực tế của chính quyền mới nhưng chưa sẵn sàng công nhận đầy đủ về mặt pháp lý - thường vì vẫn đang quan sát mức độ ổn định của chính thể đó.[11] Đây là hình thức linh hoạt, có thể bị rút lại khi bối cảnh chính trị thay đổi.[12] Công nhận de jure , ngược lại, là sự công nhận đầy đủ và chính thức, khẳng định quốc gia được công nhận đáp ứng ổn định và bền vững các tiêu chí của một quốc gia và sẵn sàng thiết lập toàn bộ quan hệ pháp lý - ngoại giao tương ứng.[13] Bên cạnh đó, công nhận có thể phát sinh theo lối ngầm định khi các quốc gia tiến hành những hành vi chỉ có ý nghĩa giữa các quốc gia với nhau như ký kết ĐƯQT song phương, trao đổi cơ quan đại diện có quy chế công vụ, thừa nhận miễn trừ quốc gia trước tòa, mà không kèm tuyên bố danh xưng “công nhận”.[14] So với de jure , công nhận de facto  chỉ có giá trị hạn chế và mang tính tạm thời, đồng thời không tạo nền tảng pháp lý mạnh mẽ cho quốc gia được công nhận. Ngược lại, công nhận de jure  thể hiện sự thừa nhận trọn vẹn về tư cách pháp lý quốc gia, có giá trị ổn định hơn và thường không thể dễ dàng bị rút lại.[15] Ở hình thức công nhận có điều kiện, quốc gia chỉ đồng ý công nhận khi thực thể mới đáp ứng những tiêu chuẩn nhất định, như tuân thủ thỏa thuận hòa bình, bảo đảm nhân quyền hay tôn trọng các điều ước biên giới.[16] Đồng thời, sau khi Hiến chương Liên Hợp Quốc ra đời, nghĩa vụ không công nhận các tình huống được tạo ra bởi vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế (ví dụ như xâm lược[17]) đặt ra một “ranh đỏ” pháp lý, việc công nhận không chỉ còn là lựa chọn phù hợp với lợi ích chính trị của các quốc gia mà bị ràng buộc bởi các giới hạn pháp lý rõ ràng.[18] 1.3. Phân biệt công nhận quốc gia và công nhận chính phủ Trong luật quốc tế, cần phân biệt rõ giữa công nhận quốc gia và công nhận chính phủ, bởi đây là hai hành vi pháp lý - chính trị có đối tượng và hệ quả pháp lý khác nhau. Công nhận quốc gia là việc một hoặc nhiều quốc gia khác thừa nhận một thực thể mới là một quốc gia có chủ quyền, qua đó xác lập tư cách pháp nhân quốc tế của thực thể đó.[19] Hành vi này tác động trực tiếp đến địa vị pháp lý quốc tế của thực thể được công nhận, bao gồm năng lực tham gia quan hệ quốc tế, ký kết điều ước, gia nhập tổ chức quốc tế và hưởng các quyền miễn trừ theo luật quốc tế.[20] Ngược lại, công nhận chính phủ liên quan đến việc thừa nhận một chính quyền cụ thể là đại diện hợp pháp của một quốc gia đã tồn tại.[21] Hình thức công nhận này thường phát sinh trong các bối cảnh thay đổi chính quyền bằng biện pháp phi hiến định như đảo chính, nội chiến hoặc xung đột vũ trang.[22] Việc công nhận hay không công nhận chính phủ không làm ảnh hưởng đến tư cách pháp nhân quốc tế của quốc gia, mà chủ yếu chi phối vấn đề đại diện, quan hệ ngoại giao và xử lý các giao dịch quốc tế nhân danh nhà nước.[23] Trong thực tiễn, công nhận chính phủ thường xét tới hiệu quả kiểm soát, tức là mức độ kiểm soát thực tế của chính phủ đó đối với lãnh thổ và bộ máy nhà nước.[24] Tuy nhiên, một số quốc gia ngày càng chú trọng thêm tiêu chí tính “hợp pháp” (legitimacy), đặc biệt trong bối cảnh đề cao dân chủ, nhân quyền và trật tự hiến định.[25] Việc không công nhận chính phủ có thể dẫn đến đình chỉ hoặc hạn chế quan hệ ngoại giao, dù quốc gia đó vẫn tiếp tục tồn tại và được công nhận đầy đủ.[26] Ví dụ điển hình cho sự phân biệt giữa công nhận quốc gia và công nhận chính phủ là trường hợp quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và chính phủ Đài Loan. Từ năm 1949, hai chính quyền song song cùng tồn tại sau nội chiến Trung Quốc, mỗi bên đều từng tuyên bố là chính phủ hợp pháp duy nhất của “Trung Quốc”.[27] Trường hợp này thường được nhắc đến như một ví dụ cho thấy sự phức tạp trong việc phân biệt giữa công nhận quốc gia và công nhận chính phủ trong thực tiễn luật quốc tế.[28] Như vậy, công nhận quốc gia có ý nghĩa pháp lý quốc tế rộng và nền tảng hơn, vì nó liên quan trực tiếp đến sự tồn tại của một chủ thể trong hệ thống quốc tế; trong khi công nhận chính phủ chủ yếu tác động đến phương thức và mức độ tương tác giữa các quốc gia, mà không làm thay đổi địa vị pháp lý của quốc gia được đại diện.[29] 1.4. Tác động pháp lý của công nhận quốc gia Trên phương diện đối ngoại, công nhận là chiếc “chìa khóa pháp lý và thể chế” ( a legal and institutional key ) giúp quốc gia mới tiếp cận mạng lưới ĐƯQT, tổ chức quốc tế và cơ chế miễn trừ tài phán.[30] Một khi được công nhận rộng rãi, quốc gia mới có vị thế thuận lợi để xây dựng hệ thống ĐƯQT của mình, bao gồm tham gia đàm phán kế thừa ĐƯQT trong trường hợp tồn tại quốc gia tiền nhiệm, hoặc thiết lập và gia nhập các điều ước quốc tế mới với tư cách một chủ thể độc lập; tiếp nhận tư cách thành viên trong các tổ chức quốc tế liên chính phủ theo quy tắc nội bộ của chúng, và xác lập năng lực ký kết ĐƯQT mới với đầy đủ hiệu lực ràng buộc.[31] Tác động này lan tỏa đến tính ổn định của quan hệ quốc tế: các bên thứ ba có cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý tài sản, nợ, lưu trữ, cũng như trách nhiệm quốc tế phát sinh từ hành vi của chính thể kế nhiệm.[32] Về phương diện đối nội, công nhận thường là điều kiện để hệ thống pháp luật quốc gia thừa nhận tư cách pháp lý và quyền hạn của chính phủ mới trước tòa án và cơ quan hành chính.[33] Nó chi phối hiệu lực các giao dịch công (hợp đồng nhà nước, trái phiếu, miễn trừ thi hành án) và tư (tư cách pháp nhân của cơ quan đại diện, quyền và nghĩa vụ của công dân nước được công nhận trên lãnh thổ nước công nhận). Đồng thời, công nhận quốc gia còn quyết định việc hệ thống pháp luật nội địa có áp dụng các quy tắc xung đột pháp luật và chế độ đặc quyền miễn trừ hay không, tức là xác định liệu chính phủ, cơ quan nhà nước và đại diện ngoại giao của thực thể được công nhận có được coi là chủ thể công quyền nước ngoài, được hưởng miễn trừ tài phán và miễn trừ thi hành án trước tòa án quốc gia hay không, từ đó tạo ra sự nhất quán giữa chính sách đối ngoại của hành pháp và thực hành tư pháp trong hệ thống pháp luật quốc gia.[34] 2. Kế thừa quốc gia 2.1. Khái niệm và các nguyên tắc điều chỉnh Kế thừa quốc gia được hiểu là quá trình chuyển giao quyền và nghĩa vụ pháp lý quốc tế từ quốc gia tiền nhiệm sang quốc gia kế nhiệm trong những trường hợp có sự thay đổi căn bản về chủ quyền và quan hệ quốc tế của một vùng lãnh thổ nhất định.[35] Bản chất của kế thừa quốc gia phản ánh sự liên tục và ổn định của trật tự pháp lý quốc tế trong bối cảnh biến động chính trị - lãnh thổ. Dù Hiến chương Liên Hợp Quốc không trực tiếp quy định, các công ước chuyên biệt như Công ước Viên năm 1978 về kế thừa quốc gia đối với ĐƯQT và Công ước Viên năm 1983 về kế thừa quốc gia đối với tài sản, lưu trữ và nợ của quốc gia đã hệ thống hóa những nguyên tắc nền tảng chi phối quá trình này. Hai nguyên tắc chủ đạo được ghi nhận trong thực tiễn là (i) nguyên tắc tôn trọng sự lựa chọn của quốc gia kế nhiệm ( clean slate ) - thể hiện qua quyền không bị ràng buộc bởi các ĐƯQT của quốc gia tiền nhiệm, trừ khi quốc gia kế nhiệm đồng ý kế thừa;[36] và (ii) nguyên tắc duy trì tính liên tục của nghĩa vụ quốc tế cơ bản, phát sinh một cách đương nhiên theo pháp luật.[37] Trong khi nguyên tắc clean state được áp dụng cho các quốc gia mới giành độc lập, thì nguyên tắc duy trì tính liên tục của các nghĩa vụ theo ĐƯQT lại được áp dụng cho các quốc gia kế thừa trong những trường hợp khác như trường hợp kế thừa do sáp nhập hoặc hợp nhất hay kế thừa do chia tách.[38] 2.2. Các trường hợp kế thừa quốc gia Luật quốc tế phân biệt bốn mô hình kế thừa phổ biến, tương ứng với bản chất của biến động lãnh thổ hoặc tư cách quốc gia, bao gồm: (i) sáp nhập, (ii) ly khai, (iii) giải thể và (iv) tái thống nhất.[39] Sáp nhập  là khi một quốc gia sáp nhập hoàn toàn vào một quốc gia khác, quốc gia tiền nhiệm chấm dứt tồn tại, và toàn bộ quyền, nghĩa vụ quốc tế của nó chuyển sang quốc gia nhận sáp nhập.[40] Ví dụ điển hình là Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức năm 1990 thay vì hình thành quốc gia mới. Ly khai   là khi một phần lãnh thổ tách ra để thành lập một quốc gia mới, quốc gia gốc vẫn tiếp tục tồn tại.[41] Quốc gia ly khai chỉ kế thừa những quyền, nghĩa vụ có liên quan trực tiếp đến lãnh thổ hoặc nhân khẩu của mình, trừ khi có thỏa thuận khác.[42] Trường hợp Nam Sudan (2011) là minh chứng rõ cho nguyên tắc clean slate : sau khi tách khỏi Sudan, quốc gia này không tự động kế thừa các ĐƯQT, nghĩa vụ tài chính hay tư cách thành viên quốc tế của Sudan, mà chỉ đảm nhận những quyền và nghĩa vụ mà chính mình chủ động lựa chọn hoặc tuyên bố chấp nhận thông qua các thỏa thuận và hành vi pháp lý độc lập. Giải thể xảy ra khi quốc gia tiền nhiệm chấm dứt tồn tại hoàn toàn và được thay thế bởi nhiều quốc gia mới.[43] Trường hợp Liên bang Nam Tư là ví dụ điển hình, sau khi các nước cộng hòa tách ra, quốc gia mẹ là Cộng hòa Liên bang Nam Tư bị coi là đã chấm dứt tồn tại. Không quốc gia nào được công nhận là “tiếp tục” tư cách pháp lý của Nam Tư; thay vào đó, mỗi quốc gia mới đều phải xin gia nhập Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế như một chủ thể hoàn toàn mới, cũng như đàm phán phân chia tài sản, nợ và nghĩa vụ quốc tế.[44] Trái lại, trong trường hợp Liên Xô, dù cũng trải qua quá trình tan rã đầu thập niên 1990, Nga được cộng đồng quốc tế công nhận là quốc gia tiếp nối (continuator state), tiếp nhận ghế thường trực Hội đồng Bảo an, quyền và nghĩa vụ trong các điều ước quốc tế cũng như tư cách pháp nhân của Liên Xô. Các nước cộng hòa còn lại được xem là quốc gia kế thừa (successor states), chỉ tiếp nối một phần nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy phạm tập quán, phản ánh sự kết hợp giữa lý luận pháp lý và thực tế công nhận quốc tế.[45] Tái thống nhất   xảy ra khi hai hoặc nhiều quốc gia trước đây độc lập hợp nhất để hình thành một quốc gia mới hoặc khôi phục quốc gia cũ.[46] Trường hợp Yemen (1990) là ví dụ điển hình: Cộng hòa Yemen tuyên bố chấp nhận toàn bộ điều ước và nghĩa vụ quốc tế của cả Bắc Yemen và Nam Yemen, và được các tổ chức quốc tế đối xử như chủ thể kế thừa đầy đủ quyền, nghĩa vụ của hai nhà nước tiền nhiệm.”.[47] Ngoài ra, chia tách  được xem là hình thức trung gian giữa ly khai và giải thể, khi quốc gia gốc vẫn tồn tại nhưng mất đi một phần chủ quyền lãnh thổ đáng kể.[48] Trường hợp Pakistan và Bangladesh (1971) thể hiện cách tiếp cận dung hòa: Pakistan vẫn được coi là quốc gia tiếp nối, trong khi Bangladesh được thừa nhận là quốc gia mới kế thừa một phần nghĩa vụ tài chính và điều ước khu vực.[49] 2.3. Nội dung kế thừa quốc gia Phạm vi kế thừa quốc gia trải dài trên bốn lĩnh vực chính: (i) ĐƯQT, (ii) tài sản và nợ, (iii) lưu trữ nhà nước, và (iv) tư cách thành viên các tổ chức quốc tế. Kế thừa ĐƯQT  là nội dung trung tâm của vấn đề kế thừa quốc gia trong luật quốc tế. Theo Công ước Viên 1978, quốc gia kế nhiệm có thể lựa chọn kế thừa hoặc không kế thừa ĐƯQT của quốc gia tiền nhiệm, tùy thuộc vào bản chất của ĐƯQT (song phương, đa phương) và sự đồng thuận của các bên liên quan.[50] Trong trường hợp clean slate , quốc gia mới không tự động bị ràng buộc bởi các ĐƯQT trước đây; tuy nhiên, các ĐƯQT nhân đạo (như Công ước Geneva 1949 về bảo vệ thường dân trong thời chiến) được coi là có hiệu lực phổ quát và tiếp tục ràng buộc quốc gia kế nhiệm.[51] Kế thừa tài sản, lưu trữ và nợ quốc gia  được điều chỉnh bởi Công ước Viên 1983 về Kế thừa quốc gia liên quan đến tài sản, kho lưu trữ và nợ của quốc gia. Nguyên tắc cơ bản là “sự công bằng và thỏa thuận”: các bên đàm phán phân chia tài sản, nghĩa vụ tài chính và hồ sơ lưu trữ trên cơ sở vị trí địa lý, mục đích sử dụng, và lợi ích chính đáng của cư dân địa phương.[52] Thực tiễn giải thể Liên Xô và Tiệp Khắc cho thấy việc phân chia tài sản và nợ luôn gắn chặt với thỏa thuận chính trị, hơn là áp dụng cơ học quy phạm quốc tế.[53] Kế thừa tư cách thành viên tổ chức quốc tế  là vấn đề phức tạp nhất, bởi nó phụ thuộc vào cả quy chế pháp lý của tổ chức và mức độ công nhận quốc tế.[54] Trong trường hợp Liên Xô, Liên bang Nga được thừa nhận là quốc gia kế tục tư cách thành viên Liên Hợp Quốc, bao gồm cả ghế thường trực Hội đồng Bảo an, một tiền lệ khẳng định vai trò của công nhận chính trị trong cơ chế kế thừa pháp lý. Ngược lại, Nam Tư sau khi giải thể phải nộp đơn xin gia nhập mới, thể hiện sự thiếu đồng thuận của cộng đồng quốc tế về tư cách “tiếp nối” của bất kỳ quốc gia thành phần nào.[55] Cuối cùng, các vấn đề trách nhiệm quốc tế  cũng được xem xét trong khuôn khổ kế thừa. Quốc gia kế nhiệm có thể phải gánh vác nghĩa vụ bồi thường hoặc thi hành phán quyết quốc tế nếu hành vi vi phạm phát sinh trước khi việc kế thừa hoàn tất.[56] 3. Mối quan hệ giữa công nhận quốc gia và kế thừa quốc gia 3.1. Vai trò của công nhận trong kế thừa quốc gia Trong tiến trình kế thừa quốc gia, công nhận giữ vai trò then chốt trong việc xác lập tư cách chủ thể quốc tế của các thực thể mới hoặc quốc gia tiếp nối. Khi xảy ra chia tách, sáp nhập hay tuyên bố kế tục, chính sự công nhận trực tiếp hoặc ngầm định của cộng đồng quốc tế sẽ quyết định chủ thể nào được thừa nhận là quốc gia hợp pháp kế thừa quyền, nghĩa vụ và vị thế pháp lý của quốc gia tiền nhiệm.[57] Công nhận có vai trò then chốt trong việc xác định tư cách pháp lý và phạm vi kế thừa của quốc gia mới hình thành. Dù kế thừa quốc gia là hệ quả pháp lý khách quan của sự thay đổi chủ quyền, việc quốc gia kế nhiệm có được thừa nhận là chủ thể hợp pháp hay không lại phụ thuộc vào sự công nhận của cộng đồng quốc tế.[58] Công nhận tạo cơ sở hợp pháp cho việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ quốc tế. Khi một quốc gia bị chia tách, công nhận là yếu tố trung tâm xác lập tư cách pháp nhân của các thực thể mới.[59] Dù có thể đáp ứng tiêu chí quốc gia theo Công ước Montevideo 1933, các thực thể này chỉ trở thành chủ thể quốc tế hợp pháp khi được công nhận.[60] Khi một quốc gia tuyên bố kế tục tư cách của quốc gia tiền nhiệm, hiệu lực tuyên bố này phụ thuộc vào sự công nhận của các quốc gia khác.[61] Sau khi Liên Xô tan rã, Nga thông báo tiếp nhận tư cách pháp nhân và ghế thường trực Hội đồng Bảo an. Mặc dù không có nghị quyết chính thức, sự im lặng chấp thuận của các thành viên Liên Hợp Quốc được xem là công nhận ngầm (de facto), qua đó hợp thức hóa tư cách tiếp nối của Nga.[62] Ngược lại, khi thiếu sự công nhận, việc kế thừa chỉ mang tính tuyên bố đơn phương và khó được thừa nhận trong quan hệ đối ngoại. Công nhận trong bối cảnh kế thừa quốc gia ảnh hưởng trực tiếp đến tư cách kế thừa ĐƯQT, tài sản và vị trí trong các tổ chức quốc tế.[63] Trong quan hệ song phương, việc quốc gia khác chấp nhận ký kết hoặc tiếp tục quan hệ với thực thể mới thường đồng nghĩa với công nhận ngầm tư cách kế thừa.[64] Trong quan hệ đa phương, tổ chức quốc tế có thể cho phép quốc gia mới tạm thời tham gia, nhưng chưa chính thức thừa nhận cho đến khi đạt đồ[65]ng thuận chính trị.[66] Trường hợp Nam Tư tan rã là ví dụ điển hình, khi Serbia ban đầu tuyên bố tiếp tục tư cách pháp nhân của Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, song Liên Hợp Quốc không chấp nhận yêu sách này, buộc Serbia phải nộp đơn gia nhập như một quốc gia mới. Thực tiễn này cho thấy công nhận là yếu tố quyết định việc một chủ thể có được coi là kế thừa hợp pháp hay không, đồng thời khẳng định rằng công nhận chính là cơ chế hợp thức hóa mối liên hệ giữa kế thừa pháp lý và thừa nhận chính trị trong trật tự quốc tế. Tuy nhiên, công nhận không có giá trị sáng lập nghĩa vụ pháp lý. Một quốc gia được công nhận không đương nhiên bị ràng buộc bởi các ĐƯQT hay nợ quốc tế của quốc gia tiền nhiệm, trừ khi chính họ chấp nhận hoặc quy phạm tập quán quốc tế yêu cầu[67]. Do đó, công nhận chỉ mang tính hợp thức hóa chứ không tạo lập, phản ánh sự giao thoa giữa chính trị và pháp lý trong quá trình kế thừa quốc gia. 3.2. Mối quan hệ giữa công nhận quốc gia và kế thừa quốc gia Công nhận và kế thừa quốc gia là hai cơ chế pháp lý độc lập trong luật quốc tế, nhưng giữa chúng tồn tại mối liên hệ chặt chẽ và tác động qua lại. Về bản chất, kế thừa là hệ quả khách quan của sự thay đổi chủ quyền hoặc tư cách pháp nhân nhà nước, trong khi công nhận phản ánh yếu tố chủ quan của cộng đồng quốc tế đối với sự thay đổi đó.[68] Tuy nhiên, trong thực tiễn, không có quá trình kế thừa nào đạt được hiệu lực đầy đủ nếu thiếu một mức độ công nhận nhất định, dù là rõ ràng hay ngầm định, từ các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế có liên quan. Một mặt, công nhận là điều kiện thực thi của kế thừa. Kế thừa quốc gia về nguyên tắc có thể tồn tại mà không cần công nhận, nhưng hiệu lực của nó, đặc biệt trong quan hệ điều ước, tài sản, nợ công hay tư cách thành viên quốc tế lại phụ thuộc vào sự chấp thuận của các chủ thể khác trong hệ thống quốc tế.[69] Khi cộng đồng quốc tế không công nhận, các tuyên bố kế thừa thường không có giá trị thực tế. Trường hợp Serbia - Montenegro năm 1992 là ví dụ điển hình: dù tự nhận là quốc gia tiếp nối của Nam Tư, tuyên bố này không được công nhận và do đó không tạo ra quyền kế thừa đối với tư cách thành viên Liên Hợp Quốc.[70] Mặt khác, kế thừa có thể củng cố cơ sở pháp lý của công nhận. Khi một quốc gia chứng minh được tính liên tục của chủ quyền, cấu trúc nhà nước và nghĩa vụ quốc tế, như Nga trong việc tiếp nối Liên Xô, thì cộng đồng quốc tế có cơ sở pháp lý vững chắc hơn để công nhận tư cách tiếp nối.[71] Trong trường hợp này, công nhận không sáng lập quyền kế thừa, mà hợp thức hóa và củng cố tính liên tục pháp lý của quốc gia.[72] Do đó, mối quan hệ giữa công nhận và kế thừa mang tính tương hỗ, công nhận hợp pháp hóa hệ quả của kế thừa, trong khi kế thừa tạo nền tảng pháp lý cho công nhận. Tuy nhiên, sự tương hỗ này không phải tuyệt đối, mà công nhận vẫn là một hành vi chính trị mang tính chủ quan, có thể bị chi phối bởi lợi ích quốc gia và cấu trúc quyền lực quốc tế.[73] Trong khi đó, kế thừa phản ánh tính khách quan của trật tự pháp lý quốc tế, hướng tới duy trì tính ổn định và liên tục của các quan hệ quốc tế bất chấp biến động chính trị.[74] Tựu trung, công nhận và kế thừa quốc gia là hai khía cạnh gắn liền trong việc xác lập vị thế của một quốc gia trên trường quốc tế: công nhận mang lại sự thừa nhận bên ngoài, còn kế thừa bảo đảm sự tiếp nối bên trong của tư cách quốc gia. Sự kết hợp giữa hai yếu tố này tạo nên cơ chế cân bằng giữa tính hợp pháp và tính chính danh chính trị trong trật tự quốc tế hiện đại. Kết luận Công nhận và kế thừa quốc gia là hai cơ chế pháp lý độc lập nhưng luôn đan xen trong thực tiễn. Công nhận thể hiện ý chí chủ quan của các quốc gia khác, còn kế thừa là hệ quả khách quan của sự thay đổi chủ quyền hoặc tư cách pháp nhân nhà nước. Trong nhiều trường hợp, công nhận là điều kiện để việc kế thừa có hiệu lực đối ngoại, trong khi kế thừa lại củng cố cơ sở pháp lý cho sự công nhận. Mối quan hệ này bảo đảm tính liên tục và ổn định của trật tự pháp lý quốc tế, giúp duy trì các quyền và nghĩa vụ giữa các quốc gia khi có biến động chính trị - lãnh thổ. Tuy nhiên, sự chi phối của yếu tố chính trị trong hành vi công nhận vẫn là thách thức lớn, có thể dẫn tới cách hiểu và áp dụng không thống nhất về kế thừa quốc gia. Do đó, luật quốc tế cần hướng tới việc tăng cường tính khách quan và dự đoán được của cơ chế kế thừa, nhằm giữ vững sự cân bằng giữa hợp pháp, ổn định và công bằng trong trật tự quốc tế. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn., Cambridge University Press 2021), p. 360. [2] [35] Công ước Viên về Kế thừa quốc gia trong lĩnh vực điều ước quốc tế, Điều 2(1)(b). [3] Hersch Lauterpacht, Recognition in International Law  (Cambridge University Press 1947), trang 6-9. Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn., Oxford University Press 2006), trang 386-388. [4] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn., Cambridge University Press 2021), p. 361-364. [5] Công ước Montevideo về Quyền và Nghĩa vụ của các Quốc gia, Điều 1. [6] Malcolm N Shaw, International Law  (9th end., Cambridge University Press 2021), p. 362-363. [7] Hersch Lauterpacht, Recognition in International Law  (Cambridge University Press 1947), p. 28-33. [8] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn., Oxford University Press 2006), p. 27-30. [9] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd end., Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30. [10] [11] [12] [13] [19] [30] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn., Cambridge University Press 2021), p. 360-366. [14] Malcolm N Shaw, International Law  (9th end., Cambridge University Press 2021), p. 366-367. Xem thêm Lassa Oppenheim, International Law: A Treatise , vol 1 (8th edn., edited by H Lauterpacht, Longmans, Green & Co 1955), p. 150. [15] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24. [16] Pavle Kilibarda, 3 Types of Recognition: de jure, de facto and conditional recognition , Oxford Scholarship Online 2024, Chapter 3, p. 52-59. [17] Legal Committee of the International Law Commission, “Chapter V: Peremptory norms of general international law (jus cogens) - Report of the International Law Commission: Seventy-first session (29 April–7 June & 8 July–9 August 2019)”  (UN Doc A/74/10, 2019). [18] Stefan Talmon, The Duty Not to “Recognize as Lawful” a Situation Created by a Serious Breach of a Jus Cogens Obligation , Christian Tomuschat and Jean-Marc Thouvenin (eds), The Fundamental Rules of the International Legal Order: Jus Cogens and Obligations Erga Omnes  (Brill 2006), p. 99-126. [20] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30, 703-708. [21] [22] Malcolm N Shaw, International Law,  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 387-390. [23] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (9th edn, Oxford University Press 2019), p. 165-168. [24] [25] [26] Mirza Nazim Beg, Recognition of Governments vs. Recognition of States: Legal Distinction , Contemporary Relevance and Challenges (tháng 7, 2025), Indian Journal of Law and Legal Research ,  Volume   VI I Issue III. [27] [28] Shirley A Kan, China/Taiwan: Evolution of the “One China” Policy  (Congressional Research Service, 2014), trang 1-3. [29] Stefan Talmon, Recognition of Governments in International Law  (Oxford University  1998), p. 3-7, 28-31. [31] [32] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30, 703-708. [33] [34] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 369-370. [36] Philipp Janig, The 1978 Vienna Convention, the Clean Slate Doctrine and the Decolonization of Sources (2020) Austrian Review of International and European Law. [37] Menno T Kamminga, State Succession in Respect of Human Rights Treaties (1996), European Journal of International Law, p. 482. [38] Menno T Kamminga, State Succession in Respect of Human Rights Treaties (1996), European Journal of International Law, p. 471. [39] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 390-410. [40] [41] [42] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 494-495. [43] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 409-410. [44] United Nations General Assembly, Resolution 47/1: Recommendation of the Security Council of 19 September 1992  (22 tháng 9, 1992) UN Doc A/RES/47/1. Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 715-722. [45] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (9th edn, Oxford University Press 2019), p. 424-425. [46] [48] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), p. 410-411. [47] Agreement Establishing a Union between the Yemen Arab Republic and the People’s Democratic Republic of Yemen, Điều 1-2. Xem thêm Konrad G Bühler, State Succession and Membership in International Organizations: Legal Theories versus Political Pragmatism  (Martinus Nijhoff 2001), p. 115-121. [49] A Boyle, ‘Annex A Opinion: Referendum on the Independence of Scotland - International Law Aspects’  (UK Government, 2013), para 54-56. S Raza, Bangladesh-Pakistan Relations:   A Hostage to History (2015), American International Journal of Contemporary Research (2.3 ‘Asset Sharing’). [50] Công ước Viên năm 1978 về Kế thừa quốc gia trong lĩnh vực điều ước quốc tế, Điều 34(1). [51] International Committee of the Red Cross (ICRC), Commentary on the First Geneva Convention  (2nd edn, Cambridge University Press 2016), đoạn 259. Xem thêm James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (9th edn, OUP 2019), p. 179-181. [52] D P O’Connell, State Succession in Municipal Law and International Law  (Cambridge University Press 1967) vol II, p. 499-503. [53] Matthew Craven, ‘The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law’ (1998) 9 EJIL 142, trang 160-163; Malgosia Fitzmaurice, ‘State Succession in Practice: The Case of Czechoslovakia’ (1995) 4 Finnish YIL 89, p. 103-106. [54] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 688-693. [55] Letter dated 24 December 1991 from the President of the Russian Federation to the Secretary-General, UN Doc A/46/915 (1991). Xem thêm Marc Weller, The International Response to the Dissolution of the Socialist Federal Republic of Yugoslavia  (1992) 86 AJIL  569, p. 590-592. [56] Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC), Các điều khoản dự thảo về Trách nhiệm của quốc gia đối với hành vi quốc tế sai trái, kèm theo chú giải  (2001), trong Niên giám Ủy ban Luật pháp quốc tế, Tập II (Phần Hai), các Điều 40-41 và phần Chú giải, đoạn 3-5. [57] Malcolm N Shaw, International Law  (9th edn, Cambridge University Press 2021), trang 380-383. [58] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 27-30, 405. [59] Matthew Craven, The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law  (1998), European Journal of International Law, p. 158-160. [60] [61] Rose Parfitt, Matthew Craven, Statehood, Self-Determination and Recognition , trong Malcolm D Evans, International Law  (5th edn., Oxford University Press 2018), p. 177-226. [62] UNSCOR , 46th Year, 301st meeting (31 January 1992). Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 405-406. [63] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30. [64] [65] MCR Craven, The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law  (1998) 9 EJIL  1471. [66] Công ước Viên về Kế thừa quốc gia trong lĩnh vực điều ước quốc tế, Điều 16. Xem thêm James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 418-420. [67] JG Devaney, The Law of State Succession: Regulating the Aftermath , trong  J Vidmar, S McGibbon and L Raible (eds), Research Handbook on Secession  (Edward Elgar 2022). [68] D P O’Connell, The Law of State Succession  (Cambridge University Press 1956), p. 52-55, 245-250. [69] UN General Assembly, Resolution 47/1: Recommendations of the Security Council regarding the membership of the Federal Republic of Yugoslavia (Serbia and Montenegro)  (22 tháng 9, 1992) UN Doc A/RES/47/1. [70] [71] Letter dated 24 December 1991 from the President of the Russian Federation to the Secretary-General, UN Doc A/46/915 (1991). Xem thêm Matthew Craven, The Problem of State Succession and the Identity of States under International Law  (1998), trong European Journal of International Law , p. 155-160. [72] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law,  (9th edn, Oxford University Press 2019), p. 143-145. [73] James Crawford, The Creation of States in International Law,  (2nd edn, Oxford University Press 2006), p. 22-24, 27-30, 703-708.

  • [75] CÁC CÁCH THỨC THỤ ĐẮC LÃNH THỔ THEO LUẬT QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Thị Lan Hương, Nguyễn Hà Minh Thu   Tóm tắt: Trong suốt quá trình phát triển của các quốc gia, lãnh thổ luôn giữ vai trò quan trọng gắn liền với chủ quyền, an ninh và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, do các biến động lịch sử như chiến tranh, di cư, và thỏa thuận chính trị, ranh giới lãnh thổ của nhiều quốc gia thường thay đổi. Chính vì vậy, ngành luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ ra đời nhằm điều chỉnh những biến động này một cách hợp pháp. Bài viết tập trung phân tích 05 cách thức thụ đắc lãnh thổ cơ bản theo luật quốc tế, bao gồm: (1) chuyển nhượng; (2) chiếm hữu; (3) chiếm hữu theo thời hiệu; (4) bồi tụ; (5) sử dụng vũ lực/xâm lược - phương thức đã bị cấm sau năm 1945. Từ khóa: Luật Quốc tế, thụ đắc lãnh thổ, cách thức thụ đắc lãnh thổ, chuyển nhượng, chiếm hữu, chiếm hữu theo thời hiệu, bồi tụ, xâm lược. Mở đầu Theo luật quốc tế “Thụ đắc lãnh thổ” là quá trình một quốc gia xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới, hay nói cách khác, là việc một quốc gia mở rộng lãnh thổ hiện có một cách hợp pháp thông qua các hành động mà luật quốc tế cho phép. Truyền thống phân loại các phương thức thụ đắc lãnh thổ bắt nguồn từ luật La Mã cổ đại,[1] theo đó có 05 cách thức thụ đắc lãnh thổ cơ bản: chuyển nhượng; chiếm hữu; chiếm hữu theo thời hiệu; bồi tụ; và xâm lược - phương thức hiện đã bị cấm sau năm 1945 theo quy định của Hiến chương Liên hợp quốc. Tuy nhiên cách phân loại này hiện nay được đánh giá là chưa đầy đủ và không hoàn toàn phù hợp với thực tiễn hiện đại[2] do tính phức tạp của các tranh chấp lãnh thổ, vì vậy không thể chỉ dựa vào một phương thức thụ đắc đơn lẻ mà cần xem xét toàn diện nhiều yếu tố, bao gồm sự công nhận của cộng đồng quốc tế và các hành vi thực thi chủ quyền của quốc gia liên quan.[3] Vì vậy, các phương thức thụ đắc lãnh thổ chỉ nên được xem như những cách phân loại thuận tiện để nghiên cứu, còn thực tế việc xác định chủ quyền lãnh thổ đòi hỏi phải xét đến nhiều yếu tố phức tạp và đa chiều hơn. 1. Thụ đắc lãnh thổ theo hình thức chuyển nhượng (Cession)  Chuyển nhượng là phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng cách chuyển nhượng lãnh thổ của quốc gia này sang quốc gia khác dựa trên sự đồng thuận giữa các quốc gia, thông thường qua việc ký kết các điều ước quốc tế có hiệu lực pháp lý.[4] Cơ sở cho phương thức này chính là ý định của các quốc gia.[5] Đồng thời các quốc gia không thể chuyển nhượng nhiều hơn những gì mình có, trừ trường hợp thụ đắc bằng phương thức bồi tụ (accretion).[6] Trong  Vụ Đảo Palmas (Hoa Kỳ v. Hà Lan) , tòa đã nhấn mạnh điểm này và các bên chấp nhận rằng Tây Ban Nha không thể chuyển nhượng cho người Mỹ nhiều hơn những quyền họ đang sở hữu.[7] Trong lịch sử từng tồn tại những trường hợp cưỡng ép chuyển nhượng lãnh thổ bằng việc đe dọa hay sử dụng vũ lực, ví dụ như trong vụ Iloilo (Hoa Kỳ v. Philippines), Philippines đã chuyển nhượng khu vực này cho Mỹ theo Điều ước Paris 1898 mặc dù quân đội Mỹ đã chiếm cứ Iloilo 2 tháng trước đó.[8] Sau này trong Công ước Viên về Luật Điều ước quốc tế 1969, các điều ước quốc tế cần phải có hiệu lực theo luật quốc tế để bảo để bảo đảm tính hợp pháp, bao gồm những điều ước quốc tế về việc chuyển nhượng, điều này đồng nghĩa với việc các điều ước này không thuộc những trường hợp bị vô hiệu hoá trong công ước.[9] Ngoài ra, chuyển nhượng khác với việc cho thuê lãnh thổ hay còn được hiểu là chuyển nhượng quyền hành chính (administrative cession) của một lãnh thổ.[10] Điển hình của việc chuyển nhượng quyền hành chính là trường hợp Trung Quốc cho Anh thuê toàn bộ Hồng Kông hiện nay theo Hiệp ước về Mở rộng Lãnh thổ Hồng Kông năm 1898 trong vòng 99 năm kể từ ngày 01/07/1898. Trong Tuyên bố chung Anh-Trung về Vấn đề Hồng Kông ngày 19/12/1984, các bên công nhận chủ quyền của Trung Quốc với Hồng Kông và lên tiến trình bàn giao khôi phục việc thực thi chủ quyền của Trung Quốc tại Hồng Kông.[11] Trong khi đó, các hiệp ước chuyển nhượng thường sẽ nêu rõ quốc gia gia này chuyển chủ quyền lãnh thổ sang quốc gia khác. Ví dụ, ngay tại Điều 1 hiệp ước chuyển nhượng tài sản của Nga ở Bắc Mỹ, hiệp ước đã ghi nhận sự đồng ý thành văn của Sa hoàng Nga về chuyển nhượng tài sản ở Bắc Mỹ cho Mỹ: “Sa hoàng Nga đồng ý nhượng cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ toàn bộ lãnh thổ và quyền thống trị hiện đang có theo hiệp ước này, ngay sau khi trao đổi các văn kiện phê chuẩn.” [12] Lịch sử thế giới cũng ghi nhận nhiều trường hợp chuyển nhượng lãnh thổ giữa các quốc gia với nhau thông qua mua bán như Hoa Kỳ mua lại Louisiana từ Pháp,[13]   Anh và Đức đã trao đổi hai vùng Heligoland và Zanzibar.[14] Ngày nay, do tính chất nhạy cảm của chủ quyền lãnh thổ và phản ứng của dư luận, việc chuyển nhượng giữa các quốc gia trở nên hiếm hoi và chủ yếu tại các vùng cận biên liên quan đến thiết lập biên giới như Hoa Kỳ nhượng lại quần đảo Swans cho Honduras năm 1971.[15] Tóm lại, chuyển nhượng là một phương thức thụ đắc mang tính chất hòa bình, dựa trên sự đồng thuận của các quốc gia có chủ quyền, thông qua một hoặc nhiều điều ước quốc tế và tuân thủ luật pháp quốc tế nói chung mặc dù trước Công ước viên 1969, còn tồn tại trường hợp đe doạ sử dụng vũ trang hoặc sử dụng vũ trang để cưỡng ép chuyển nhượng. Thực tiễn quốc tế cho thấy, việc chuyển nhượng không chỉ dừng lại ở chuyển giao chủ quyền, mà còn bao gồm các hình thức chuyển giao quyền hành chính có giới hạn về thời gian, như trường hợp Hồng Kông nói trên. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, do tính nhạy cảm về vấn đề chủ quyền nên các trường hợp chuyển nhượng ngày càng trở nên hiếm hoi, nếu có thì chủ yếu xảy ra ở khu vực biên giới nhằm giải quyết tranh chấp hoặc hoàn thiện đường biên.   2. Thụ đắc lãnh thổ bằng hình thức chiếm hữu (Occupation) Một trong những phương thức thụ đắc lãnh thổ lâu đời trong lịch sử luật quốc tế là chiếm hữu (occupation),[16] xuất phát từ khái niệm occupatio từ thời La Mã cổ đại. Khái niệm này vốn không đề cập trực tiếp về thụ đắc đất đai, lãnh thổ mà liên quan đến việc xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật bị từ bỏ quyền sở hữu hoặc vật của người khác đánh mất nhưng bản thân đã sử dụng trong khoảng thời gian lâu dài, hợp lý.[17] Chiếm hữu là cách thức pháp lý hoà bình xác lập chủ quyền đối với lãnh thổ vô chủ, không thuộc về bất kỳ một ai tại thời điểm thụ đắc  (terra nullius) .[18] Lãnh thổ vô chủ là điều kiện cơ bản cho phép quốc gia xác lập chủ quyền bằng phương thức thụ đắc chiếm hữu.[19] Lãnh thổ vô chủ hay lãnh thổ không thuộc về một ai tại thời điểm thụ đắc có thể là các vùng lãnh thổ và đảo không có người sinh sống,[20] hoặc một số trường hợp khác như quốc gia trước đó từ bỏ chủ quyền.[21] Trước đây, một số học giả phương Tây cho rằng lãnh thổ có cư dân bản địa sinh sống nhưng không được quản lý bởi một nhà nước vẫn có thể được coi là terra nullius ,[22] quan điểm này sau đó bị bác bỏ bởi tòa ICJ trong Ý kiến tư vấn trong Vụ Tây Sahara .[23] Nhận định của Tòa rằng “ Mặc dù các luật gia có những ý kiến khác nhau, thực tiễn chung trong thời điểm đó không công nhận những lãnh thổ có sự sinh sống của bộ tộc hoặc nhóm người có một tổ chức chính trị - xã hội là terra nullius”, [24] đã   phản ánh việc cần có những đòi hỏi chặt chẽ hơn để xác minh lãnh thổ vô chủ. Trên thực tế, thế giới hiện nay gần như không có khu vực nào đủ “trống”[25] hay nằm ngoài chủ quyền một quốc gia nhất định[26] để được công nhận là terra nullius.  Biển cả nằm ngoài phạm vi của phương thức này do là res communis  (dành cho tất cả các quốc gia).[27] Đối với trường hợp lãnh thổ đã từng thuộc chủ quyền của một quốc gia nhưng sau đó bị từ bỏ, cần xét đến hai yếu tố: (i) không có những hành động thực thi chủ quyền trên lãnh thổ đó và (ii) ý định từ bỏ chủ quyền của quốc gia trước đó.[28] Nhằm xác lập chủ quyền lãnh thổ, các quốc gia từng sử dụng cách thức phát hiện hay khám phá (discovery).[29] Nhìn lại lịch sử, cùng với sự phát triển của ngành hàng hải từ thế kỷ XII, các quốc gia Châu Âu đã đặt chân đến những vùng đất mới nhằm mục đích mở rộng lãnh thổ. Khoảng giữa thế kỷ XV đến XVI, các quốc gia có thể thiết lập chủ quyền trên lãnh thổ vô chủ được quốc gia đó phát hiện. Điển hình, Hiệp ước Tordesillas giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1494 đã pháp điển hoá sắc lệnh của Giáo hoàng Alexander VI, cho phép Bồ Đào Nha lập chủ quyền đối với các đảo và đất liền tìm thấy và sẽ tìm thấy ở phía Đông của một đường cách đường nối từ Cực Nam với Cực Bắc thông qua phía Tây đảo Cape Verde 370, các vùng lãnh thổ ở phía Tây đường này thuộc về Tây Ban Nha.[30] Tuy nhiên theo thời gian, cách thức này bộc lộ nhiều hạn chế.[31] Nhiều lập luận cho rằng, cách thức này chỉ tạo ra “danh nghĩa ban đầu” (inchoate title) chứ không thể thiết lập chủ quyền,[32] luật pháp quốc tế đòi hỏi cách thức xác lập chủ quyền thực chất hơn. Thông qua việc để lại bằng chứng mang tính biểu tượng trên các vùng lãnh thổ vô chủ như cắm cờ hay ra tuyên bố quốc tế,[33] cách thức chiếm hữu tượng trưng có nhiều ưu điểm hơn cách thức phát hiện nhưng dễ dẫn đến tranh chấp do nhiều điều kiện như thông tin chưa phát triển lúc bấy giờ.[34] Thế kỷ XIX, những điều kiện mới xuất hiện đã đặt ra yêu cầu cách thức chiếm hữu bằng phát hiện hiện cần song hành với thời gian hợp lý bởi chiếm hữu thực sự (effective occupation).[35] Hai yếu tố cần xét đến để chứng minh sự hữu hiệu của chiếm hữu (occupation) chính là sự chiếm hữu (possession) và sự quản lý hành chính (administration).[36] Nói một cách dễ hiểu, chiếm hữu hữu hiệu được thể hiện thông qua sự chiếm hữu về mặt lãnh thổ và động thái quản lý của chính quyền nhà nước. Sự chiếm hữu (possession) ở đây bao gồm hai điều kiện: (i) chiếm hữu hữu hình (corpus) , có thể được biểu hiện tùy thuộc vào đặc điểm lãnh thổ; và (ii) ý định chiếm hữu lãnh thổ  (animus) , thường được chứng minh thông qua những động thái chính thức thể hiện ý định xác lập chủ quyền đối với lãnh thổ mới được chiếm hữu của quốc gia có yêu sách chủ quyền.[37] Phân tích về chiếm hữu thực sự, James Crawford[38] trích dẫn nhận định của tòa trong Vụ Eastern Greenland (Đan Mạch v. Na Uy) : “Một yêu sách chủ quyền không dựa trên một số hành động cụ thể hay danh nghĩa chủ quyền được thiết lập dựa trên điều ước chuyển nhượng mà chỉ dựa trên việc tiếp tục thể hiện thẩm quyền, bao gồm hai yếu tố mà mỗi yếu tố phải được chứng minh là tồn tại: ý định và ý chí hành động với tư cách chủ quyền, và một số hành động thực tế hoặc sự thể hiện thẩm quyền đó.” [39] Lập luận về chiếm hữu thực sự này sau đó tiếp tục được đề cập tới trong một số vụ việc như Eritrea v. Yemen. [40] Theo đó, ý định của quốc gia trong việc thiết lập chủ quyền đối với lãnh thổ và những động thái trên thực tế là hai điều kiện tối quan trọng để quốc gia thụ đắc lãnh thổ theo cách thức chiếm hữu thực sự. Yếu tố quản lý (administration) đòi hỏi quốc gia chiếm hữu cần có các động thái quản lý tiếp sau khi chiếm hữu lãnh thổ terra nullius để được cấu thành thành chiếm hữu thực sự.[41] Trong Định ước Berlin năm 1885, mặc dù chỉ giới hạn giữa các thành viên tham gia Hội nghị Berlin và lãnh thổ châu Phi, cũng quy định hai điều kiện công nhận tính hợp pháp của hành động chiếm hữu với các vùng lãnh thổ châu Phi là phải thông báo cho các quốc gia tham gia hội nghị và nước chiếm hữu phải duy trì sự hiện diện của nhà nước tại vùng lãnh thổ mới chiếm hữu.[42] Mối tương quan giữa phát hiện và chiếm hữu thực sự có thể được nhìn thấy trong Vụ Đảo Palmas. Trong vụ việc này, Hoa Kỳ cho rằng theo Hiệp ước Paris năm 1898, Tây Ban Nha đã nhượng lại toàn bộ chủ quyền của Tây Ban Nha đối với đảo này dựa trên việc Tây Ban Nha đã phát hiện đảo vào thế kỷ XIV, trong khi Hà Lan khẳng định nước này đã xác lập chủ quyền thông qua việc thực thi chủ quyền trong thời gian dài.[43] Tòa trọng tài nhận định sự phát hiện chỉ tạo ra danh nghĩa ban đầu (inchoate title) , không có những động thái chiếm hữu trên thực tế.[44] Danh nghĩa này chỉ được hoàn thiện đầy đủ với “việc chiếm hữu thực chất khu vực được cho là được phát hiện trong một khoảng thời gian hợp lý (a reasonable period)”.[45] Như vậy Tây Ban Nha đã không thể xác lập chủ quyền đầy đủ đối với đảo Palmas, do đó không thể chuyển nhượng cho Hoa Kỳ nhiều hơn những gì Tây Ban Nha có.[46] Như vậy, chiếm hữu từ lâu đã xuất hiện trong buổi bình minh của luật quốc tế về thụ đắc lãnh thổ và sau này được phát triển và hoàn thiện bởi những đòi hỏi chặt chẽ về chiếm hữu thực sự. Tuy theo thời gian, việc chứng minh tiền đề terra nullius ngày càng khó khăn và phức tạp do sự trái biệt về các học thuyết và tiến bộ công nghệ - kic thuật. Thực tiễn quốc tế cho thấy chính sự khó khăn này dẫn đến việc khó phân biệt rạch ròi giữa cách thức chiếm hữu và chiếm hữu theo thời hiệu. 3. Thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức chiếm hữu theo thời hiệu (Prescription) Chiếm hữu theo thời hiệu là cách thức xác lập chủ quyền lãnh thổ dựa trên các hoạt động thực thi chủ quyền thực chất, hòa bình, liên tục trong một khoảng thời gian hợp lý.[47] Đối tượng của chiếm hữu theo thời hiệu là lãnh thổ được giành từ một quốc gia khác một cách bất hợp pháp, không phải là lãnh thổ vô chủ, hoặc những trường hợp không xác minh được tính hợp pháp của hành vi thụ đắc lãnh thổ.[48] Chiếm hữu theo thời hiệu yêu cầu bên xác lập chủ quyền phải đáp ứng quá trình thụ đắc các yếu tố thực thi chủ quyền phải thực chất, phải hoà bình, không bị các quốc gia khác phản đối[49] dẫn đến sự gián đoạn tiến trình thụ đắc. Paul Fauchille chỉ ra bốn điều kiện để thụ đắc lãnh thổ bằng cách thức chiếm hữu theo thời hiệu trong luật quốc tế như sau: (i) việc chiếm hữu cần phải được thực thi với tư cách chủ quyền  (à titre de souverain) , quốc gia thụ đắc không chỉ cần thực thi chủ quyền mà còn cần không thừa nhận chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào khác tại vùng lãnh thổ được thụ đắc; (ii) sự chiếm hữu cần hòa bình và không bị gián đoạn, hay được hiểu là yêu sách chủ quyền của một quốc gia trên vùng lãnh thổ liên quan không bị thách thức; (iii) chiếm hữu phải công khai; (iv) chiếm hữu phải liên tục (persist).[50][51] Các điều kiện trên nhận được sự đồng tình của nhiều học giả như James Crawford,[52] hay David Johnson.[53] Tòa trọng tài trong Vụ Chamizal (Hoa Kỳ v. Mexico)  cũng sử dụng những điều kiện này để phủ nhận lãnh thổ El Chamizal trong vụ việc được Hoa Kỳ thụ đắc bằng cách thức chiếm hữu theo thời hiệu khi các trọng tài đồng thuận rằng không có gì chắc chắn quá trình chiếm hữu của Mỹ tại khu vực này không bị xáo trộn, gián đoạn và thách thức kể từ ngày ký thỏa thuận thành lập tòa trọng tài.[54] Mặt khác, sự chiếm hữu vật chất của công dân Hoa Kỳ và sự kiểm soát chính quyền của chính quyền địa phương và chính phủ liên bang đã luôn bị thách thức và hoài nghi thông qua các nhà ngoại giao của Mexico.[55] Phản đối ngoại giao hay các hành động hay phát biểu khác có tính chất phản đối đối với tình trạng chiếm hữu hữu hiệu sẽ vô hiệu hóa việc chiếm hữu theo thời hiệu[56] khi gián đoạn quá trình chiếm hữu. Trong một số trường hợp, sự chấp thuận của bên đối lập cũng trở thành một yếu tố quan trọng trong đánh giá yêu sách của một quốc gia dựa trên chiếm hữu theo thời hiệu.[57] Sự chấp thuận ở đây là sự im lặng hoặc không có sự phản đối của các quốc gia trong điều kiện cần thiết phải có những động thái phản đối rõ rệt.[58] Vụ Chamizal nêu trên là một ví dụ điển hình. Yêu cầu về “một khoảng thời gian hợp lý” không phải điều kiện mang yếu tố quyết định mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác và tình tiết vụ việc.[59] Trên thực tế, thời hiệu chỉ đóng vai trò bổ trợ chứng minh sự kiểm soát hiệu quả của một quốc gia đối với vùng lãnh thổ đó.[60] Trong một số vụ việc cụ thể, không dễ để phân biệt cách thức thụ đắc là chiếm hữu theo thời hiệu hay chiếm hữu thực sự do sự ngặt nghèo trong việc chứng minh terra nullius, liệu có hay không vùng lãnh thổ đó thật sự là terra nullius hay từng thuộc chủ quyền một quốc gia “thứ nhất” trước khi quốc gia “thứ hai” đưa ra yêu sách chủ quyền. Chẳng hạn, trong Vụ Đảo Palmas , phán quyết trọng tài không khẳng định liệu hòn đảo có thuộc chủ quyền Tây Ban Nha[1]  trước khi Hà Lan tiến hành kiểm soát hay không.[61] Trong trường hợp từ bỏ chủ quyền lãnh thổ[62] khi cần chứng minh quốc gia ban đầu đã từ bỏ cả về lãnh thổ (corpus) và ý định chiếm hữu lãnh thổ đó (aminus). [63] Tóm lại, cách thức chiếm hữu theo thời hiệu là cách thức thụ đắc lãnh thổ đối với lãnh thổ không phải vô chủ (terra nullius), dựa trên chiếm hữu thực sự, hòa bình, liên tục trong một khoảng thời gian hợp lý. 4. Thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức bồi tụ (Accretion) Bồi tụ (Accretion) là phương thức thụ đắc lãnh thổ thông qua các hiện tượng tự nhiên như bồi đắp phù sa, chuyển dòng chậm rãi của sông, hoạt động núi lửa hoặc do quá trình kiến tạo đất liền làm phát sinh phần lãnh thổ gắn liền với lãnh thổ hiện hữu của một quốc gia.[64] Theo đó, quốc gia có quyền xác lập chủ quyền đối với vùng lãnh thổ mới hình thành này với điều kiện quá trình bồi tụ phải diễn ra một cách khách quan, tự nhiên và từ từ, và không làm phát sinh tranh chấp từ các quốc gia lân cận.[65] Một ví dụ điển hình về việc công nhận lãnh thổ mới do hoạt động của núi lửa là sự công nhận một hòn đảo mới nổi lên trong vùng biển lãnh hải của đảo Iwo Jima thuộc Nhật Bản năm 1986, sự kiện này đã được chính phủ Anh công nhận ngay lập tức là một phần lãnh thổ của Nhật Bản mà không cần các hành động chiếm hữu chính thức nào.[66] Trái ngược với bồi tụ (accretion), thuật ngữ xói mòn hay chuyển dịch đột ngột (avulsion) cũng thường được đề cập đến khi nói về cách thức thụ đắc lãnh thổ này, đặc biệt là các dòng sông biên giới.[67] Sự chuyển dịch tự nhiên của dòng sông, qua thời gian có thể làm thay đổi đường biên giới đã vạch ra trước đó, và đặt ra câu hỏi đường biên giới giữa hai quốc gia có dịch chuyển theo dòng chảy mới không? Câu trả lời phụ thuộc vào cách thức dịch chuyển của dòng sông. Trường hợp dòng sông thay đổi một cách đột ngột, mạnh mẽ và đáng kể (avulsion) thì sẽ không được xem là thay đổi đường biên giới; nói cách khác, đường biên giới sông lúc này không được tính theo dòng nước mà theo phần đất bên dưới.[68] Ngược lại, trường hợp thay đổi của dòng sông là sự tích lũy trầm tích và không dễ nhận thấy, có thể dẫn đến việc mở rộng chủ quyền của quốc gia ven sông.[69] Tính chất từ từ của quá trình bồi tụ dẫn đến sự giả định về chiếm hữu của quốc gia ven sông và sự mặc nhiên chấp nhận của các quốc gia khác; do đó biên giới lúc này được xem là chuyển dịch với sự thay đổi dòng sông.[70] Điều này cũng được áp dụng đối với các hồ biên giới.[71] Ví dụ trong vụ  Nebraska v. lowa,  143 U.S. 359 (1892), Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã xác định biên giới giữa hai bang là dòng sông Missouri vốn có sự thay đổi dòng chảy theo thời gian và là thay đổi đột ngột (avulsion), do đó ranh giới giữa bang Nebraska và bang lowa vẫn được giữ nguyên tại dòng chảy cũ.[72] Tương tự, vụ Chamizal  (Mexico v. Hoa Kỳ) là một ví dụ điển hình cho quá trình bồi tụ liên quan đến sự dịch chuyển dòng chảy tự nhiên của sông Rio Grande. Theo đó, phán quyết trọng tài đã xác định rằng những thay đổi ở Rio Grande trong khoảng thời gian từ năm 1852 đến năm 1864 là kết quả của quá trình xói mòn dần dần và lắng đọng phù sa, trong khi vào năm 1864 là sự thay đổi đột ngột.[73] Do đó đường biên giới sông được giữ nguyên tại trung tâm dòng sông như đã được xác định vào thời điểm trước trận lũ năm 1864, ngược lại sự thay đổi đột ngột trong trận lũ năm 1864 không được xem là cơ sở hợp pháp cho việc thay đổi biên giới.[74] Như vậy phần diện tích đất hình thành trước năm 1864 được xác định là kết quả của quá trình bồi tụ tự nhiên và dần dần, nên được xem là thụ đắc hợp pháp theo nguyên tắc bồi tụ. Tóm lại, trong thực tiễn quốc tế, bồi tụ vừa là kết quả của các quá trình tự nhiên, vừa là cơ sở để quốc gia ven biên xác lập và mở rộng chủ quyền một cách hòa bình. Khác với sự thay đổi đột ngột (avulsion), quá trình bồi tụ chậm rãi, khách quan và liên tục thường dẫn đến sự mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của quốc gia ven sông hoặc vùng lãnh thổ tiếp giáp. Các phán quyết quốc tế như vụ Nebraska v. Iowa  hay Chamizal được nhắc đến ở trên đã làm rõ sự phân biệt giữa hai khái niệm này và khẳng định nguyên tắc: sự dịch chuyển lãnh thổ do bồi tụ có thể làm thay đổi đường biên giới, với điều kiện không có tranh chấp và được các bên mặc nhiên chấp nhận. 5. Thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức sử dụng vũ lực/xâm lược Phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng xâm lược là một khái niệm từng tồn tại trong luật quốc tế, khi các quốc gia sử dụng vũ lực để chiếm đóng và sáp nhập lãnh thổ của một quốc gia khác.[75] Về mặt lịch sử, xâm lược từng được coi là một phương thức hợp pháp để thụ đắc lãnh thổ. Bởi trước thế kỷ XX, luật pháp quốc tế không phân biệt nguyên nhân chính đáng và không chính đáng của các hành vi xâm lược, cũng như không cấm việc sử dụng vũ lực để mở rộng lãnh thổ; do đó, việc chiếm đoạt lãnh thổ bởi các hành vi xâm lược không bị xem là injuria  (hành vi sai trái).[76] Điều này có thể thấy qua lịch sử mở rộng quyền lực của Anh ở Ấn Độ; của chủ quyền Hà Lan tại Đông Ấn; của quyền lực đế quốc Nga ở Bắc và Trung Á; và của sự cai trị của Pháp ở Đông Dương.[77] Tuy nhiên, sự phát triển của luật quốc tế đã nghiêm cấm hành vi xâm lược và coi việc thụ đắc lãnh thổ do sử dụng vũ lực là bất hợp pháp.[78] Quá trình phát triển của nguyên tắc này bắt đầu từ sau Thế chiến I với sự ra đời của Hiệp ước Thành lập Hội Quốc Liên (1919). Trong đó Điều 10 của Hiệp ước nêu rõ: “ Các thành viên của Liên minh cam kết tôn trọng và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị hiện có của tất cả các thành viên của Liên minh trước sự xâm lược từ bên ngoài.” [79] Hiệu quả của điều khoản này là cấm tuyệt đối việc chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực và buộc thành viên của Hiệp ước phải cam kết ngăn chặn mọi hành vi xâm lược khi chúng xảy ra.[80] Tuy nhiên Hiệp ước năm 1919 không hoàn toàn coi tất cả các cuộc chiến tranh xâm lược trở thành bất hợp pháp, do các điều khoản chủ yếu nhằm ngăn chặn chiến tranh bằng cách khuyến khích quốc gia giải quyết tranh chấp bằng các phương thức hòa bình.[81] Tiếp sau Hiệp ước năm 1919, Hiệp ước Kelogg-Briand năm 1928 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc pháp điển hóa nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế, khi hầu hết các cường quốc trên thế giới đều bỏ quyền sử dụng chiến tranh như một công cụ của chính sách quốc gia.[82] Tuy nhiên, chiến tranh vẫn được coi là hợp pháp trong trường hợp tự vệ - một ngoại lệ không được nêu rõ trong văn bản của Hiệp ước nhưng đã được ngầm hiểu trong các cuộc trao đổi ngoại giao trước kí kết.[83] Theo các học giả như McMahon và Brownlie phân tích, việc các quốc gia khác tham gia vào “chiến tranh trừng phạt” để khôi phục hòa bình, có thể đẫn đến sự thay đổi lãnh thổ và được cộng đồng quốc tế công nhận nếu thấy đây là biện pháp cần thiết để ngăn chặn sự tái phát xâm lược trong tương lai.[84] Do đó, Hiệp ước Kelogg-Briand chỉ tăng cường hạn chế đối với hành vi mở rộng lãnh thổ bằng vũ lực, mà không loại bỏ hoàn toàn khả năng thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức này, đặc biệt khi đi kèm với vấn đề trừng phạt kẻ xâm lược và duy trì an ninh tập thể.[85] Với sự phát triển của luật pháp quốc tế sau Thế chiến II, sự ra đời của Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định rõ ràng và dứt khoát Nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực nhằm mở rộng lãnh thổ. Cụ thể Điều 2(4) của Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định tất cả các quốc gia thành viên phải từ bỏ đe dọa vũ lực hoặc sử dụng vũ lực nhằm chống lại toàn vẹn lãnh thổ hoặc nền độc lập chính trị của bất kỳ quốc gia nào.[86] Tương tự, Nghị quyết 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhấn mạnh “sự không thể chấp nhận của việc chiếm lãnh thổ bằng chiến tranh”.[87] Và Tuyên bố Các Nguyên tắc Pháp lý Quốc tế năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc cũng quy định: “ Lãnh thổ của một quốc gia sẽ không phải là đối tượng của việc chiếm đoạt bởi một quốc gia khác thông qua đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Không có sự chiếm đoạt lãnh thổ nào từ việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực sẽ được công nhận là hợp pháp ”.[88] Sau năm 1945, Nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực không chỉ được quy định trong các văn kiện pháp lý mà còn được được củng cố trong thực tiễn thông qua phản ứng của cộng đồng quốc tế và được công nhận là một quy phạm tập quán quốc tế trong phán quyết kinh điển  Vụ Nicaragua v. Mỹ năm 1986.[89] Bên cạnh đó, Nguyên tắc trên liên tục được khẳng định thông qua các trường hợp cụ thể khi một số quốc gia tìm cách chiếm đóng lãnh thổ bằng vũ lực, song đều không được cộng đồng quốc tế công nhận.[90] Một ví dụ điển hình của việc bác bỏ hành vi sử dụng vũ lực là trường hợp Iraq xâm lược Kuwait năm 1990. Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã nhanh chóng lên án hành vi xâm lược và quyết định rằng việc Iraq tuyên bố sáp nhập Kuwait “dưới bất kỳ hình thức nào và với bất kỳ lý do nào đều không có giá trị pháp lý và bị coi là vô hiệu”.[91] Sự kiện này đã tái khẳng định rằng việc chiếm lãnh thổ bằng vũ lực là bất hợp pháp và không thể tạo ra quyền thụ đắc lãnh thổ theo luật quốc tế hiện nay. Như vậy, mặc dù trong lịch sử, xâm lược từng được coi là phương thức hợp pháp để thụ đắc lãnh thổ, song sự phát triển của luật pháp quốc tế hiện đại đã từng bước xóa bỏ tính chính danh của phương thức này. Từ Hiệp ước thành lập Hội Quốc Liên năm 1919, Hiệp ước Kellogg-Briand năm 1928, đến Hiến chương Liên Hợp Quốc năm 1945 và các văn kiện tiếp theo, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực nhằm mở rộng lãnh thổ đã được xác lập một cách rõ ràng, dứt khoát, và được củng cố bằng thực tiễn pháp lý quốc tế. Việc thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực không chỉ bị lên án về mặt pháp lý mà còn không được cộng đồng quốc tế công nhận trong mọi hình thức. Đây là một bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp, cũng như bảo đảm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia trong thời đại hiện nay.   Kết luận:  Trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ vẫn đang diễn ra tại nhiều khu vực trên thế giới, việc hiểu rõ các phương thức thụ đắc lãnh thổ mang ý nghĩa thiết thực trong việc bảo vệ chủ quyền, cũng như thúc đẩy giải quyết tranh chấp một cách hòa bình trên nền tảng pháp lý vững chắc. Trên cơ sở đó, bài viết đã tập trung phân tích năm phương thức thụ đắc lãnh thổ cơ bản trong luật quốc tế: chuyển nhượng, chiếm hữu, chiếm hữu theo thời hiệu, bồi tụ, và xâm lược (đã không còn hợp pháp). Mỗi phương thức được làm rõ thông qua cơ sở pháp lý, điều kiện áp dụng, cũng như các ví dụ minh họa từ án lệ và thực tiễn quốc tế, như  Vụ Đảo Palmas  hay Vụ Chamizal. Qua đó, bài viết giúp người đọc có cái nhìn hệ thống và thực tiễn về cách thức các quốc gia có thể mở rộng hoặc xác lập chủ quyền lãnh thổ trong quan hệ quốc tế, phù hợp với sự phát triển của luật pháp quốc tế hiện đại. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Robert Jennings and Arthur Watts (biên tập), Oppenheim’s International Law, vol 1 (9th edn, Longman 1992) p. 677. Xem thêm James Crawford,  Brownlie’s Principles of Public International Law (8th edn, OUP 2012), p.221. [2] Malcolm N. Shaw, International Law (6th ed., Cambridge University Press, 2008) p.495. Xem thêm O’Connell, Law, p. 405 [3] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law (8th edn, OUP 2012), p.221-222. [4] [5] [6] Malcolm N. Shaw, International Law  (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p. 499. [7] [46] Island of Palmas  (1928) 2 RIAA, p. 829 (1928); 4 AD, p.103. [8]  Ida Robinson Smith Putnam (USA) v United Mexican States 4 RIAA, p.158 (1925); 3 AD, p. 336 [9] Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969, Điều 43 - 53. [10] Oliver Dörr, ‘Cession’ (Oxford Public International Law, August 2019), < https://opil.ouplaw.com/display/10.1093/law:epil/9780199231690/law-9780199231690-e1377?prd=MPIL > truy cập ngày 11/05/2025. [11] Joint declaration of the government of the United Kingdom of Great Britain and Northern Ireland and The Government of The People's Republic of China on the question of Hongkong 1984, Điều 3(1). [12] Hiệp định về Chuyển nhượng của Nga hoàng các tài sản của Nga tại Bắc Mỹ cho Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Điều 1, < http://avalon.law.yale.edu/19th_century/treatywi.asp > truy cập ngày 13/05/2025. [13] Louisiana Purchase Treaty, 1803. [14] Anglo - German Treaty, 1890. [15] Surya Prakash Sharma, Territorial Acquisition, Disputes, and International Law (Martinus Nijhoff Publishers, 1997), p.62. [16] [21] [22] Peter Malanckzuk,  Akehurst’s Modern Introduction to International Law  (7th ed., Routledge, 1997), p.148. [17] Randall Lesaffer, ‘Argument from Roman Law in Current International Law: Occupation and Acquisitive Prescription’, [2005] 16(1) The European Journal of International Law, p.40, < http://www.ejil.org/pdfs/16/1/289.pdf > truy cập ngày 10/05/2025. [18] Western Sahara , Advisory opinion 1975, p.38-39, para. 79 - 83. [19] [39] Legal Status of Eastern Greenland , Judgement, P.C.I.J. 1933 (Series A/B, No. 53). [20] [27] Malcolm N. Shaw, International Law (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p.503. [23] James Crawford, The Creation of States in International Law  (2nd ed., Oxford University Press, 2006), p.259. [24]  Western Sahara , Advisory opinion 1975 p.38-39, para. 80. [25]  “In the modern context, it has fallen into disuse. This is because there remains on the surface of the earth no truly ‘vacant’ territory”  trích từ James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) p.220. [26] [28] [32] Peter Malanckzuk, Akehurst’s Modern Introduction to International Law (7th ed., Routledge, 1997), p.148 - 150. [29] Surya Prakash Sharma, Territorial Acquisition, Disputes, and International Law (Martinus Nijhoff Publishers, 1997), p.40 - 46. [30] Phạm Lan Dung (Chủ biên),  Giáo trình Công pháp Quốc tế , (Nhà xuất bản Thanh niên 2024), tr. 200. [31] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) p.223. [33] [48] Malcolm N. Shaw,  International Law  (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p. 504. [34] Phạm Lan Dung (Chủ biên), Giáo trình Công pháp Quốc tế , (Nhà xuất bản Thanh niên 2024), tr. 200. Xem thêm Trần Thị Thuỳ Dương, Nguyễn Thị Yên (Chủ biên), Giáo trình công pháp quốc tế , quyển 1 (Nhà xuất bản Công an nhân dân), tr. 247. [35] Island of Palmas  (1928) 2 RIAA, p. 829, 846; 4 AD, p. 103, 108. [36] [37] [41] Robert Jennings and Arthur Watts, Oppenheim’s International Law (Oxford University Press, 1996), p. 688 - 689. [38] James Crawford, B rownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012), p.222. [40]  Eritrea v. Yemen  (1998) 114 ILR 1, p.69. [42] General Act of the Berlin Conference on West Africa 1885, Article 34, 35. [43] Island of Palmas (1928) 2 RIAA. [44] [45]  Island of Palmas (1928) 2 RIAA, p. 846. [47] I.A. Shearer (ed.), Starke’s International Law (11th ed., 1994), at 153. [49] Peter Malanckzuk, Akehurst’s Modern Introduction to International Law  (7th ed., Routledge, 1997), p. 150 - 154. [50] Paul Fauchille, Traité de droit international public  (8th ed., 1925), p. 760-761. [51] Fauchille rút những điều kiện này từ Bộ luật Dân sự Pháp. Trích từ Randall Lesaffer, “Argument from Roman Law in Current International Law: Occupation and Acquisitive Prescription”, [2005] 16(1) The European Journal of International Law, p.40. Retrieved from < http://www.ejil.org/pdfs/16/1/289.pdf > truy cập ngày 10/05/2025. [52] James Crawford,  Brownlie’s Principles of Public International Law (8th ed., Oxford University Press 2012) p.231. [53] David Johnson, ‘Acquisitive Prescription in International Law’ [1950] The British Year Book of International Law, p.343. [54] [55] Chamizal  (1911) 11 RIAA 309, p.328. Xem thêm Randall Lesaffer, ‘Argument from Roman Law in Current International Law: Occupation and Acquisitive Prescription’, [2005] 16(1) The European Journal of International Law, p.51, < http://www.ejil.org/pdfs/16/1/289.pdf > truy cập ngày 13/05/2025. [56] Trần Hữu Duy Minh, ‘Luật pháp quốc tế về thụ đắc lãnh thổ’ (Công pháp Quốc tế, 2024) < https://iuscogens-vie.org/2017/09/22/35/#_ftnref8 > truy cập ngày 20/04/2025. [57] I.C. MacGibbon, ‘The Scope of Acquiescence in International Law’, [1954] The British Year Book of International Law, p.154. [58] I.C. MacGibbon, ‘The Scope of Acquiescence in International Law’, [1954] The British Year Book of International Law, p.143 - 186. [61] James Crawford,  Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) p.230. Peter Malanckzuk, Akehurst’s Modern Introduction to International Law (7th ed., Routledge, 1997), p. 150. [59] [60] [62] Malcolm N. Shaw,  International Law (6th ed., Cambridge University Press, 2008), p. 504 - 507. [63] Charles L O Buderi, Luciana T Ricart, ‘Modes of Acquisition and Effective Control of Territory’ [2018] The Iran-UAE Gulf Islands Dispute, p.158. [64] [65] [67] Malcolm N. Shaw, International Law  (6th edn, Cambridge University Press 2008)​ p.498. [66] Geoffrey Marston, ‘United Kingdom Materials on International Law 1986’ (1986) 57 British Yearbook of International Law  487, 563.​ Trích từ James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) 240. [68] [69] [70] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) 240-241. [71] “Đối với các hồ biên giới, nguyên tắc được áp dụng là đường trung tuyến (median line), nhưng như thường lệ, các thỏa thuận rõ ràng hoặc sự mặc nhiên chấp nhận cũng có thể dẫn đến những cách phân chia khác.”  Trích từ James Crawford, (8th edn, Oxford University Press 2012) p.240-241. [72]  Nebraska v. Iowa, 143 U.S. 359 (1892). [73] [74]  Chamizal (1911) 11 RIAA 309, p.316. Đọc thêm tại Ram Prakash Anand, “Accretion” trong Rüdiger Wolfrum, Anne Peters (biên tập), The Max Planck Encyclopedias of Public International Law  (Oxford University Press 2006). [75]  Malcolm N. Shaw, International Law  (6th edn, Cambridge University Press 2008), p.​ 500 - 501. [76] [77] Sharon Korman, The Right of Conquest: The Acquisition of Territory by Force in International Law and Practice  (Oxford University Press 1996), p.12, p.64. [78] James Crawford, Brownlie’s Principles of Public International Law  (8th edn, Oxford University Press 2012) 243. [79]  Covenant of the League of Nations  (1919), Điều 10. [80] [81] [83]  Sharon Korman, The Right of Conquest: The Acquisition of Territory by Force in International Law and Practice  (Oxford University Press 1996), p.180-193. [84] Ibid, p. 193-198. [85] Ibid, p. 197-199. [86]  Hiến chương Liên Hợp Quốc 1 UNTS XVI, Điều 2(4). [87]  Nghị quyết 242 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (ngày 22/11/1967) UN Doc S/RES/242. [88] Tuyên bố về Các Nguyên tắc Pháp lý Quốc tế liên quan đến Quan hệ Hữu nghị và Hợp tác giữa Các Quốc gia UNGA Res 2625 (XXV) (1970). Xem thêm Điều 5(3) của Định nghĩa đồng thuận về xâm lược được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1974. Xem thêm Malcolm N. Shaw, International Law  (6th edn, Cambridge University Press 2008)​ 502.  [89] Military and Paramilitary Activities in and against Nicaragua (Nicaragua v. United States of America). Merits, Judgment. I.C.J. Reports 1986, p. 14 [90]  Xem Vụ Israel sáp nhập Đông Jerusalem (1967) và Cao nguyên Golan (1981). Xem thêm trong Vụ chiến tranh Falklands (1982); Trường hợp Ấn Độ sáp nhập Goa (1961), Indonesia sáp nhập Đông Timor (1976). [91] Nghị quyết 662 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc UN Doc S/RES/662 (1990). Xem thêm Sharon Korman, The Right of Conquest: The Acquisition of Territory by Force in International Law and Practice  (Oxford University Press 1996), p. 292-301.

  • [74] TỔNG QUAN VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

    Tác giả: Nguyễn Hoàng Trang, Phùng Đăng Khôi Dẫn nhập: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiện nay, các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ thương mại quốc tế nói riêng ngày càng phổ biến. Theo đó, các tranh chấp thương mại quốc tế phát sinh được giải quyết ngày càng gia tăng. Trọng tài thương mại quốc tế ("TTTMQT")  - một phương thức giải quyết tranh chấp ("GQTC")  trao cho các bên nhiều quyền định đoạt các vấn đề trong quá trình giải quyết tranh chấp, đã trở thành một trong những phương pháp chủ yếu nhằm giải quyết xung đột giữa các chủ thể tới từ nhiều quốc gia. Từ khoá: trọng tài thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp. 1. Giới thiệu 1.1. Một số khái niệm căn bản liên quan đến TTTMQT Từ điển Black’s Law định nghĩa trọng tài ( arbitration ) là: “Một phương pháp giải quyết tranh chấp có sự tham gia của một hoặc nhiều bên thứ ba trung gian, được chấp thuận bởi các bên trong tranh chấp và có quyền năng đưa ra quyết định có tính ràng buộc.”[1] Tác giả Jan Paulsson có quan điểm như sau: “Tư tưởng cốt lõi về trọng tài là việc giải quyết tranh chấp có giá trị ràng buộc mà các bên chấp nhận, bởi họ đã dành sự tín nhiệm đặc biệt đối với những người được lựa chọn làm trọng tài viên.”[2] Nói cách khác, trọng tài là một thủ tục hoặc phương pháp GQTC mà tại đó các bên trong tranh chấp, là cá nhân hoặc pháp nhân, cùng đồng thuận thông qua thỏa thuận trọng tài ( agreement to arbitrate ) để chọn ra các trọng tài viên trung lập, độc lập và vô tư mà họ tin tưởng. Theo đó, các bên trao cho trọng tài viên quyền lực GQTC và đưa ra phán quyết trọng tài ( award ) có tính ràng buộc và hiệu lực thi hành. Về tính chất quốc tế , trọng tài là trọng tài quốc tế nếu (i) Các bên trong tranh chấp có trụ sở kinh doanh tại các quốc gia khác nhau; hoặc (ii) Có bất kỳ địa điểm nào mà tại đó một phần đáng kể nghĩa vụ của quan hệ thương mại được thực hiện hoặc địa điểm có mối liên hệ chặt chẽ nhất với đối tượng của tranh chấp nằm ở quốc gia khác so với quốc gia mà các bên cùng có trụ sở kinh doanh; hoặc (iii) Các bên đã thỏa thuận rõ ràng rằng đối tượng của thỏa thuận trọng tài có liên quan đến hơn một quốc gia.[3] Theo quy định của pháp luật trọng tài Việt Nam, trọng tài nước ngoài là trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành GQTC ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam.[4] Như vậy, hướng quy định này dẫn đến hệ quả rằng một tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài với đầy đủ các yếu tố của trọng tài quốc tế theo quan điểm của Luật mẫu vẫn được xem là phán quyết trọng tài trong nước tại Việt Nam, và ngược lại. Xuất phát từ tính chất quốc tế, TTTMQT không đơn thuần GQTC bằng một nguồn luật duy nhất, mà cần thiết phải có sự tham gia điều chỉnh của ít nhất bốn nguồn luật khác nhau.[5] Cụ thể là các nguồn luật điều chỉnh (i) hiệu lực của thoả thuận trọng tài; (ii) thủ tục tố tụng trọng tài; (iii) nội dung tranh chấp; (iv) công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài. Theo quy định của Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài, phán quyết trọng tài nước ngoài là phán quyết được tuyên trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi việc công nhận và thi hành phán quyết đó được yêu cầu .[6] Trong khi đó, pháp luật trọng tài thương mại Việt Nam quy định theo hướng phán quyết trọng tài nước ngoài là phán quyết được tuyên bởi trọng tài nước ngoài, bất kể địa điểm ra phán quyết là ở trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam.[7] Về  tính chất thương mại , cụm từ “thương mại” trong TTTMQT từng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm nhưng không giới hạn trong các giao dịch về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá, dịch vụ; đầu tư; thỏa thuận khai thác.[8] Tuy nhiên, hiện này trọng tài đầu tư quốc tế là một lĩnh vực nghiên cứu độc lập bên cạnh trọng tài thương mại quốc tế[9] do trọng tài đầu tư đang trở thành cơ chế GQTC quan trọng giữa nhà đầu tư và nhà nước tiếp nhận đầu tư. 1.2. Lịch sử phát triển của TTTMQT Trọng tài đã xuất hiện rất lâu trước đây, trước cả khi mà pháp luật được quy định, toà án được hình thành.[10] Hình hài nguyên thuỷ của TTTMQT là khi hai thương nhân có tranh chấp cùng tìm tới một bên thứ ba mà họ tin tưởng nhằm tháo gỡ khúc mắc và đồng ý thực hiện theo quyết định của người thứ ba trung gian kia vì đó là thông lệ của giới thương nhân.[[11] Theo đó, GQTC bằng con đường trong tài còn được xem là một hệ thống công lý được sinh ra bởi các thương nhân.[12] TTTMQT dần trở nên phổ biến hơn vào cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX,[13] đặc biệt là ở Châu Âu cùng với xu thế phát triển nhanh của thương mại quốc tế và sự xuất hiện của các trung tâm trọng tài.[14] Pháp luật về TTTMQT cũng dần dần được hình thành chặt chẽ hơn với sự ra đời của các điều ước quốc tế quan trọng, đã hình thành nên khung pháp lý cho pháp luật quốc tế về trọng tài thương mại quốc tế.[15] Bên cạnh đó, tới nay, Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc tế (“UNCITRAL”) đã thành công xây dựng nhiều công cụ nhằm hài hòa hóa pháp luật thương mại quốc tế.[16] TTTMQT đã trở thành một phương thức GQTC phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn cầu. 1.3. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc (ad hoc) và trọng tài quy chế Trước khi tranh chấp được tiến hành giải quyết, trước tiên các bên cần phải lựa chọn GQTC theo hình thức trọng tài vụ việc hay trọng tài quy chế. Về  trọng tài vụ việc (ad hoc) , các bên trong tranh chấp được phép phối hợp, tự thỏa thuận về bất cứ quy tắc tố tụng trọng tài và trọng tài viên nào phù hợp nhất với lợi ích của các bên và do đó không bị ràng buộc bởi quy tắc của bất cứ trung tâm trọng tài nào. Do đó, thỏa thuận quy tắc tố tụng trọng tài ad hoc  giống như mặc một bộ suit may đo sẽ vừa vặn hơn so với một bộ suit may sẵn.[17] Về trọng tài quy chế , các bên thỏa thuận đưa tranh chấp của mình giải quyết tại một trung tâm trọng tài. Theo đó, trung tâm trọng tài sẽ cung cấp “dịch vụ trọng tài” và đảm bảo tranh chấp được giải quyết đúng thời trình tự và thủ tục.[18] Ưu điểm của hình thức này đó là mỗi trung tâm trọng tài quy chế thường có quy tắc trọng tài riêng của trung tâm và danh sách các trọng tài viên uy tín nên các bên trong tranh chấp không cần phải tự mình lựa chọn, giúp đỡ tốn kém thời gian. Bên cạnh đó, nếu quá trình GQTC bị cản trở bởi những vấn đề tư cách của trọng tài viên thì quy tắc tố tụng của trung tâm có thể trực tiếp giải quyết vấn đề này.[19] 2. Thỏa thuận trọng tài Việc GQTC bằng Tòa án luôn bị ràng buộc bởi quy tắc tố tụng dân sự chặt chẽ do Nhà nước ban hành.[20] Trong khi đó, các bên chỉ có thể đưa một tranh chấp vào quá trình tố tụng trọng tài khi và chỉ khi đã tồn tại một thỏa thuận trọng tài (“TTTT”) .[21] Một cách ngắn gọn, trọng tài chỉ có thẩm quyền khi các bên đã có TTTT - một thỏa thuận ghi nhận sự đồng ý của các bên như một trong số các hình thức để GQTC hoặc đồng ý chọn trọng tài để GQTC.[22] 2.1. Thời điểm xác lập thỏa thuận trọng tài TTTT có thể được xác lập trước khi tranh chấp phát sinh hoặc sau khi khi tranh chấp đã phát sinh.[23] Đối với thỏa thuận xác lập trước khi tranh chấp phát sinh, đây thông thường là một điều khoản arbitration clause  nằm trong một hợp đồng chính, thông thường rất ngắn gọn, bên cạnh sự lựa chọn về pháp luật điều chỉnh nội dung hợp đồng hay nơi GQTC.[24] Điều khoản trọng tài độc lập đối với hợp đồng chính[25]. Giả sử hợp đồng chính vô hiệu, thì điều khoản trọng tài vẫn có hiệu lực.[26] Thông thường, các trung tâm trọng tài sẽ công khai một điều khoản trọng tài mẫu mang tính chất tham khảo cho các bên. Ví dụ, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam ("VIAC") có điều khoản mẫu như sau: “Mọi tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng này sẽ được giải quyết bằng trọng tài tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) theo Quy tắc tố tụng trọng tài của Trung tâm này.”. [27] Trong điều khoản này,   các bên có thể thỏa thuận thêm về số lượng trọng tài viên (01 hoặc 03) và địa điểm GQTC. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên có thể thỏa thuận bổ sung về luật áp dụng cho hợp đồng và ngôn ngữ GQTC.[28] Đối với thỏa thuận xác lập sau khi tranh chấp phát sinh, TTTT submission agreement  đáp ứng tình hình tranh chấp thực tế. Thỏa thuận này thông thường chỉ rõ nơi GQTC, luật nội dung, chỉ định trọng tài viên, xác định vấn đề tranh chấp, và thậm chí là các vấn đề thủ tục khác.[29] 2.2. Hình thức của thỏa thuận trọng tài Hầu như các điều ước quốc tế liên quan đến trọng tài quốc tế đều quy định về việc hình thức của TTTT ở dạng văn bản. Trong đó, Công ước New York quy định TTTT là văn bản khi thỏa thuận đó là (i) hợp đồng, thỏa thuận trực tiếp được ký kết giữa các bên hoặc (ii) chứa đựng trong các thư tín là văn bản.[30] Tuy nhiên, quy định của Luật Mẫu không yêu cầu các bên phải trực tiếp ký kết vào TTTT.[31] Thay vào đó, Luật Mẫu công nhận một TTTT có hình thức văn bản khi (i) TTTT được ghi nhận dưới bất kỳ hình thức nào miễn là nội dung thỏa thuận được ghi chép lại, (ii) TTTT phải được lập thành văn bản thông qua phương thức liên lạc điện tử nếu thông tin chứa trong đó có thể truy cập nhằm phục vụ mục đích xác định thỏa thuận, (iii) TTTT được lập thông qua trao đổi yêu cầu khởi kiện và biện hộ trong đó sự tồn tại của một thỏa thuận được một bên đưa ra và không bị bên kia phủ nhận, và (v) hợp đồng viện dẫn đến tài liệu chứa đựng TTTT dưới dạng văn bản.[32] 2.3. Pháp luật điều chỉnh thỏa thuận trọng tài Pháp luật điều chỉnh TTTT sẽ điều chỉnh các vấn đề thiết lập TTTT, điều kiện có hiệu lực, khả năng thực thi của TTTT, và chấm dứt của TTTT.[33]  Vì thế, thông thường, vấn đề xác định luật điều chỉnh được đặt ra khi có một trong các bên của tranh chấp phản đối thẩm quyền trọng tài. Chiếu theo nguyên tắc compétence de la compétence , chính hội đồng trọng tài sẽ phải xác định luật áp dụng đối với TTTT để xem xét liệu hội đồng trọng tài có thẩm quyền GQTC.[34] Mặc dù không trực tiếp đề cập vấn đề TTTT, tuy nhiên Công ước New York quy định về trường hợp có yêu cầu hủy phán quyết trọng tài trước tòa án quốc gia với lý do TTTT vô hiệu. Theo đó, hiệu lực của thỏa thuận sẽ được xem xét theo luật mà các bên lựa chọn, nếu các bên không lựa chọn thì theo luật của quốc gia nơi phán quyết được đưa ra[35], hay là luật của seat of arbitration  - nơi mà tố tụng trọng tài được coi là diễn ra về mặt pháp lý , bất kể vị trí địa lý của trọng tài và/hoặc bất kỳ phiên điều trần nào.[36] Thông thường, đối với TTTT tồn tại dưới dạng một điều khoản của một hợp đồng, thì cũng có thể suy rằng pháp luật áp dụng đối với hợp đồng chính cũng chính là pháp luật áp dụng đối với TTTT.[37] Tuy nhiên, như đã đề cập ở bên trên thì TTTT độc lập với hợp đồng chính, do đó, pháp luật điều chỉnh TTTT hoàn toàn có thể khác pháp luật điều chỉnh hợp đồng chính.[38] Cụ thể, theo quy định của Luật Trọng tài Anh sửa đổi năm 2025, luật áp dụng cho TTTT sẽ là luật các bên đồng ý áp dụng cho TTTT. Nếu các bên không thể hiện rõ ràng sự lựa chọn pháp luật áp dụng cho TTTT, thì luật nơi diễn ra trọng tài ( seat of arbitration ) được áp dụng. 3. Tố tụng trọng tài thương mại quốc tế Khác với tố tụng tại Tòa án vốn tuân theo những quy định chặt chẽ của pháp luật tố tụng dân sự, quy tắc tố tụng trọng tài có một sự linh hoạt nhất định - các bên trong tranh chấp có thể tự do thỏa thuận trong vấn đề tố tụng trọng tài.[39] Quyền tự định đoạt của các bên ( party autonomy ) đã được ghi nhận trong Công ước New York " thành phần của cơ quan trọng tài hoặc thủ tục trọng tài không phù hợp với thỏa thuận của các bên" [40] và Luật Mẫu   " các bên được tự do thỏa thuận về thủ tục mà tòa trọng tài phải tuân theo khi tiến hành tố tụng" [41]. Tuy vậy, quyền tự do định đoạt của các bên vẫn phải nằm trong khuôn khổ pháp luật của seat of arbitration [42], quy tắc trọng tài quy chế các bên đã lựa chọn,[43] và nguyên tắc đối xử bình đẳng và quyền được lắng nghe và trình bày về vụ kiện.[44] Các bước thường thấy của quá trình tố tụng trọng tài thương mại quốc tế bao gồm: (i) Nộp đơn khởi kiện, trả lời đơn khởi kiện; (ii) Chỉ định trọng tài viên; (iii) Cuộc họp sơ bộ giữa Hội đồng Trọng tài và các bên; (iv) Trao đổi văn bản đệ trình; (v) Phiên điều trần; và (vi) Hội đồng Trọng tài thảo luận và ra phán quyết.[45] 3.1. Nộp đơn khởi kiện, trả lời đơn khởi kiện và phản tố Quá trình tố tụng trọng tài bắt đầu vào thời điểm nguyên đơn gửi đơn khởi kiện đến đến tổ chức trọng tài ( request for arbitration )[46], hoặc vào thời điểm bị đơn nhận được và phản hồi thông báo.[47] Ví dụ, theo quy định Phòng Thương mại Quốc tế ("ICC"), và một số cơ quan trọng tài quy chế như Tòa Trọng tài Quốc tế London ("LCIA"), Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore ("SIAC"), và VIAC, quy trình tố tụng trọng tài được xem là bắt đầu vào ngày cơ quan nhận được thông báo trọng tài của nguyên đơn.[48] Trong khi đó, Quy tắc trọng tài UNCITRAL quy định quá trình tố tụng trọng tài bắt đầu vào ngày bị đơn nhận được đơn khởi kiện.[49] Sau khi nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có nghĩa vụ trả lời đơn khởi kiện ( Answer to the Request for Arbitration hoặc Statement of Defence)  và có quyền phản tố (kiện ngược lại) nguyên đơn trong thời hạn do các bên thỏa thuận hoặc theo quy định của trọng tài quy chế.[50] Nhiều trung tâm trọng tài quy chế đều yêu cầu bị đơn phản tố nguyên đơn trong khi trả lời đơn khởi kiện của nguyên đơn,[51] tuy nhiên, cũng có trường hợp yêu cầu bản khởi kiện ngược được nộp cùng lúc và độc lập với bản trả lời đơn khởi kiện.[52] 3.2. Thành lập hội đồng trọng tài Số lượng trọng tài viên thông thường là một hoặc ba người.[53] Phương thức lựa chọn trọng tài viên có thể dựa theo thỏa thuận của các bên hoặc dựa theo quy định của tổ chức trọng tài. Khi các bên trong tranh chấp lựa chọn thành lập Hội đồng Trọng tài (“HĐTT”) có ba trọng tài viên, phương thức lựa chọn phổ biến nhất là mỗi bên trong tranh chấp lựa chọn một trọng tài viên, và hai trọng tài viên đó sẽ lựa chọn một trọng tài viên thứ ba để trở thành Chủ tịch Hội đồng trọng tài.[54] Trọng tài viên có nghĩa vụ phải độc lập, vô tư, khách quan.[55] Nghĩa vụ vô tư, khách quan được hiểu là trọng tài viên không thiên vị với bất kỳ quan điểm nào về vấn đề đang giải quyết hay bất kỳ bên nào vì bất kỳ lý do gì.[56] Độc lập có nghĩa là trọng tài viên mô tả việc trọng tài viên không có mối liên hệ với bất kỳ bên nào trong tranh chấp, luật sư của các bên hoặc trọng tài viên khác.[57] 3.3. Họp sơ bộ (preliminary meetings) Khi trọng tài viên đã được chỉ định, cuộc họp sơ bộ sẽ được tổ chức bởi hội đồng để đảm bảo rằng HĐTT và các bên có một cách hiểu thống nhất về các vấn đề liên quan.[58] Tại phiên họp sơ bộ, bất kể là trọng tài quy chế hay vụ việc, thường giải quyết những vấn đề sơ bộ như: ghi nhận sự phản đối thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; về cấu trúc, độ dài của văn bản sẽ trao đổi; cung cấp tài liệu; các vấn đề liên quan đến nhân chứng; về thời gian và địa điểm của buổi thảo luận trước phiên điều trần và phiên họp đánh giá chứng cứ, và các vấn đề mang tính thủ tục khác như vai trò của Quy tắc IBA về việc thu thập chứng cứ, thẩm quyền của Chủ tịch HĐTT trong việc tự mình ra các chỉ thị về thủ tục, việc chỉ định thư ký trọng tài.[59] 3.4. Trao đổi văn bản đệ trình Văn bản đệ trình ( written submissions ) là các văn bản được nộp tuần tự hoặc cùng lúc với nhau bởi nguyên đơn và bị đơn lên HĐTT trước khi phiên họp GQTC ra và thông thường là  Bản trình bày yêu cầu khởi kiện ( statement of claims/statement of defence ) bao gồm đầy đủ lập luận của phía nguyên đơn hoặc bị đơn về các vấn đề pháp lý, đính kèm theo chứng cứ dạng văn bản, lời khai nhân chứng và ý kiến chuyên gia liên quan.[60] Nội dung và độ dài của nội dung mà các bên phải bao gồm trong văn bản đệ trình là do trọng tài viên hướng dẫn cụ thể và linh hoạt theo từng vụ việc.[61] Thời hạn nộp văn bản đệ trình được ấn định bởi trọng tài viên, có thể dài hoặc ngắn tùy thuộc vào mức độ phức tạp tranh chấp.[62] Đối với một số vụ việc với tính phức tạp cao, văn bản đệ trình sau phiên điều trần ( post-hearing written submissions ) được chấp nhận để các bên bình luận về các chứng cứ hoặc tóm tắt tổng quan các luận điểm được đưa ra trong phiên điều trần.[63] 3.5. Phiên họp giải quyết tranh chấp Phiên họp GQTC ( hearing ) là cuộc họp kín giữa các trọng tài viên và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong tranh chấp một cách trực tiếp hoặc bằng hình thức tele-conference, video-conference hoặc hình thức khác[64] nhằm thực hiện tranh luận, thẩm vấn giữa các bên, được thực hiện sau khi đã hoàn tất quá trình nộp văn bản đệ trình, tài liệu chứng cứ, lời khai nhân chứng.[65] HĐTT phải tổ chức phiên họp GQTC tại thời điểm thích hợp trong quá trình tố tụng trọng tài, trừ trường hợp các bên tranh chấp thống nhất sẽ không tổ chức phiên điều trần.[66] Trên thực tế, rất hiếm có trường hợp HĐTT giải quyết tranh chỉ dựa trên nội dung văn bản đệ trình của các bên, do bởi phiên họp GQTC là cơ hội để các bên trong tranh chấp trực tiếp tranh luận, cũng như HĐTT có thể làm rõ những vấn đề còn hoang mang trong văn bản đệ trình.[67]. Trình tự của thông thường của một phiên họp GQTC bao gồm: (i) Trình bày khai mạc ( opening statements ); (ii) phiên họp với nhân chứng sự việc ( hearing of witnesses of fact ); (iii) phiên họp với nhân chứng chuyên gia ( hearing of expert witnesses ); (iv) Trình bày bế mạc ( closing statements ) mà trong đó, hoạt động thẩm tra nhân chứng có vai trò trung tâm.[68] [69] 3.6. Chấm dứt quá trình tố tụng Khi phiên họp GQTC kết thúc, HĐTT bước vào giai đoạn nghị án ( deliberation ) nhằm đưa ra phán quyết trọng tài cuối cùng, giải quyết mọi vấn đề pháp lý trong tranh chấp của các bên. Theo đó, quá trình tố tụng trọng tài kết thúc khi phán quyết cuối cùng được đưa ra[70] và chỉ tiếp tục trong trường hợp phán quyết trọng tài có nhu cầu được sửa đổi hoặc giải thích.[71] Ngoài ra, Luật mẫu về TTTMQT cũng quy định tố tụng trọng tài cũng có thể kết thúc trong một số trường hợp sau:[72] (i) Nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện hoặc yêu cầu khởi kiện bị đình chỉ, mà không bị phản đối bởi bị đơn; (ii) Các bên trong tranh chấp đồng ý rút yêu cầu khởi kiện hoặc đình chỉ giải quyết vụ việc; (iii) HĐTT thấy rằng việc tiếp tục tố tụng là không cần thiết hoặc bất khả thi. Tố tụng trọng tài kết thúc đồng nghĩa rằng nghĩa vụ GQTC của HĐTT đã chấm dứt.[73] 4. Phán quyết trọng tài thương mại quốc tế Hiện nay, định nghĩa về phán quyết trọng tài chưa nêu rõ trong các văn bản pháp lý quốc tế[74] tuy nhiên, phán quyết trọng tài thông thường được hiểu là những phán quyết chung thẩm (final award) của HĐTT mà giải quyết toàn bộ các vấn đề trước đó được các bên đệ trình.[75] Trên thực tế, “phán quyết trọng tài” cũng được sử dụng để đề cập tới những phán quyết từng phần (partial award), là bất kỳ quyết định nào của HĐTT, có tính chất chung thẩm nhưng chỉ kết thúc giải quyết một số vấn đề cụ thể về nội dung, thẩm quyền hoặc bất kỳ vấn đề tố tụng nào khác.[76] Phán quyết từng phần được HĐTT đưa ra để giải quyết nhanh gọn những vấn đề phát sinh trong quá trình tố tụng mà không cần phải chờ tới khi kết thúc tố tụng trọng tài, chẳng hạn như vấn đề về thẩm quyền của HĐTT hay biện pháp khẩn cấp tạm thời.[77] Tuy nhiên cần lưu ý rằng, chỉ có phán quyết chung thẩm mới là đối tượng để công nhận và cho thi hành.[78] Nhìn chung, phán quyết trọng tài có hai đặc điểm chính là chung thẩm và ràng buộc. Theo đó, các bên tự nguyện ràng buộc bản thân với phán quyết thông qua TTTT và phán quyết đưa ra là chung thẩm, hay nói cách khác là không thể kháng cáo, buộc các bên phải thực hiện nội dung phán quyết kể từ ngày có hiệu lực.[79] Sau khi tố tụng trọng tài kết thúc, bên thắng kiện tiến hành giai đoạn yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài tại tòa án quốc gia nơi có tài sản của bên thua kiện. Yêu cầu công nhận và yêu cầu thi hành thường song hành nhưng là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau và cũng đưa đến hệ quả pháp lý khác nhau. Cụ thể, công nhận phán quyết đơn thuần là việc toà án quốc gia công nhận hiệu lực và khả năng ràng buộc của phán quyết trọng tài thì thi hành phán quyết. Trong khi đó, thi hành phán quyết là quá trình mà tại đó việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền cưỡng chế sử dụng các biện pháp thi hành án trong pháp luật quốc gia, buộc bên thua kiện thực hiện nghĩa vụ trong phán quyết trọng tài.[80] Hiện nay, thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài quốc tế phần lớn được thực hiện thông qua Công ước New York 1958 đã được 172 quốc gia thông qua,[81] và các tinh thần quy định của Công ước New York đã được thể hiện trong Phần thứ Bảy của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 của Việt Nam, trong đó bao gồm các quy định và công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài.[82] Theo đó, các quốc gia ký kết Công ước có nghĩa vụ công nhận giá trị ràng buộc và khả năng thi hành của các phán quyết trọng tài tuân thủ nguyên tắc pháp luật tố tụng của quốc gia đó và nguyên tắc được đề ra trong Công ước.[83] Điều kiện cho việc công nhận, cho thi hành phán quyết trọng tài theo pháp luật sở tại không được nghiêm ngặt hơn điều kiện quy định trong Công ước[84] và chỉ thực hiện từ chối không công nhận trong một số trường hợp nhất định như TTTT vô hiệu hay phán quyết trọng tài vi phạm trật tự công cộng.[85] Ngoài ra, yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại các quốc gia không phải là thành viên Công ước New York có thể được thực hiện trên cơ sở có đi có lại. 5. Kết luận Trọng tài thương mại quốc tế là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế được các bên tin tưởng lựa chọn bởi tính chất tôn trọng thỏa thuận của các bên, linh hoạt và phán quyết có giá trị ràng buộc. Với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại toàn cầu, trọng tài đã trở thành cơ chế giải quyết tranh chấp phổ biến, được xây dựng trên nền tảng các điều ước quốc tế quan trọng và sự hài hòa hóa pháp luật do UNCITRAL thúc đẩy. Các bên có thể tự định đoạt và thỏa thuận từ việc lựa chọn trọng tài thông qua thỏa thuận trọng tài, cho đến việc quyết định quá trình tố tụng, song vẫn phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của pháp luật. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Black’s Law Dictionary  (8th edition, Thomas West 2004) p.112. [2] Jan Paulsson, The Idea of Arbitration , (Oxford University Press 2013), p.1. [3] UNCITRAL Model Law on International Commercial Arbitration, 1985, Art.  1(3). [4] Luật Trọng tài thương mại 2010, khoản 11 Điều 3. [5] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para. 1.08. [6] Công ước New York, Điều I(1) [7] Luật Trọng tài thương mại năm 2010, khoản 12 Điều 3. [8] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para 1.38. [9] Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para. 1.5. [10] Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para. 1.7. [11] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) para 1.13 [12] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para 1.15. [13] Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para. 1.16. [14] Ví dụ một số trung tâm trọng tài hàng đầu: Tòa trọng tài Quốc tế London (LCIA), Tòa trọng tài thường trực (PCA) hay Tòa Trọng tài Quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC). [15] Nghị định thư Geneva 1923 về Điều khoản trọng tài, Công ước Geneva 1927 về Thi hành quyết định của trọng tài nước ngoài, Công ước New York 1958 về Công nhận và thi hành quyết định trọng tài nước ngoài. [16] Luật Mẫu UNCITRAL về thương mại quốc tế và Quy tắc Trọng tài UNCITRAL [17] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para 1.143. [18] Margaret L. Moses, The Principles and Practice of International Commercial Arbitration  (2nd edition, Cambridge University Press 2012), p.9. [19] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para 1.150. [20] TS. Bùi Thị Thu, 'Chọn luật áp dụng tại Tòa án và trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài - Một số khác biệt cơ bản' ( Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử , ngày 13 tháng 7 năm 2022), < https://tapchitoaan.vn/chon-luat-ap-dung-tai-toa-an-va-trong-tai-trong-giai-quyet-tranh-chap-thuong-mai-co-yeu-to-nuoc-ngoai-mot-so-khac-biet-co-ban6736.html >, truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025. [21] Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, ‘Đặc san tuyên truyền pháp luật số 07/2013 - Chủ đề Trọng tài thương mại và pháp luật về trọng tài thương mại’ < https://thuvienso.net/upload/library/359284/preview/dac-san-tuyen-truyen-phap-luat-so-07-2013-359284.pdf > truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2024. [22] GS.TS. Đỗ Văn Đại, Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2022) Đoạn 118 [23] GS.TS. Đỗ Văn Đại, Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2022) Đoạn 117 [24] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 2.02, 2.03, 2.04 [25] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 16.1; Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010, Điều 19; Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, Điều 1447; Luật Trọng tài Anh năm 1996, Điều 6; Luật Trọng tài Singapore năm 2001, Điều 21(1). [26] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 2.101. [27] 'Điều khoản trọng tài mẫu' (VIAC), < https://www.viac.vn/dieu-khoan-trong-tai-mau.html >, truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025. [28] 'Điều khoản trọng tài mẫu' (VIAC), < https://www.viac.vn/dieu-khoan-trong-tai-mau.html >, truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2025. [29] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 2.03. [30] Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài Điều II(1) [31] Ghi chú giải thích của Ban Thư ký UNCITRAL về Luật Mẫu năm 1985 về trọng tài thương mại quốc tế sửa đổi năm 2006, Đoạn 19. [32] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL, Điều 7. [33] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật trọng tài thương mại (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2021) Trang 9. [34] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 16(1). [35] Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài Điều V(I)(a). [36] 'Seat of arbitration definition' (LexisNexis), < https://www.lexisnexis.co.uk/legal/glossary/seat-of-arbitration >, truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2025. [37] Lew, ‘The law applicable to the form and substance of the arbitration clause’ (1999) 9 ICCA Congress Series 114. [38] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 3.09. [39] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 6.01 [40] Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài Điều V(1)(d) [41] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 19.1 [42] Đã giải thích ở Phần 2.3. [43] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật trọng tài thương mại (Nhà xuất bản Hồng Đức, 2021) Trang 91. [44] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 18. [45] Asia-Pacific, 322 [46] Asia-Pacific, 323 [47] Margaret L. Moses, The Principles and Practice of International Commercial Arbitration  (2nd edition, Cambridge University Press 2012), p.158. [48] ICC Rule, Art. 4(2); LCIA Arbitration Rules 2020, Art 1.1; SIAC Rules 2025, Art. 6.2; VIAC Rules, Điều 5 [49] Quy tắc trọng tài UNCITRAL, Điều 3(2). [50] ICC Rule, Art. 5(1); LCIA Arbitration Rules 2020, Art 2.1; SIAC Rules 2025, Art. 7.1; VIAC Rules, Điều 9 [51] ICC Rule, Art. 5(1)(5); LCIA Arbitration Rules 2020, Art 2.1.iii; SIAC Rules 2025, Art. 7.1.e. [52] VIAC Rules, Điều 10. [53] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 4.24 [54] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 4.40. [55] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 12; Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010, khoản 2 Điều 4; Bộ luật Tố tụng dân sự Pháp, Điều 1456; Luật Trọng tài Anh năm 1996, Điều 33(1)(a); Luật Trọng tài Singapore năm 2001, Điều 14. [56] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 4.80. [57]   Lack of Independence and Impartiality of Arbitrators [58] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) para 6.41. [59] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) para 6.47. [60]  Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) Đoạn 6.72. [61]  Margaret L. Moses, The Principles and Practice of International Commercial Arbitration  (2nd edition, Cambridge University Press 2012), p. 166 - 167. [62] Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para. 7.69.  [63]  Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para. 7.70. [64]   Quy tắc IBA về thu thập chứng cứ, Definitions . [65]  Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para. 7.161- 7.162. [66] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 24(1). [67] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015) para 6.156. [68] Gary Born, International Arbitration: Law and Practice , (2nd edition, Wolters Kluwer 2015), p. 174. [69] Hoạt động thẩm tra trong phiên họp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế gồm ba giai đoạn. Đầu tiên, nhân chứng được thẩm tra trực tiếp ( direct examination ) bởi luật sư đại diện của cùng bên nhân chứng đó đại diện, sau đó được thẩm tra chéo ( cross examination ) bởi luật sư bên còn lại và cuối cùng tái thẩm tra ( redirect examination ) bởi luật sư cùng bên. [70] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 32(1). [71] Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para 7.102. [72] Luật Mẫu về trọng tài thương mại quốc tế của UNCITRAL Điều 32. [73] Simon Greenberg, Christopher Kee, J. Romesh Weeramantry, International Commercial Arbitration: An Asia-Pacific Perspective (Cambridge University Press 2012), para 7.10. [74] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para. 9.05. [75] Margaret L. Moses, The Principles and Practice of International Commercial Arbitration  (2nd edition, Cambridge University Press 2012), p.190. [76] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para. 9.06. [77] Blackaby, Nigel/Partasides, Constantine/Redfern, Alan/Hunter, Martin, Redfern and Hunter on International Arbitration (6th edition, Oxford University Press 2015), para. 9.19 [78]Margaret L. Moses, The Principles and Practice of International Commercial Arbitration  (2nd edition, Cambridge University Press 2012, p.192. [79] Freya Baetens, ‘Arbitral Awards’ ( Oxford Public International Law , April 2023) < https://opil.ouplaw.com/display/10.1093/law-mpeipro/e1238.013.1238/law-mpeipro-e1238?p=emailA8uLnlthY325M&d=/10.1093/law-mpeipro/e1238.013.1238/law-mpeipro-e1238 > truy cập 25/07/2025. [80] Margaret L. Moses, The Principles and Practice of International Commercial Arbitration  (2nd edition, Cambridge University Press 2012), p. 212. [81] ‘Contracting States’ ( New York Convention ) < https://www.newyorkconvention.org/contracting-states > truy cập 25/07/2025. [82] Ngọc Trâm, 'Về công nhận và thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài trong BLTTDS 2015' ( Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử , ngày 25 tháng 6 năm 2018), < https://tapchitoaan.vn/thu-tuc-giai-quyet-vu-viec-dan-su-co-yeu-to-nuoc-ngoai-theo-blttds-2015? >, truy cập ngày 01 tháng 8 năm 2025. [83] Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài Điều III. [84] Như trên. [85] Công ước New York năm 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài Điều V.

Xem tất cả

Trang khác (30)

  • Hoàng Hải Vân | Juris Exploratores

    NHIỆM KỲ 2023 - 2024 BAN BIÊN TẬP VÀ CỐ VẤN Dư Vũ Quỳnh Anh Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 48 Phạm Quốc Hào Phó Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 49 Trịnh Bình Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Tạ Quang Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Nguyễn Phương Linh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Dương Duy Khang Biên tập viên - Sinh viên khoá 49 ĐỘI NGŨ XÂY DỰNG NỘI DUNG Nguyễn Quỳnh Diệp Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Chu Trang Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Hoàng Hải Vân Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Nguyễn Khánh Linh Thành viên - Sinh viên Khoá 47 Nguyễn Vũ Khôi Việt Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Phạm Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Hoàng Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Phạm Thanh Huyền Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Dương Hải Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Tăng Bảo Đan Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Phan Nguyễn Quỳnh Nhi Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Thị Hiền Hạnh Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Đinh Văn Khiêm Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Nguyễn Thị Minh Hằng Sinh viên Khoá 49 Lê Nhật Quỳnh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lương Vũ Khánh Ly Thành viên - Sinh viên Khoá 48 NHIỆM KỲ 2025 - 2026

  • Lương Vũ Khánh Ly | Juris Exploratores

    NHIỆM KỲ 2023 - 2024 BAN BIÊN TẬP VÀ CỐ VẤN Dư Vũ Quỳnh Anh Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 48 Phạm Quốc Hào Phó Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 49 Trịnh Bình Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Tạ Quang Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Nguyễn Phương Linh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Dương Duy Khang Biên tập viên - Sinh viên khoá 49 ĐỘI NGŨ XÂY DỰNG NỘI DUNG Nguyễn Quỳnh Diệp Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Chu Trang Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Hoàng Hải Vân Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Nguyễn Khánh Linh Thành viên - Sinh viên Khoá 47 Nguyễn Vũ Khôi Việt Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Phạm Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Hoàng Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Phạm Thanh Huyền Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Dương Hải Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Tăng Bảo Đan Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Phan Nguyễn Quỳnh Nhi Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Thị Hiền Hạnh Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Đinh Văn Khiêm Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Nguyễn Thị Minh Hằng Sinh viên Khoá 49 Lê Nhật Quỳnh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lương Vũ Khánh Ly Thành viên - Sinh viên Khoá 48 NHIỆM KỲ 2025 - 2026

  • Nguyễn Quỳnh Diệp | Juris Exploratores

    NHIỆM KỲ 2023 - 2024 BAN BIÊN TẬP VÀ CỐ VẤN Dư Vũ Quỳnh Anh Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 48 Phạm Quốc Hào Phó Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 49 Trịnh Bình Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Tạ Quang Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Nguyễn Phương Linh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Dương Duy Khang Biên tập viên - Sinh viên khoá 49 ĐỘI NGŨ XÂY DỰNG NỘI DUNG Nguyễn Quỳnh Diệp Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Chu Trang Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Hoàng Hải Vân Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Nguyễn Khánh Linh Thành viên - Sinh viên Khoá 47 Nguyễn Vũ Khôi Việt Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Phạm Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Hoàng Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Phạm Thanh Huyền Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Dương Hải Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Tăng Bảo Đan Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Phan Nguyễn Quỳnh Nhi Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Thị Hiền Hạnh Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Đinh Văn Khiêm Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Nguyễn Thị Minh Hằng Sinh viên Khoá 49 Lê Nhật Quỳnh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lương Vũ Khánh Ly Thành viên - Sinh viên Khoá 48 NHIỆM KỲ 2025 - 2026

Xem tất cả
bottom of page