top of page

TRANG TÌM KIẾM

Tìm kiếm trên trang web này

Tìm thấy 141 kết quả với một nội dung tìm kiếm trống

Blog (94)

  • [91] CƠ CHẾ THỰC THI TRONG LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ

    Tác giả: Phạm Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Hiền, Kiều Thu Chang Tóm tắt: Trên cơ sở khung pháp lý và những cơ chế thực thi đã được phân tích ở phần trước, vấn đề đặt ra là các quy định của Luật Hình sự Quốc tế (ICL) được hiện thực hóa như thế nào trong thực tiễn. Mặc dù các thiết chế tài phán quốc tế đã góp phần xác lập trách nhiệm hình sự cá nhân đối với những tội phạm nghiêm trọng nhất, hiệu quả thực thi vẫn phụ thuộc đáng kể vào sự hợp tác của các quốc gia và hoạt động hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Do đó, phần này tập trung làm rõ vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế trong việc thúc đẩy thực thi ICL, đồng thời phân tích các cơ chế thực thi ở cấp quốc gia, bao gồm hợp tác tư pháp hình sự và thẩm quyền tài phán phổ quát. Trên cơ sở thực tiễn áp dụng, bài viết tiếp tục đánh giá hiệu quả, những hạn chế về pháp lý, thể chế và chính trị, từ đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao tính hiệu quả và nhất quán của cơ chế thực thi ICL. 2.2 Thực thi thông qua các tổ chức quốc tế 2.2.1 Vai trò của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc ICC được nhìn nhận như một tòa án độc lập, có tư cách pháp nhân quốc tế và có năng lực pháp lý cần thiết để thực hiện các chức năng và hoàn thiện các mục đích của mình.[63] Tuy nhiên xét về bản chất, tòa vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với Liên Hợp Quốc được nêu trong Quy chế của Tòa án, trong Thỏa thuận về quan hệ giữa Tòa án với Liên hợp quốc được ký kết ngày 4 tháng 10 năm 2004.[64] Trọng tâm của thỏa thuận này thể hiện ở vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với Tòa án, cụ thể, Hiến chương Liên hợp quốc có vai trò khuôn khổ hóa các hoạt động của tòa án trong vấn đề giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế.[65] Trong bối cảnh hình thành và hoạt động của ICC, Hội đồng Bảo an có quyền giới thiệu các tình huống đe doạ hoà bình cho Toà án xem xét, kể cả đối với các quốc gia không phải là thành viên của Quy chế Rome.[66] Tuy nhiên, vai trò này gây ra nhiều tranh luận pháp lý liên quan đến tính độc lập tư pháp của ICC, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia và nguy cơ chính trị hoá hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế, đặc biệt do cơ chế quyền phủ quyết của các quốc gia thường trực. Trên thực tế, cơ chế này có thể khiến các quốc gia thường trực Hội đồng Bảo an rơi vào vị thế gần như đứng trên pháp luật quốc tế, bởi các hành vi vi phạm nghiêm trọng do họ hoặc công dân của họ thực hiện rất khó có khả năng bị đưa ra trước Tòa án Hình sự Quốc tế. Quan ngại này đã được nhiều quốc gia đang phát triển, tiêu biểu như Ấn Độ, Namibia và Sierra Leone, nhấn mạnh trong quá trình đàm phán Quy chế Rome. Theo các quốc gia này, việc trao cho Hội đồng Bảo an quyền kiểm soát việc kích hoạt thẩm quyền tài phán của ICC có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu, làm suy yếu nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và ảnh hưởng tiêu cực đến tính công bằng của hệ thống luật hình sự quốc tế.[67] Thứ nhất, vai trò của Hội đồng Bảo an trong việc xác định căn cứ để Tòa án thực hiện quyền tài phán theo Điều 13 Quy chế Rome, bao gồm ba trường hợp: do quốc gia thành viên yêu cầu; do Hội đồng Bảo an yêu cầu hoặc do bản thân Trưởng công tố tự mình mở cuộc điều tra. Đối với trường hợp điều tra do Hội đồng Bảo an yêu cầu, điểm b Điều 13 quy định: “Tòa án có thể thực hiện quyền tài phán đối với các tội phạm nêu tại Điều 5 theo các quy định của Quy chế này nếu: …. b. Một vụ việc trong đó một hay nhiều tội phạm nêu trên đã xảy ra được Hội đồng Bảo an thông báo cho Trưởng công tố theo thẩm quyền quy định tại Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc.” Khi Hội đồng Bảo an yêu cầu Tòa án căn cứ vào điều trên thì quy trình sẽ được tiến hành theo Khoản 1 Điều 17 trong Thỏa thuận hợp tác giữa Hội đồng Bảo an và Tòa án. Theo đó, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đóng vai trò trung gian, có trách nhiệm chuyển quyết định và tài liệu liên quan cho Công Tố viên. Trong quá trình xét xử vụ việc, Tòa án luôn phải đảm bảo Hội đồng Bảo An được thông tin đầy đủ theo đúng các quy định hiện hành và mọi liên lạc chính thức giữa Tòa án và Hội đồng Bảo an đều được thông qua Tổng Thư ký. Thực hiện quyền truy tố theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an giúp Tòa án mở rộng thẩm quyền của mình ra ngoài các quốc gia thành viên, bởi để thực thi quyền tài phán theo yêu cầu của một quốc gia thành viên hoặc theo chủ ý của Công tố trưởng thì phải thỏa mãn một trong hai điều kiện sau: quốc gia đó là nơi xảy ra hành vi phạm tội hoặc quốc gia mà người bị cáo buộc mang quốc tịch đều là thành viên của Quy chế.[68] Về mặt thủ tục, để Tòa án thực thi thẩm quyền của mình theo điểm b Điều 13 thì trước hết Hội đồng Bảo an phải xác định “Tình huống - situation” đang “đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược” được quy định của Chương VII của Hiến chương. Về mặt nội dung, có thể hiểu Quy chế Rome trao cho Hội đồng Bảo an quyền thông báo các vụ việc làm cơ sở cho ICC thực hiện thẩm quyền của mình chứ Hội đồng Bảo an không thể yêu cầu Tòa án truy tố xét xử một hành vi tội phạm cụ thể. Cho đến nay, có hai vụ án xảy ra tại các quốc gia không phải thành viên của Quy chế Rome được Hội đồng Bảo an chuyển cho ICC, là Dafur - Sudan (2005) với cáo buộc các quan chức cấp cao của nước này đã phạm tội diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.[69] Tình hình ở Dafur là trường hợp đầu tiên Hội đồng Bảo an chuyển giao cho Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và Cựu Tổng thống Sudan Al-Bashir cũng là vị Tổng thống đương nhiệm đầu tiên bị tòa án Hình sự truy nã. Tương tự với tình hình xảy ra tại Lybia (2011) bắt đầu dưới chế độ của Muammar Mohammed Abu Minyar Gaddafi, chính quyền Gaddafi sử dụng vũ lực tàn bạo trấn áp thường dân cùng các cuộc biểu tình hòa bình dẫn đến hàng trăm nghìn người phải di dời, con số thương vong theo ước tính của Liên Hợp Quốc lên đến 25.000 chỉ riêng cuộc nội chiến vào năm 2011.[70] Thứ hai, nếu không lựa chọn chuyển vụ việc cho Tòa án, Hội đồng Bảo an có thể tự thực thi thẩm quyền của mình theo quy định của Chương VII trong Hiến chương. Khi nhận thấy được mối đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới, mọi biện pháp từ phi vũ lực (biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấm vận kinh tế, cắt đứt quan hệ ngoại giao, thông tin, giao thông,...) đến sử dụng vũ lực một cách cần thiết (hải, lục, không quân để phong tỏa biểu dương các cuộc hành quân khác) để duy trì và khôi phục hòa bình, an ninh thế giới. Bên cạnh đó, theo Điều 16 của Quy chế Rome, Hội đồng Bảo an không chỉ có quyền “kích hoạt” thẩm quyền của Tòa án Hình sự Quốc tế thông qua cơ chế chuyển giao tình huống, mà còn có quyền “đóng băng” các cuộc điều tra hoặc truy tố của ICC trong thời hạn 12 tháng và có thể gia hạn bằng một nghị quyết mới. Điều khoản này là kết quả của một sự thỏa hiệp chính trị giữa các quốc gia nhằm bảo đảm rằng Hội đồng Bảo an, với trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, có thể can thiệp trong những tình huống đặc thù để ưu tiên các giải pháp chính trị - an ninh trước khi giao quyền cho công lý xét xử.[71] Những biện pháp này được thiết kế nhằm thúc đẩy sự hợp tắc của các quốc gia với Tòa án nói chung, đồng thời gia tăng áp lực đối với những người bị cáo buộc đã phạm các tội ác nghiêm trọng, kể cả các nhà lãnh đạo chính trị như Tổng thống Sudan Omar al-Bashir.[72] Sức ép này giúp tăng sự tuân thủ của các quốc gia, cô lập những người có liên quan và nâng cao hiệu quả các phán quyết của Tòa án. Ngoài ra, chi phí pháp lý cho bị cáo và bồi thường cho nạn nhân cũng có thể được chi trả bằng các tài sản bị phong tỏa này. Cùng với đó, Hội đồng Bảo an huy động và điều phối sự tham gia của tất cả các quốc gia thành viên hỗ trợ lực lượng và phương tiện cần thiết để hợp tác tương trợ lẫn nhau trong việc thi hành các biện pháp Hội đồng Bảo an quyết định. Cuối cùng, quyền tự vệ cá nhân và tập thể trong trường hợp quốc gia thành viên bị tấn công vũ trang vẫn được Hội đồng Bảo an thừa nhận nhưng quyền này chỉ mang tính tạm thời trong lúc Hội đồng Bảo an chưa có những hành động kịp thời, nhưng quyền can thiệp của Hội đồng Bảo an sau đó vẫn hoàn toàn không bị ảnh hưởng. Trong thực tiễn hiện nay, một trong những vấn đề nổi bật trong vai trò của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đối với Tòa án Hình sự Quốc tế là sự thiếu nhất quán trong việc thực hiện và theo dõi các quyết định giới thiệu.[73] Do không tồn tại một bộ tiêu chí ràng buộc nhằm xác định thời điểm Hội đồng Bảo an nên chuyển một tình huống lên ICC, phản ứng của cơ quan này trước các tình huống bạo lực quy mô lớn thường không đồng đều, ngay cả khi đã có các báo cáo đáng tin cậy về việc thực hiện các tội phạm cốt lõi theo luật quốc tế.[74] Hơn nữa, sự thiếu nhất quán còn thể hiện trong cách Hội đồng Bảo an xử lý các báo cáo điều tra và đánh giá vai trò của các cơ chế điều tra, truy tố ở cấp độ quốc gia, qua đó làm suy giảm tính khách quan và khả năng dự đoán của cơ chế referral (cơ chế chuyển vụ việc). Đáng chú ý, sau khi quyết định giới thiệu được thông qua, Hội đồng Bảo an thường không thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo dõi và hỗ trợ cần thiết, đặc biệt trong việc thúc đẩy nghĩa vụ hợp tác và tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến quyền miễn trừ, khiến hiệu quả thực thi công lý hình sự quốc tế tiếp tục chịu ảnh hưởng đáng kể từ các cân nhắc chính trị.[75] 2.2.2. Vai trò của một số tổ chức quốc tế khác Một trong những tổ chức có tầm ảnh hưởng rộng là Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (INTERPOL), là cơ quan hợp tác cảnh sát quốc tế với mạng lưới gần 200 quốc gia thành viên, cung cấp các công cụ kỹ thuật và chuyên môn như cơ sở dữ liệu tội phạm, mạng liên lạc toàn cầu và hỗ trợ điều tra phối hợp nhằm giúp các quốc gia phối hợp bắt giữ và trao đổi thông tin về đối tượng phạm tội và chứng cứ liên quan đến các hành vi nghiêm trọng xuyên biên giới, kể cả trong các vụ án liên quan đến tội diệt chủng và tội ác chống loài người. Đồng thời, INTERPOL phát hành các Thông báo đỏ (Red Notices) yêu cầu quốc tế về vị trí và bắt giữ cá nhân đang bị truy nã, thông báo được sử dụng như một công cụ hỗ trợ các cơ quan tư pháp trong nỗ lực truy tìm nghi phạm quốc tế.[76] Bên cạnh đó, các mạng lưới và tổ chức khu vực như cơ chế hợp tác cảnh sát của Liên minh Châu Phi (AFRIPOL), hay các nhóm chuyên môn như Asia/Pacific Group on Money Laundering (APG) cũng hỗ trợ các quốc gia thành viên trong vai trò trao đổi thông tin, đào tạo và xây dựng năng lực nhằm đối phó với các loại tội phạm xuyên quốc gia cụ thể.[77] Những cơ chế này tuy không có quyền tài phán bắt buộc như ICC, nhưng giúp tăng cường phối hợp quốc tế và hỗ trợ kỹ thuật, góp phần thu hẹp khoảng cách thực thi luật hình sự quốc tế trong thực tiễn. 2.3. Thực thi thông qua quốc gia và tòa án quốc gia 2.3.1 Nghĩa vụ hợp tác của quốc gia Thực tế cho thấy dù tội phạm hình sự quốc tế nói chung không xâm phạm đến trật tự pháp lý quốc tế và không đụng chạm đến quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Tuy vậy, một quốc gia riêng lẻ sẽ gặp rất nhiều cản trở để xử lý hiệu quả loại tội phạm này khi chúng có thể vượt biên để trốn tránh trách nhiệm khiến cho việc thực thi pháp luật trở nên phức tạp. Điều này làm phát sinh nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia trong việc truy tìm, bắt giữ và chuyển giao tội phạm. Theo đó, nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong tố tụng hình sự quốc tế được thể hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Trước hết, dẫn độ là việc một quốc gia chuyển giao tội phạm đang có mặt trên quốc gia mình cho quốc gia khác để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người đó.[78] Mục đích của dẫn độ là để ngăn chặn việc tội phạm lợi dụng biên giới quốc gia để trốn tránh trách nhiệm, đồng thời đảm bảo những kẻ phạm tội được xét xử lại tại chính quốc gia nơi họ thực hiện hành vi phạm tội, trong trường hợp đặc biệt, tại cả những nước đã cấp quốc tịch cho người phạm tội hoặc người bị hại,...[79] Bên cạnh đó, chuyển giao người phạm tội được coi là hành động mang tính nhân đạo, theo đó cá nhân bị tuyên án hoặc phạt tù tại nước ngoài sẽ được chuyển về quốc gia họ mang quốc tịch nhằm tạo sự thân thuộc và tái hòa nhập xã hội sau khi được trả tự do.[80] Ngoài ra, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự còn bao gồm tương trợ tư pháp hình sự với các hoạt động như thẩm vấn người phạm tội, thu nhập, chuyển giao tài liệu, giấy tờ và vật chứng, lấy lời khai nhân chứng và các biện pháp điều tra khác. 2.3.2 Thẩm quyền tài phán phổ quát - Universal Jurisdiction Thẩm quyền hình sự phổ quát cho phép một số quốc gia truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm bất kể nơi xảy ra hành vi phạm tội hay quốc tịch của người phạm tội đó.[81] Đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong luật hình sự quốc tế như tra tấn, diệt chủng, tội ác chống lại nhân loại và tội ác chiến tranh, đây là nhóm tội ác quốc tế mà các quốc gia có nghĩa vụ thiết lập thẩm quyền tài phán phổ quát. Theo bốn Công ước Geneva 1949, mỗi quốc gia thành viên có nghĩa vụ truy tìm những người bị cáo buộc đã phạm tội hoặc đã ra lệnh phạm tội phải xét xử trước tòa án quốc gia bất kể quốc tịch của họ, hoặc chuyển giao họ cho các quốc gia thành viên khác có liên quan để xét xử nếu quốc gia đó có đủ căn cứ sơ bộ. Các công ước Geneva và Nghị định thư bổ sung I (1977) không nêu trực tiếp nghĩa vụ xét xử bất kể nơi xảy ra hành vi phạm tội,[82] nhưng trong các cách hiểu được thừa nhận rộng rãi thì cho rằng quyền tài phán phổ quát phải được nội luật hóa đối với các vi phạm nghiêm trọng.[83] Theo thống kê của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC), hiện nay đã có hơn 115 quốc gia ghi nhận và thừa nhận thẩm quyền này trong pháp luật quốc gia của mình.[84] Vào năm 2020, lần đầu tiên, Anwar R - cựu trưởng phòng Điều tra của Syria đã bị kết án tù chung thân về tội ác chống lại nhân loại, cụ thể là đồng phạm trong các tội tra tấn, 27 vụ giết người và các vụ bạo lực tình dục. Phiên tòa xét xử Anwar R. do Tòa án Khu vực Cấp cao tại Koblenz (Đức) tiến hành đã mang lại niềm hy vọng mới cho người dân Syria về sự hiện hữu của công lý, đồng thời cho thấy nguyên tắc thẩm quyền tài phán phổ quát có thể được vận dụng hiệu quả trong thực tiễn. Qua vụ việc này, theo nhận định của Trung tâm Châu Âu về Quyền Hiến định và Nhân quyền (European Center for Constitutional and Human Rights – ECCHR), thẩm quyền tài phán phổ quát được xem là một giải pháp khả thi, thậm chí là biện pháp cuối cùng, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất.[85] 3. Đánh giá hiệu quả, thách thức và định hướng tăng cường cơ chế thực thi (500 từ) 3.1. Hiệu quả thực thi và giới hạn của ICC Những vụ việc đã được xử lý trong lĩnh vực hình sự quốc tế cho thấy các thiết chế hình sự quốc tế, trong đó có ICC, có khả năng thực thi nhất định, song vẫn còn nhiều tranh luận về mức độ tác động của các thiết chế này đối với hành vi của các chế độ cầm quyền. Tổ chức này một mặt có bị cho là sự thỏa hiệp khi không có khả năng bắt giữ tội phạm mà nó truy tố, phần lớn phải dựa vào sự thiện chí, sự hợp tác của các quốc gia hữu quan để thực hiện sứ mệnh của mình.[86] Mặt khác, nghiêm trọng hơn, các ý kiến này lập luận rằng sự tồn tại của ICC có thể tạo ra tác động tiêu cực ngoài ý muốn, khi nó khuyến khích các nhà lãnh đạo thực hiện các hành vi tàn bạo tiếp tục nắm giữ quyền lực lâu hơn, thay vì từ chức để đổi lấy sự miễn trừ đối với các tội ác đã xảy ra trong quá khứ.[87] Tuy nhiên, không thể hợp lý hóa rằng sự tồn tại của ICC có thể tạo ra lợi thế chính trị giúp cho các nhà lãnh đạo duy trì quyền lực trong bối cảnh họ đang đối mặt với nguy cơ bị phế truất. Từ góc độ thẩm quyền tài phán, vướng mắc lớn nhất mà ICC phải đối mặt nằm ở khả năng can thiệp bị giới hạn khi các tội phạm quốc tế xảy ra tại các quốc gia không phải thành viên của Quy chế Rome. Tuy nhiên, những hạn chế này không đồng nghĩa với việc ICC hoàn toàn bất lực, chiếu theo Điều 17 Khoản 2 của Quy chế Rome, ICC vẫn có thẩm quyền thực thi thẩm quyền của mình đối với những vụ việc mà quốc gia liên quan “không có khả năng” hoặc “không có thiện chí” tiến hành điều tra và truy tố. Ngoài ra, hướng khắc phục khác như việc kích hoạt thẩm quyền thông qua Hội đồng Bảo an theo Chương VII Hiến chương Liên Hợp Quốc,[88] mở rộng cách tiếp cận thẩm quyền theo lãnh thổ (rationale loci) đối với các hành vi liên quan xảy ra tại các quốc gia thành viên ICC mà không cần phụ thuộc vào quốc tịch người phạm tội,[89] cũng như vận dụng nguyên tắc dẫn độ hoặc xét xử (aut dedere aut judicare)[90] và các cơ chế điều tra pháp lý và chứng cứ cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong tương lai. 3.2. Hiệu quả thực thi và giới hạn của thẩm quyền tài phán phổ quát - Universal Jurisdiction. Đối quyền tài phán phổ quát cũng cho thấy nhiều cản trở trong việc thực thi nguyên tắc này một cách có hiệu quả. Trước hết là sự thiếu sót trong hệ thống pháp luật quốc gia.[91] Trên thực tế nhiều quốc gia không đưa tội phạm quốc tế vào pháp luật trong nước, trong khi thẩm quyền phổ quát chủ yếu hành dựa trên khả năng của các tòa án quốc gia trong việc truy tố các tội phạm quốc tế, điều này vô tình tạo điều kiện cho tội phạm trốn tránh trách nhiệm hình sự chạy trốn đến những quốc gia như vậy. Bên cạnh đó, việc thực thi thẩm quyền phổ quát còn gặp trở ngại do pháp luật quốc gia của nhiều nước chưa bao quát đầy đủ các tội phạm quốc tế nghiêm trọng, ví dụ ở các tòa án Ý chỉ có thẩm quyền áp dụng quyền tài phán phổ quát đối với tội ác chiến tranh trong phạm vi một số nhóm đối tượng hoặc trường hợp nhất định. Không những vậy, thủ tục bắt giữ và truy tố chậm chạp, kém hiệu quả cũng làm suy yếu hiệu lực của nguyên tắc này, khi nó tạo điều kiện cho người bị truy cứu đủ thời gian trốn tránh trách nhiệm hình sự. Nhiều quốc gia thiếu ý chí chính trị trong việc ban hành và thực thi pháp luật nhằm hiện thực hóa thẩm quyền phổ quát, do sự trì trệ của quy trình lập pháp và việc chưa nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của vấn đề. Ngoài ra, nguyên tắc thẩm quyền phổ quát có nguy cơ bị lạm dụng vì mục đích chính trị do quan điểm và lợi ích riêng của quốc gia đó chứ không chỉ đơn thuần dựa trên yêu cầu của công lý.[92] Việc áp dụng thiếu kiểm soát hoặc thiếu thận trọng có thể gây căng thẳng giữa các quốc gia, dẫn đến lạm dụng quy trình pháp lý và xâm phạm quyền con người, vì vậy thẩm quyền phổ quát cần được thực hiện một cách cẩn trọng để vừa hạn chế hệ quả tiêu cực vừa bảo đảm đạt được mục tiêu truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế. Sự thiếu vắng hoặc không đầy đủ của các quy định về dẫn độ cũng có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc thực thi nguyên tắc thẩm quyền phổ quát. Một số vụ truy tố tội phạm quốc tế không được tiến hành do quyền miễn trừ của các nguyên thủ quốc gia và quan chức cấp cao đương nhiệm.[93] Tiêu biểu, Trung Quốc nhấn mạnh nghĩa vụ tôn trọng quyền miễn trừ theo luật quốc tế của các quan chức nhà nước đương nhiệm khi thực thi quyền tài phán hình sự, kể cả đối với các tội phạm quốc tế nghiêm trọng. Lập trường này phù hợp với phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trong vụ Arrest Warrant (2002), theo đó Bộ trưởng Ngoại giao đương nhiệm được hưởng quyền miễn trừ khỏi thẩm quyền hình sự trước các tòa án quốc gia nước ngoài theo luật quốc tế tập quán. Tuy nhiên, quan điểm này lại tạo ra sự xung đột với Khoản 2 Điều 27 của Quy chế Rome rằng địa vị hay chức vụ của cá nhân không thể được viện dẫn để tránh trách nhiệm hình sự quốc tế. Cuối cùng, còn tồn tại vấn đề thiếu một cơ chế giám sát quốc tế đủ mạnh nhằm bảo đảm rằng các chuẩn mực của luật hình sự quốc tế được các quốc gia tuân thủ một cách hiệu quả.[94] Sẽ hữu ích hơn nếu các ủy ban được thành lập để giám sát việc thực thi các công ước quốc tế thể hiện sự cảnh giác cao hơn trong việc xử lý các trường hợp quốc gia không tuân thủ, nhằm bảo đảm rằng các tội phạm quốc tế không bị bỏ lọt do thiếu thẩm quyền tài phán hoặc do không có khả năng truy tố. 3.3. Định hướng tăng cường và hoàn thiện các cơ chế thực thi hình sự quốc tế Do tồn tại nhiều hạn chế mang tính cấu trúc và thực tiễn, các bất cập trong cơ chế thực thi hình sự quốc tế đang phản ánh nhu cầu phải hoàn thiện và tăng cường các cơ chế thực thi hiện hành nhằm đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của công lý hình sự quốc tế. Trước hết, do ICC gắn bó chặt chẽ với Quy chế Rome nên con đường pháp lý duy nhất để tăng cường thẩm quyền, cơ chế thực thi và hợp tác của Tòa án này là sửa đổi Quy chế Rome. Tuy nhiên, quy trình sửa đổi vô cùng nghiêm ngặt và phức tạp, sửa đổi chỉ có hiệu lực chỉ khi thông qua sự phê chuẩn hoặc chấp thuận của bảy phần tám quốc gia thành viên để đảm bảo tính chính danh và đồng thuận quốc tế của ICC.[95] Nhưng điều này cũng tiềm ẩn rủi ro suy giảm số lượng các quốc gia thành viên nếu một số quốc gia không chấp nhận sửa đổi và lựa chọn rút lui.[96] Bên cạnh đó, để ngăn chặn trường hợp bị cáo cố tình trốn tránh công lý, Tòa án ICC còn có cơ chế trial in absentia (“xét xử vắng mặt”). Mặc dù cơ chế này được xem là mâu thuẫn với nguyên tắc của luật hình sự hiện đại về sự vắng mặt của người bị xét xử, bắt nguồn từ phương châm audi alteram partem (“nghe ý kiến của bên kia”), theo đó người phạm tội phải được tham gia vào việc bào chữa cho mình.[97] Nhưng biện pháp này vẫn có thể được chấp nhận trong những trường hợp đặc biệt cùng với các đảm bảo nghiêm ngặt về mặt tố tụng, như việc thông báo đầy đủ, quyền tham gia bào chữa từ xa và khả năng mở lại vụ án.[98] Một ví dụ điển hình là Martin Bormann, một quan chức Đức Quốc xã và là thư ký riêng của Hitler, người đã bị kết án tội ác chiến tranh và tội ác chống loài người, và bị tuyên án tử hình bằng hình thức treo cổ tại các phiên tòa Nuremberg dù bị xét xử vắng mặt.[99] Việc cho phép xét xử vắng mặt bị cáo không chỉ bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân và giúp kết thúc các vụ án kéo dài do thiếu hợp tác của quốc gia mà còn tăng cường sức ép buộc các quốc gia và bị cáo phải hợp tác, nhất là khi các biện pháp trừng phạt được kèm theo. Ngoài ra, theo Điều 87(7) Quy chế Rome, các trường hợp không hợp tác có thể được chuyển tới Hội đồng các Quốc gia Thành viên (ASP) và trong một số trường hợp, tới Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UNSC).[100] Tuy nhiên, Quy chế hiện hành không quy định rõ các biện pháp cưỡng chế mà các cơ quan này có thể áp dụng. Trên thực tế, cơ chế của ASP hiện chủ yếu mang tính ngoại giao và giám sát, vẫn còn thiếu các công cụ ràng buộc pháp lý để ngăn chặn xử lý hành vi không hợp tác có thể làm suy giảm hiệu quả thực thi của ICC.[101] Vậy nên cần thiết phải sửa đổi Quy chế Rome để tăng cường vai trò thực thi của ASP, cho phép cơ quan này áp dụng các biện pháp trừng phạt rõ ràng đối với các quốc gia không hợp tác có thể kể đến như phạt tài chính, đình chỉ quyền biểu quyết và hạn chế các lợi ích liên quan.[102] Đồng thời, việc thiết lập cơ chế leo thang tự động lên UNSC trong các trường hợp không hợp tác nghiêm trọng hoặc tái diễn sẽ giúp hạn chế sự trì hoãn mang tính chính trị và gia tăng sức ép tuân thủ. Việc công khai hóa các trường hợp không hợp tác thông qua các phiên họp và báo cáo công khai cũng là một biện pháp răn đe quan trọng, góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các chính phủ và củng cố tính chính danh của ICC. Quyền phủ quyết của các Ủy viên thường trực UNSC cũng thường xuyên cản trở các hành động của ICC, đặc biệt trong những vụ việc liên quan đến các quốc gia có ảnh hưởng hoặc đồng minh của họ, đôi khi quyền này được sử dụng để ngăn chặn các cuộc điều tra của ICC.[103] Do đó, đã có nhiều sáng kiến quốc tế, trong đó tiêu biểu là Sáng kiến Pháp - Mexico và Bộ Quy tắc Ứng xử của Nhóm ACT (“Trách nhiệm, nhất quán và minh bạch”) , đã kêu gọi tự kiềm chế việc sử dụng quyền phủ quyết trong các tình huống tội ác nghiêm trọng hàng loạt như diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.[104] Tiếp đó, dù việc thực thi quyền tài phán phổ quát bị giới hạn bởi nhiều yếu tố như đã phân tích ở trên, việc kiên định thúc đẩy áp dụng hiệu quả nguyên tắc này vẫn là điều cần thiết nhằm đạt được mục tiêu cốt lõi của nó, nhằm chấm dứt tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với các tội ác nghiêm trọng. Do đó, cần xây dựng các biện pháp nhằm tăng cường việc áp dụng quyền tài phán phổ quát và phát triển một cơ chế thực thi vững chắc bảo đảm nguyên tắc này được hiện thực hóa. Trong bối cảnh việc đạt được sự thống nhất toàn cầu về áp dụng quyền tài phán phổ quát còn xa vời, một số học giả đề xuất các cơ chế thay thế chẳng hạn như việc thành lập các tòa án hình sự quốc tế ad hoc tương tự ICTY và ICTR, hoặc các tòa án hỗn hợp.[105] Tuy nhiên, các cơ chế này không thể được xem là giải pháp tối hậu, bởi trong nhiều trường hợp, quyền tài phán phổ quát vẫn là biện pháp cuối cùng và hiệu quả nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quốc tế. Một vài quan điểm được củng cố rằng các quốc gia có quyền theo luật tập quán quốc tế thực thi quyền tài phán phổ quát đối với một phạm vi hẹp các tội phạm quốc tế nghiêm trọng, đồng thời việc thực thi quyền tài phán đó phải chịu sự ràng buộc của những giới hạn hợp lý như nguyên tắc bổ trợ và việc loại trừ xét xử vắng mặt.[106] Trên cơ sở đó, đã đến lúc cộng đồng quốc tế cần tiến tới xây dựng một công ước quốc tế riêng về quyền tài phán phổ quát, trong đó, vừa ghi nhận thẩm quyền cơ bản của các quốc gia vừa thiết lập các cơ chế bảo đảm mang tính thể chế nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng. Công ước này có thể bao gồm, chẳng hạn, một hệ thống kiểm định quốc tế để đánh giá trước năng lực và điều kiện của các quốc gia mong muốn thực thi quyền tài phán phổ quát, cũng như trao cho một cơ quan tài phán quốc tế thẩm quyền xác định việc một quốc gia có thực sự không sẵn sàng hoặc không đủ khả năng tiến hành truy tố hay không, qua đó bảo đảm việc áp dụng nguyên tắc bổ trợ và ne bis in idem[107] (“không bị kết án hai lần cho một tội”) một cách khách quan và nhất quán. Kết luận: Qua phân tích thực tiễn, có thể nhận thấy hiệu quả thực thi Luật Hình sự Quốc tế không chỉ phụ thuộc vào thẩm quyền của ICC mà còn gắn liền với vai trò hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và năng lực thực thi của hệ thống tư pháp quốc gia. Hội đồng Bảo an có thể tạo cơ sở để ICC mở rộng thẩm quyền trong những tình huống nhất định, trong khi INTERPOL và các cơ chế hợp tác khác hỗ trợ trao đổi thông tin, truy tìm nghi phạm và phối hợp điều tra. Ở cấp quốc gia, hợp tác tư pháp hình sự và thẩm quyền tài phán phổ quát góp phần hạn chế những khoảng trống trong truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các cơ chế này vẫn đối mặt với những trở ngại như sự thiếu nhất quán trong hợp tác quốc tế, ảnh hưởng của lợi ích chính trị, khoảng trống trong pháp luật quốc gia và nguy cơ lạm dụng thẩm quyền. Vì vậy, cần kết hợp hoàn thiện pháp luật, tăng cường nghĩa vụ hợp tác và củng cố các cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình. Những vấn đề này là cơ sở để đánh giá tổng thể hiệu quả của cơ chế thực thi ICL và xác định các định hướng cải cách phù hợp. Danh mục tài liệu tham khảo [63] Điều 4 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế Rome [64] Thỏa thuận này được ký kết theo quy định của Điều 2 Quy chế Rome, về nội dung, xem Công báo của Tòa án Hình sự Quốc Tế, tài liệu https://asp.icc-cpi.int/sites/asp/files/asp_docs/Resolutions/ICC-ASP-ASP3-Res-01-ENG.pdf, truy cập ngày 9/1/2026. [65] Charter of the United Nations (adopted 26 June 1945, entered into force 24 October 1945) arts 24 and 39. [66] Rome Statute art 13(b). [67] UN, Role of United Nations Security Council in International Criminal Court among Issues Discussed This Afternoon at UN Conference (UN Press Release L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.htmll accessed 26 January 2026. [68] Điều 12 Quy chế Rome. [69] Situation in Darfur, Sudan, International Criminal Court (ICC) https://www.icc-cpi.int/darfur [70] ICC – Situation in Libya, International Criminal Court (ICC) https://www.icc-cpi.int/situations/libya; ‘War in Libya: how did it start and what happens next?’ The Guardian (18 May 2020) https://www.theguardian.com/world/2020/may/18/war-in-libya-how-did-it-start-what-happens-next truy cập 4/3/2026. [71] J. Mwangi, A Critical Analysis Of The United Nations Security Council’s Powers Of Deferral And Enforcement Under The Rome Statute – https://erepository.uonbi.ac.ke/bitstream/handle/11295/99928/Mwangi-A%20Critical%20Analysis…pdf , truy cập 4/3/2026 [72] IPI, The Relationship Between the ICC and the Security Council: Challenges and Opportunities (International Peace Institute March 2013) https://www.ipinst.org/wp-content/uploads/publications/ipi_e_pub_relationship_bet__icc_and_sc__2_.pdf, 6, truy cập 4/3/2026. [73] UN Security Council, Role of the United Nations Security Council in the International Criminal Court (UN Press Release L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.html, accessed 26 January 2026 (statements at the Rome Conference reflecting concerns regarding the role and extent of Security Council involvement in the ICC). [74] UN Security Council, Role of United Nations Security Council in International Criminal Court among issues discussed this afternoon at UN Conference (UN Press Release ST/DPI/PRESS/L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.html, accessed 26 January 2026 [75] United Nations General Assembly, Report of the Secretary-General on the Relationship between the United Nations and the International Criminal Court, UN Doc A/74/874 (2020) (discussing obligations of cooperation and limitations in the implementation of Security Council referral resolutions). [76] War crimes (INTERPOL) https://www.interpol.int/Crimes/War-crimes truy cập 4/3/2026. [77] Asia/Pacific Group on Money Laundering (APG), About the Role of APG (APG) https://www.apgml.org/about-us/role-apg truy cập 4/3/2026. [78] Khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007 [79] Nguyễn Ngọc Chí, Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam, tr 3. [80] Như trên, tr 4. [81] Universal jurisdiction (Max Planck Encyclopedia of International Procedural Law, Oxford University Press, 2022) https://opil.ouplaw.com/display/10.1093/law-mpeipro/e2259.013.2259/law-mpeipro-e2259 truy cập 4/3/2026. [82] Điều 85 Nghị định thư I Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, và liên quan đến việc bảo vệ nhân viên của các cuộc xung đột vũ trang quốc tế, Phần V Thi hành các Công ước và các Nghị định thư của nó, Mục II Trừng phạt các hành vi vi phạm Công ước và Nghị định thư này. [83] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế, Bình luận về Công ước Geneva thứ nhất: Công ước (I) về cải thiện tình trạng của người bị thương và người bệnh trong lực lượng vũ trang tại chiến trường (CUP Cambridge 2016). [84] Phạm vi và ứng dụng của nguyên tắc tài phán toàn cầu - Đại hội đồng Liên hợp quốc, kỳ bầu cử thứ 73, Ủy ban thứ sáu: Tuyên bố của Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế [85] European Center for Constitutional and Human Rights, ‘Syria trial in Koblenz: Life sentence for Anwar R for crimes against humanity’ (ECCHR, 13 January 2022) https://www.ecchr.eu/en/press-release/syria-verdict-anwar-r, truy ngày 4/3/2026. [86] Bethel Aregawi, ‘The Politicisation of the International Criminal Court by United Nations Security Council Referrals’ (ACCORD – Conflict Trends, 21 July 2017) https://www.accord.org.za/conflict-trends/politicisation-international-criminal-court-united-nations-security-council-referrals, truy cập ngày 4/3/2026. [87] Michael J. Gilligan, Is enforcement necessary for effectiveness? A model of the International Criminal Regime [88] Điều 13(b) Quy chế Rome. [89] Điều 12 Khoản 2 Điểm a, Quy chế Rome. [90] “Aut dedere aut judicare”: nguyên tắc của luật quốc tế theo đó quốc gia có nghĩa vụ hoặc dẫn độ người bị cáo buộc phạm tội quốc tế nghiêm trọng, hoặc tự mình tiến hành điều tra và truy tố, nhằm ngăn chặn tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với bốn loại tội phạm nghiêm trọng trong luật hình sự quốc tế, https://legal.un.org/ilc/texts/instruments/english/reports/7_6_2014.pdf . [91] Universal Jurisdiction: The duty of states to enact and enforce legislation: Chapter 14: Overcoming obstacles to implementing universal jurisdiction, https://www.amnesty.org/en/documents/IOR53/017/2001/en/ [92] Dalila V Hoover, ‘Universal Jurisdiction not so Universal: A Time to Delegate to the International Criminal Court’ (Cornell Law School Inter-University Graduate Student Conference Papers, 2011), 14 https://scholarship.law.cornell.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1081&context=lps_clacp ,truy cập ngày 4/3/2026 [93] https://www.icj-cij.org/node/101536 ; xem thêm tại, Dissenting opinion of Judge ad hoc, Van den Wyngaert in Case Concerning the Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of Congo v. Belgium), Judgment, I.C.J. Reports, 2002, p. 3, 166, available at, Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of the Congo v Belgium), Judgment, ICJ, 14 February 2002, para 25 https://www.icj-cij.org/public/files/case-related/121/121-20020214-JUD-01-00-EN.pdf truy cập 4/3/2026. [94] Hoover, tldd 20 [95] Điều 121 Quy chế Rome [96] Emma Askarisirchi, ‘International Criminal Court (ICC) and the Pursuit of Global Justice: “A Court Worth Having” — Predicaments to the Court’s Enforcement and Frameworks for Improving Compliance’ (Columbia Human Rights Law Review, 2025) https://hrlr.law.columbia.edu/files/2025/11/Askarisirchi_Frameworks-for-Improving-ICC_Final-Upload.pdf truy cập 4/3/2026. [97] Frederick F. Schauer, English Natural Justice and American Due Process: An Analytical Comparison, 18 WM. & MARY L. REV. 47, 49 (1976). [98] như trên, 57- 58. [99] Fact Sheet: Martin Bormann (TRIAL INT’L, 22 December 2019) https://web.archive.org/web/20191222215945/https://trialinternational.org/latestpost/martin-bormann (perma.cc/YU6S-DUM4) truy cập 4/3/2026. [100] Điều 87(7) Quy chế Rome. [101] International Criminal Court Assembly of States Parties [ASP], Report of the Bureau on Non-Cooperation, Report of the Bureau on Non-Cooperation, annex III. [102] Mặc dù nhiều nghiên cứu học thuật đã phân tích vai trò và mức độ ảnh hưởng của ASP đối với hoạt động của ICC, đặc biệt là những lo ngại liên quan đến tính độc lập của Công tố viên, các nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở bình diện thể chế hoặc cải cách chung. Theo hiểu biết của tác giả, hiện vẫn chưa có công trình nào đề xuất việc sửa đổi trực tiếp Quy chế Rome nhằm tăng cường quyền thực thi và cưỡng chế của ASP trong các trường hợp không hợp tác. Xem tại Hannah Woolaver & Emma Palmer, Challenges to the Independence of the International Criminal Court from the Assembly of States Parties, 15 J. INT'L CRIM. JUST. 641, 645–46, 659–64 (2017) [103] Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, phiên họp thứ 7180, SC/11407 (ngày 22 tháng 5 năm 2014) (tóm tắt cuộc họp mà Hội đồng Bảo an không thể chuyển tình hình ở Syria cho Tòa án Hình sự Quốc tế mặc dù gần như nhất trí ủng hộ do hai phiếu phủ quyết); Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, phiên họp thứ 5619, SC/8939 (tóm tắt cuộc họp mà Hội đồng Bảo an không thể thông qua dự thảo nghị quyết về Myanmar một phần do các phiếu phủ quyết) [104] UNGA Res/GA/12500 (26 April 2023), 77th sess, 68th & 69th mtgs. [105] Noora Arajarvi, Looking back from nowhere; Is there a future for universal jurisdiction over international crimes, 16 TILBURG L.R.5, 5-9 (2011). [106] https://www.legal-tools.org/doc/44a03d/pdf, (7. Looking ahead: Creation of Institutional Safeguards for the Exercise of Universal Jurisdiction), Universal Jurisdiction over International Crimes and the Institut de droit international 5 (TẠM) [107] Art 20, Rome Statute; Khi một tòa án hình sự quốc gia đã ra phán quyết cuối cùng trong một vụ án dựa thuần túy trên quyền tài phán phổ quát, thì nguyên tắc ne bis in idem (một người không bị xét xử hai lần vì cùng một hành vi) cần được áp dụng để ngăn việc người đó bị truy tố lại ở một quốc gia hoặc cơ quan tài phán khác, Lê Thị Thắm, Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền tài phán quốc gia, tr 47.

  • [91] CƠ CHẾ THỰC THI TRONG LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ (PHẦN I)

    Tác giả: Phạm Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Hiền, Kiều Thu Chang Tóm tắt: Trong bối cảnh hiện nay, khi xung đột vũ trang và các cuộc khủng hoảng chính trị tiếp tục diễn ra trên nhiều khu vực, việc hiểu rõ cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế (International Criminal Law - ICL) đóng vai trò quan trọng trong việc hướng tới đảm bảo công lý toàn cầu. Bài viết sẽ đưa ra nội dung tổng quan nhất về cơ chế thực thi trong ICL, bao gồm cơ sở pháp lý của cơ chế thực thi trong ICL, cũng như các phương thức thực thi thông qua Tòa án Hình sự quốc, tổ chức quốc tế, và hệ thống tư pháp quốc gia. Trong quá trình phân tích, nhóm tác giả đồng thời tham khảo các án lệ trước đó và qua đó, nhóm tác giả sẽ đánh giá hiệu quả, hạn chế và đề xuất các hướng đi nhằm tăng cường khả năng thực thi ICL trong bối cảnh tội phạm quốc tế hiện nay. Bài viết được chia thành hai phần xuất phát từ sự khác biệt giữa phương diện pháp lý và phương diện thực tiễn của cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế (ICL). Phần thứ nhất tập trung làm rõ cơ sở pháp lý, thẩm quyền và các cơ chế thực thi chủ yếu, đặc biệt là vai trò của Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC), qua đó xác định khuôn khổ thể chế và những nguyên tắc chi phối việc truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế. Trên nền tảng đó, phần thứ hai chuyển trọng tâm sang cách thức các cơ chế này được vận hành trong thực tiễn, thông qua vai trò của các tổ chức quốc tế, sự hợp tác giữa các quốc gia và việc áp dụng thẩm quyền tài phán quốc gia. Cách tiếp cận này giúp bài viết tránh trộn lẫn việc mô tả quy định pháp luật với đánh giá hiệu quả thực thi, đồng thời làm rõ khoảng cách giữa sự tồn tại của cơ chế pháp lý và khả năng bảo đảm trách nhiệm hình sự trên thực tế. Từ đó, bài viết có cơ sở đánh giá toàn diện hơn những hạn chế và đề xuất giải pháp phù hợp. Trong phần 1, bài viết phân tích cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế (ICL) trên cơ sở khung pháp lý quốc tế và thực tiễn hoạt động của các thiết chế tài phán. Trên cơ sở Quy chế Rome năm 1998, các Công ước Geneva năm 1949, Hiến chương Liên hợp quốc và pháp luật quốc gia, bài viết làm rõ tính chất đa tầng, phi tập trung của cơ chế thực thi ICL, trong đó Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và hệ thống tư pháp quốc gia giữ vai trò bổ trợ lẫn nhau. Thông qua phân tích thẩm quyền ban hành lệnh bắt giữ, nghĩa vụ hợp tác quốc tế, thủ tục tuyên hình phạt và tình hình Darfur, bài viết chỉ ra khoảng cách giữa thẩm quyền pháp lý của ICC và khả năng thực thi trên thực tế. Đồng thời, nguyên tắc bổ sung được xem xét như cơ sở để ICC can thiệp khi quốc gia không thực sự sẵn sàng hoặc không đủ khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự. Từ đó, bài viết nhận diện những hạn chế pháp lý, thể chế và chính trị ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi ICL. Mở đầu Luật Hình sự Quốc tế (International criminal law - ICL) là một nhánh luật đặc biệt được hình thành từ sự giao thoa giữ Luật Quốc tế và Luật Hình sự quốc gia nhằm quy trách nhiệm hình sự cá nhân đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng lợi ích chung của cộng đồng quốc tế.[1] Tuy nhiên, trong bối cảnh trật tự pháp lý quốc tế không tồn tại một cơ quan cưỡng chế tập trung hay một hệ thống thực thi thống nhất giữa các quốc gia,[2] vấn đề đảm bảo hiệu lực các quy phạm của ICL luôn đặt trong nhiều thách thực cả về pháp lý lẫn chính trị.[3] Xuất phát từ đặc điểm này, việc nghiên cứu cơ chế thực thi trong ICL giúp nhận diện và giải quyết các thách thức trong nghĩa vụ hợp tác quốc tế, từ việc bắt giữ, di lý nghi phạm đến thu thập chứng cứ xuyên biên giới, đồng thời đảm bảo công lý hình sự quốc tế được thực thi một cách nhất quán và công minh trên phạm vi toàn cầu.[4] Bài viết này sẽ đi sâu phân tích vào cơ chế thực thi của ICL thông qua Tòa án Hình sự quốc (International Criminal Court - ICC) và vai trò hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc duy trì công lý hình sự toàn cầu. Sau đó, bài viết cũng sẽ phân tích cơ chế thực thi gián tiếp thông qua quốc gia, nhằm đưa tới nội dung tổng quan nhất về cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế. Khung pháp lý của cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế 1.1. Khái niệm và tính đặc thù cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế Mặc dù không có khái niệm chính thức về cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế, nhưng nhìn chung, cơ chế thực thi được hiểu là một hệ thống đa tầng bao gồm các quy tắc, thủ tục điều chỉnh việc điều tra và truy tố quốc tế các tội phạm, bao gồm tội diệt chủng, tội ác chống lại loài người, tội ác chiến tranh và tội xâm lược…[5] Cơ chế này không chỉ dừng lại ở việc áp dụng các chế tài trừng phạt mà còn bao quát toàn bộ quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án.[6] Về tính đặc thù, khác với Luật Hình sự quốc gia, ICL hoạt động trong một hệ thống “ngang”, nơi thiếu vắng một bộ máy cưỡng chế tập trung và lực lượng cảnh sát toàn cầu.[7] Và việc thực thi luật hình sự trên bình diện quốc tế hoàn toàn dựa trên nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia.[8] Chính vì thế, cơ chế thực thi của ICL được phân tách thành hai hệ thống bổ trợ: thực thi gián tiếp thông qua các tòa án quốc gia và thực thi trực tiếp thông qua các thiết chế tư pháp quốc tế.[9] Trong hệ thống này, việc thực thi thông qua tòa án quốc gia được coi là phương thức quan trọng nhất dựa trên nguyên tắc tài phán phổ quát.[10] Trong khi đó, các thiết chế tư pháp quốc tế đóng vai trò như một cơ chế “dự phòng”, bởi mọi hoạt động từ bắt giữ nghi phạm, thu thập chứng cứ đến thi hành phán quyết đều phụ thuộc hoàn toàn vào nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia.[11] 1.2. Cơ sở pháp lý của cơ chế thực thi trong Luật Hình sự Quốc tế 1.2.1. Quy chế Rome ICL được xây dựng trên nền tảng của Điều 38(1) Quy chế Toà án Công lý Quốc tế (ICJ), bao gồm các điều ước quốc tế đa phương, tập quán quốc tế và các nguyên tắc pháp luật chung.[12] Trong đó, Quy chế Rome năm 1998 về Tòa án Hình sự Quốc tế (International Criminal Court - ICC) đóng vai trò là văn kiện trung tâm, không chỉ định nghĩa các tội phạm mà còn thiết lập khung khổ cho quá trình tố tụng và hợp tác quốc tế.[13] Theo Điều 1 và Điều 17 của Quy chế Rome, thẩm quyền của ICC mang tính chất bổ sung.[14] Đặc biệt theo Điều 17, Tòa ICC sẽ chỉ thụ lý vụ việc khi hệ thống tư pháp quốc gia “không sẵn lòng” (unwillingness)[15] hoặc “không đủ khả năng” (inability)[16] thực hiện tố tụng một cách thực thụ, và tòa cũng không thụ lý vụ việc nếu xét thấy vụ việc không đủ mức nghiêm trọng để tiến hành các bước tố tụng tiếp theo.[17] Mặc dù có thẩm quyền quốc tế rộng lớn nhưng ICC không có lực lượng cưỡng chế độc lập, thay vào đó mọi hoạt động từ bắt giữ, thu thập chứng cứ đến thi hành án đều phụ thuộc vào các điều khoản về Nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia thành viên.[18] Như vậy, Quy chế Rome đóng vai trò như nền tảng pháp lý cho sự ra đời của Tòa ICC và các thiết chế thực thi trong ICL. 1.2.2. Các công ước Geneva năm 1949 và Nghị định thư bổ sung Mặc dù hệ thống các Công ước Geneva năm 1949 và các Nghị định thư bổ sung năm 1977 thuộc nhánh Luật Nhân đạo quốc tế (International Humanitarian Law - IHL), nhưng việc xem xét các Công ước này trong cơ chế thực thi của ICL là cần thiết, bởi chúng là nền tảng xác định nội dung của tội ác chiến tranh và thiêt lập nghĩa vụ truy cứu trách nhiệm hình sự cấp quốc gia.[19] Thông qua cơ chế “vi phạm nghiêm trọng” (grave breaches)[20] được quy định cụ thể tại các Điều 49 (Công ước I), Điều 50 (Công ước II), Điều 129 (Công ước III) và Điều 146 (Công ước IV), đã thiết lập nghĩa vụ pháp lý cốt lõi: Mỗi quốc gia có trách nhiệm tìm kiếm những người bị cáo buộc đã thực hiện hoặc ra lệnh thực hiện các hành vi vi phạm nghiên trọng và phải đưa họ ra xét xử trước tòa án của chính mình, bất kể quốc tịch của họ là gì.[21] Ngoài ra, các điều khoản trên cũng tạo ra một dạng tài phán phổ quát cho phép và bắt buộc các quốc gia thực thi quyền tư pháp đối với tội phạm chiến tranh ngay cả khi tội phạm đó không xảy ra trên lãnh thổ của họ hoặc không do công dân của họ thực hiện, thông qua nghĩa vụ truy tố hoặc dẫn độ (aut dedere aut judicare).[22] Ngoài ra, Nghị định thư bổ sung I (AP I) và II (AP II) năm 1977 cũng đã củng cố nghĩa vụ quốc gia trong việc truy cứu tội phạm và phối hợp quốc tế, đồng thời làm rõ trách nhiệm cá nhân của người chỉ huy và các tác nhân tham gia xung đột.[23] Có thể thấy, Quy chế Rome ra đời không thay thế các Công ước Geneva năm 1949 mà kế thừa trách nhiệm hình sự đã được hình thành trong IHL.[24] Ví dụ, trong trường hợp xét xử tội ác chiến tranh, Quy chế Rome điều chỉnh thẩm quyền và thủ tục của Tòa ICC, trong khi nội dung cấu thành tội phạm vẫn dựa trên các quy phạm của IHL. Do đó, không tồn tại quan hệ “ưu tiên loại trừ” giữa hai hệ thống này. 1.2.3. Hiến chương Liên Hợp Quốc và vai trò của Hội Đồng Bảo An Vai trò của Hội đồng Bảo an (HĐBA) trong cơ chế thực thi ICL bắt nguồn trực tiếp từ thẩm quyền được trao theo Chương VII của Hiến chương Liên Hợp Quốc.[25] Theo các nghị quyết 827 (2003) và 955 (2004) của HĐBA, thì HĐBA có quyền thiết lập các tòa án đặc thời (như ICTY và ICTR) hoặc chuyển hồ sơ vụ việc sang ICC theo Điều 13(b) của Quy chế Rome, ngay cả khi quốc gia liên quan chưa phê chuẩn Quy chế.[26] Điều này không đồng nghĩa với việc Quy chế Rome tự mở rộng hiệu lực ràng buộc của mình đối với các quốc gia không là thành viên, thay vào đó, nghĩa vụ phát sinh từ nghị quyết của HĐBA vốn có giá trị ràng buộc đối với tất cả quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc theo Điều 25 Hiến chương.[27] Hơn nữa, Điều 103 Hiến chương quy định rằng trong trường hợp có xung đột giữa nghĩa vụ theo Hiến chương và nghĩa vụ theo bất kỳ thỏa thuận nào khác, nghĩa vụ theo Hiến chương được ưu tiên áp dụng.[28] Thực tiễn thực thi đã chứng minh điều này qua các các vụ việc tại Darfur (Sudan) theo Nghị quyết 1593 và tình hình tại Libya theo Nghị quyết 1970, khi mà Tòa ICC khẳng định thẩm quyền ngay cả khi các quốc gia này chưa phê chuẩn Quy chế Rome.[28] 1.2.4. Pháp luật quốc gia Việc thực thi ICL về bản chất là một quá trình gián tiếp, đòi hỏi các quốc gia phải nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế. Các đạo luật thực thi (implementing legislation) của quốc gia chính là cơ sở pháp lý trực tiếp để các cơ quan cảnh sát và tòa án trong nước tiến hành bắt giữ và xét xử tội phạm quốc tế.[30] Nếu thiếu các văn bản pháp luật nội địa cụ thể, nhiều quốc gia theo truyền thống nhị nguyên không thể trực tiếp áp dụng các điều ước quốc tế như Quy chế Rome để quy trách nhiệm hình sự cho cá nhân.[31] Tóm lại, cơ sở pháp lý của cơ chế thực thi trong ICL là một cấu trúc đa tầng, bao gồm (1) Quy chế Rome trong việc thiết lập thẩm quyền, định nghĩa các tội phạm quốc tế và quy trình tố tụng của Tòa ICC; (2) Công ước Geneva 1949, các Nghị định thư bổ sung năm 1977; Và (3) Hệ thống pháp luật quốc gia - thực hiện bắt giữ, truy tố và thi hành án. Bên cạnh đó, Hiến chương Liên Hợp Quốc và HĐBA đóng vai trò bổ trợ, cho phép thiết lập tòa án đặc biệt hoặc chuyển vụ việc sang Tòa ICC trong các tình huống cần thiết. 2. Các cơ chế thực thi trong thực tiễn 2.1 Thực thi thông qua Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) 2.1.1 Cơ chế thực thi của ICC a) Ban hành lệnh bắt giữ và trát triệu tập Theo Điều 58 Quy chế Rome, ICC có thẩm quyền ban hành lệnh bắt giữ hoặc trát triệu tập đối với cá nhân bị cáo buộc đã thực hiện các tội phạm thuộc thẩm quyền của Toà án. Việc ban hành lệnh bắt giữ được thực hiện khi Phòng Tiền xét xử xác định có căn cứ hợp lý cho rằng cá nhân đó đã phạm tội và việc bắt giữ là cần thiết nhằm đảm bảo sự hiện diện của người đó trước Toà, ngăn chặn hành vi cản trở điều tra hoặc ngăn ngừa việc tiếp tục phạm tội.[32] Trong trường hợp các điều kiện nghiêm ngặt của lệnh bắt giữ không cần thiết, Quy chế Rome cho phép Phòng Tiền xét xử ban hành trát triệu tập khi có căn cứ hợp lý cho rằng người bị cáo buộc đã thực hiện hành vi phạm tội và việc ra hầu có thể được bảo đảm trên cơ sở tự nguyện.[33] Biện pháp này phản ánh nỗ lực của ICC trong việc giảm thiểu sự can thiệp cưỡng chế không cần thiết vào quyền tự do cá nhân. Tuy nhiên, thẩm quyền lựa chọn giữa lệnh bắt giữ và trát triệu tập của Phòng Tiền xét xử không mang tính tuyệt đối, mà bị giới hạn bởi phạm vi yêu cầu của Công tố viên. Theo án lệ của Phòng Phúc thẩm ICC trong vụ Prosecutor v. Germain Katanga, Phòng Tiền xét xử không có thẩm quyền tự ý thay thế yêu cầu ban hành lệnh bắt giữ bằng trát triệu tập khi Công tố viên không đề nghị biện pháp này.[34] Ngược lại, vụ Abu Garda lại minh hoạ trường hợp Công tố viên chủ động điều chỉnh yêu cầu từ lệnh bắt giữ sang trát triệu tập do người bị cáo buộc cam kết tự nguyện ra trình diện, qua đó mở ra cơ sở để Phòng Tiền xét xử xem xét áp dụng ít biện pháp cưỡng chế hơn.[34] Trong bối cảnh đó, Phòng Tiền xét xử cho rằng trát triệu tập là đủ để bảo đảm sự có mặt của người bị triệu tập trước Tòa, đồng thời vẫn bảo lưu quyền xem xét lại quyết định này nếu các nghĩa vụ theo trát triệu tập không được tuân thủ.[35] b) Yêu cầu quốc gia thành viên hợp tác Cơ chế thực thi của ICC được xây dựng trên nền tảng nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia thành viên theo Phần IX Quy chế Rome.[36] Khi gia nhập Quy chế, các quốc gia thành viên đã chấp nhận nghĩa vụ hợp tác đầy đủ với ICC trong việc điều tra và truy tố các tội phạm thuộc thẩm quyền của Toà án.[37] Nghĩa vụ hợp tác này mang tính chung và bắt buộc, áp dụng đối với tất cả các quốc gia thành viên và không phụ thuộc vào việc quốc gia đó có trực tiếp liên quan đến vụ việc hay không.[38] Quy chế Rome yêu cầu các quốc gia thành viên thực hiện nghĩa vụ này một cách kịp thời và thiện chí, đồng thời không được viện dẫn pháp luật quốc gia để biện minh cho việc không thực hiện nghĩa vụ quốc tế đã cam kết.[39] Ngoài ra, các quốc gia thành viên còn có nghĩa vụ hỗ trợ ICC trong việc thu thập và cung cấp chứng cứ, bao gồm tài liệu, lời khai và các hình thức hỗ trợ điều tra khác trên lãnh thổ quốc gia. Các quốc gia cũng phải hỗ trợ xác định, phong tỏa và tịch thu tài sản liên quan đến tội phạm nhằm phục vụ cho hoạt động xét xử và cơ chế bồi thường cho nạn nhân.[40] Bảo vệ nhân chứng và nạn nhân là một cấu phần quan trọng khác của nghĩa vụ hợp tác.[41] Các quốc gia thành viên có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo đảm an toàn cho nhân chứng, đặc biệt trong các vụ án liên quan đến tội ác chiến tranh và tội ác chống loài người. Nghĩa vụ này thể hiện xu hướng lấy nạn nhân làm trung tâm trong công lý hình sự quốc tế hiện đại. Mặc dù nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia thành viên được quy định tương đối chi tiết và chặt chẽ trong Quy chế Rome, cơ chế thực thi của ICC vẫn mang tính phi tập trung và phụ thuộc gần như hoàn toàn vào hành vi của các quốc gia.[42] Việc thiếu một cơ chế cưỡng chế độc lập khiến ICC sở hữu quyền lực pháp lý đáng kể trên phương diện danh nghĩa, nhưng lại gặp nhiều giới hạn nghiêm trọng trong việc chuyển hóa quyền lực đó thành hiệu quả thực thi trong thực tiễn.[43] c) Tuyên hình phạt Quy chế Rome của ICC về nguyên tắc không loại trừ thủ tục tuyên hình phạt một giai đoạn, khi quy định rằng sau khi có kết án, Hội đồng xét xử phải xem xét hình phạt thích đáng trên cơ sở chứng cứ và lập luận liên quan đã được trình bày trong quá trình xét xử.[44] Tuy nhiên, Quy chế cũng cho phép trong một số trường hợp bắt buộc, Hội đồng xét xử tổ chức phiên điều trần bổ sung về hình phạt để nghe thêm chứng cứ và lập luận của các bên, bao gồm cả ý kiến của nạn nhân theo Điều 75 và Quy tắc 93 Quy tắc Tố tụng và Chứng cứ của Tòa án Hình sự Quốc tế (Rules of Procedure and Evidence - RPE). Thời điểm tổ chức các phiên điều trần này do thẩm phán chủ toạ ấn định.[45] Trên thực tế, trong tất cả các vụ án đã tuyên hình phạt, ICC đều áp dụng quy trình hai giai đoạn, gồm bản án xác định trách nhiệm hình sự và một quyết định riêng về hình phạt.[46] Điều này phù hợp khi bị cáo bị kết án về nhiều tội danh, Tòa sẽ tuyên hình phạt riêng cho từng tội, đồng thời tuyên một hình phạt chung xác định tổng thời hạn chấp hành hình phạt tù.[47] Trong vụ Bemba, ngày 21 tháng 3 năm 2016, bị cáo bị tuyên có tội về hại tội ác chống loài người và ba tội ác chiến tranh. Với tư cách là chỉ huy quân sự có quyền lực và quyền kiểm soát hiệu quả, Bemba đã bị tuyên 18 năm tù; các mức hình phạt riêng cho từng tội dao động từ 16 đến 18 năm tù.[48] Ngoài ra, khi quyết định hình phạt, ICC còn xem xét đến một số yếu tố quan trọng khác. Trước hết, các tình tiết tăng nặng phải được chứng minh vượt quá nghi ngờ hợp lý và phải liên quan trực tiếp đến tội phạm cũng như cá nhân bị kết án.[49] Bên cạnh đó, Toà áp dụng nguyên tắc không trùng lặp, theo đó những yếu tố đã được sử dụng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của tội phạm sẽ không tiếp tục được coi là tình tiết tăng nặng.[50] Đặc biệt, ICC cũng cân nhắc đến hoàn cảnh cá nhân của người bị kết án, bao gồm tuổi tác, trình độ học vấn và điều kiện kinh tế - xã hội, nhằm bảo đảm việc tuyên hình phạt phù hợp với từng bị cáo cụ thể.[51] Đối với các tình tiết giảm nhẹ, Tòa trao cho Hội đồng xét xử quyền đánh giá rộng trong việc xác định các yếu tố này, miễn là chúng có mối liên hệ trực tiếp với bị cáo.[52] 2.1.2 Vụ việc Sudan (Darfur): Lệnh bắt của ICC và những hạn chế trong việc thi hành Ngọn lửa châm ngòi cho bạo lực ở Darfur xảy ra vào tháng 4 năm 2003 khi phiến quân tấn công sân bay al-Fashir, phá huỷ thiết bị quân sự và áp đảo quân đội Sudan.[53] Chính phủ Sudan, dưới thời Tổng thống độc tài Omar al-Bashir, đã phối hợp với các lực lượng dân quân Ả Rập tiến hành các chiến dịch đàn áp, tàn phá làng mạc và người Zaghawa, Masalit và Fur, những tộc người bị cho là ủng hộ phiến quân. Từ năm 2003 đến năm 2005, hàng ngàn ngôi làng đã bị phá huỷ, cư dân bị cưỡng hiếp, tấn công và sát hại.[54] Trước tình trạng bạo lực leo thang và các vi phạm nghiêm trọng trong luật nhân đạo quốc tế, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã can thiệp bằng cách thông qua Nghị quyết 1593 (2005), theo đó chuyển tình hình tại Darfur cho ICC. Trên cơ sở đó, Công tố viên ICC đã tiến hành điều tra và kết luận rằng có căn cứ hợp lý để tin rằng các tội ác nghiêm trọng, bao gồm tội ác chiến tranh, tội ác chống loài người và tội diệt chủng.[55] Mặc dù Sudan không phải là quốc gia thành viên của Quy chế Rome, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) vẫn có thẩm quyền tài phán đối với tình hình tại Darfur trên cơ sở Nghị quyết 1593 (2005) của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.[56] Trong khi đã có những nhận định mang tính pháp lý quan trọng, tiến trình thực thi công lý trong vụ án này vẫn gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng. Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) đã ban hành hai lệnh bắt giữ đối với Tổng thống Sudan Omar al-Bashir vào các năm 2009 và 2010 với cáo buộc diệt chủng, tội ác chống loài người và tội ác chiến tranh, tiến trình thực thi công lý trong vụ án này vẫn gặp nhiều trở ngại nghiêm trọng.[57] Việc thi hành lệnh bắt giữ gần như bất khả thi, khi Al-Bashir vẫn tự do công du tới nhiều quốc gia thành viên của ICC như Nam Phi, Kenya, Uganda, Chad và Jordan, mà không bị bắt giữ hay dẫn độ, dù đã có yêu cầu hợp tác chính thức từ Toà án.[58] Điều này cho thấy sự mâu thuẫn giữa Điều 27 và Điều 98 của Quy chế Rome, cũng như với các quy tắc miễn trừ trong tập quán quốc tế. Theo Điều 27, tư cách chính thức (kể cả nguyên thủ) không miễn trừ trách nhiệm hình sự trước ICC.[59] Tuy nhiên, Điều 98(1) lại quy định rằng ICC không thể yêu cầu dẫn độ hoặc hỗ trợ nếu việc đó khiến quốc gia được yêu cầu vi phạm nghĩa vụ quốc tế về miễn trừ ngoại giao, trừ khi có sự đồng ý của quốc gia liên quan.[60] Kết quả là, dù ICC đã khẳng định có căn cứ hợp lý truy tố tội diệt chủng, vụ án vẫn bị đình trệ trên bình diện thủ tục. Điều này phản ánh mâu thuẫn cố hữu giữa lý tưởng công lý toàn cầu và thực tế chính trị quốc tế, đồng thời cho thấy Quy chế Rome, dù mang tính đột phá về pháp quyền, vẫn phụ thuộc nặng nề vào ý chí hợp tác của các quốc gia. 2.1.2 Thực thi thẩm quyền của tòa ICC trước sự thiếu hiệu quả của hệ thống tư pháp quốc gia Theo Điều 17 Quy chế Rome, Toà án Hình sự Quốc tế chỉ can thiệp khi quốc gia không sẵn sàng hoặc không có khả năng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quốc tế. Quốc gia bị coi là không sẵn sàng truy tố khi quá trình điều tra, truy tố và xét xử chỉ mang tính hình thức, thể hiện qua việc bao che người phạm tội, né tránh trách nhiệm hình sự quốc tế hoặc đưa ra các phán quyết thiếu khách quan, không tương xứng với mức độ nghiêm trọng của hành vi.[61] Bên cạnh đó, quốc gia bị coi là không có khả năng truy tố khi hệ thống tư pháp của họ không đủ điều kiện để hoạt động hiệu quả, chẳng hạn như bị sụp đổ, thiếu cơ quan tố tụng độc lập hoặc thiếu cơ sở pháp lý. Trong hai trường hợp đó, toà ICC có thể thực hiện thẩm quyền nhằm bảo đảm việc thực thi luật hình sự quốc tế.[62] Kết luận phần 1: Từ những phân tích trên, có thể thấy cơ chế thực thi Luật Hình sự Quốc tế được xây dựng trên nền tảng pháp lý đa tầng, kết hợp giữa thẩm quyền của các thiết chế tài phán quốc tế, nghĩa vụ hợp tác của các quốc gia và việc áp dụng pháp luật quốc gia. Trong cấu trúc đó, ICC giữ vai trò trung tâm trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm thuộc thẩm quyền, nhưng nguyên tắc bổ sung và sự phụ thuộc vào hợp tác quốc gia cũng đặt ra những giới hạn đáng kể đối với khả năng thực thi của Tòa. Trường hợp Darfur cho thấy khoảng cách giữa việc ban hành các quyết định tư pháp và khả năng bảo đảm thi hành trên thực tế, đặc biệt khi các nghĩa vụ pháp lý đan xen với lợi ích chính trị và những tranh luận về quyền miễn trừ. Vì vậy, việc xác lập cơ sở pháp lý và thẩm quyền tài phán mới chỉ là điều kiện ban đầu để bảo đảm công lý hình sự quốc tế. Để đánh giá đầy đủ hiệu quả của cơ chế này, cần tiếp tục xem xét vai trò của các tổ chức quốc tế, sự phối hợp giữa các quốc gia và việc vận dụng thẩm quyền tài phán quốc gia trong thực tiễn thực thi. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1][2][3][4] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003) tr 1-2; xem thêm Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 3-21. [5][6] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010) tr. 4-5. [7][8][9] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 8. [10] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 50-62. [11] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 8. [12] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 9-12. [13] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 144. [14] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 153-155. [15] Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế năm 1998 (Quy chế Rome), Điều 17(1), “unless the decision resulted from the unwillingness or inability of the State genuinely to prosecute”; xem thêm Mohamed M El Zeidy, ‘The Principle of Complementarity: A New Machinery to Implement International Criminal Law’ (2002) 23 Michigan Journal of International Law 869, tr. 900 . Theo Mohamed M. El Zeidy, “không sẵn lòng” tập trung vào việc đánh giá thiện chí (good faith) của cơ quan quốc gia và Tòa án sẽ phải xem xét các yếu tố tại Điều 17(2) để xác định tính “thực sự” (genuinely) của sự “không sẵn lòng”. [16] Quy chế Rome Điều 17(3), “In order to determine inability in a particular case, the Court shall consider whether, due to a total or substantial collapse or unavailability of its national judicial system, the State is unable to obtain the accused or the necessary evidence and testimony or otherwise unable to carry out its proceedings.” Điều 17(3) quy định việc xác định “không đủ khả năng” sẽ được Tòa án xem xét trên cơ sở có hay không sự sụp đổ hoàn toàn, đáng kể hoặc tình trạng không sẵn có (unavailability) của hệ thống tư pháp quốc gia; xem thêm El Zeidy, ‘The Principle of Complementarity’ tr. 903. [17] Quy chế Rome Điều 17(1). Hai giới hạn bổ sung tính hợp lệ về thẩm quyền của Tòa ICC bao gồm (c) “The person has already been tried for the conduct”; và (d) “The case is not of sufficient gravity to justify further action by the Court.” [18] Quy chế Rome Điều 86 và Điều 88. [19] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 13, “Thus the modern law of human rights and a considerable part of international criminal law have a common base” trích trong William A. Schabas, ‘Criminal Responsibility for Violations of Human Rights’ in Janusz Symonides (ed.), Human Rights, International Protection, Monitoring, Enforcement (Aldershot, 2003), tr. 281. [20] Xem Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr. 348-350. Tại các tòa án đặc thời như ICTY, “vi phạm nghiêm trọng” là một phần quan trọng trong thẩm quyền vật chất (Điều 2 Quy Chế ICTY), và những hành vi thuộc “vi phạm nghiên trọng” phản ánh luật tập quán quốc tế và rằng buộc toàn thể cộng đồng. [21][22] Công ước Geneva (I) năm 1949 về cải thiện tình trạng của thương binh và bệnh binh thuộc lực lượng vũ trang trên bộ, Điều 49; Công ước Geneva (II) năm 1949 về cải thiện tình trạng của thương binh, bệnh binh và người đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên biển, Điều 50; Công ước Geneva (III) năm 1949 về đối xử với tù binh chiến tranh, Điều 129; Công ước Geneva (IV) năm 1949 về bảo hộ thường dân trong thời chiến, Điều 146. [23] Nghị định thư bổ sung I năm 1977 đối với các Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 về bảo hộ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang quốc tế (Nghị định thư I), Điều 85-87. [24] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 9-10. [25] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 9, “Security Council resolutions 827(2003) and 955(2004), which set up the ICTY and ICTR respectively, were adopted by the Security Council pursuant to its powers under Chapter VII of the UN Charter, and thus find their binding force in Article 25 of the Charter.” Tạm dịch “Các nghị quyết 827(2003) và 955(2004) của Hội đồng Bảo an, lần lượt thành lập Tòa án Hình sự Quốc tế về Nam Tư cũ (ICTY) và Tòa án Hình sự Quốc tế về Rwanda (ICTR), đã được Hội đồng Bảo an thông qua theo quyền hạn của mình theo Chương VII của Hiến chương Liên hợp quốc, và do đó có hiệu lực ràng buộc theo Điều 25 của Hiến chương.” [26] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 163-164. [27] Hiến chương Liên Hợp Quốc, Điều 25; xem Mohamed M. El Zeidy, ‘The Principle of Complementarity: A New Machinery to Implement International Criminal Law’ (2002) 23 Michigan Journal of International Law 869, tr. 958, . [28] Hiến chương Liên Hợp Quốc, Điều 130 [29] Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 166. [30] Ilias Bantekas and Susan Nash, International Criminal Law (2nd edn, Routledge-Cavendish 2003), tr.1-2; xem thêm Robert Cryer and others, An Introduction to International Criminal Law and Procedure (Cambridge University Press 2010), tr. 6-7. [31] Nguyễn Thị Xuân Sơn, ‘Vấn đề gia nhập và thực thi Quy chế Rome về Tòa án Hình sự quốc tế - Nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia’ (2012) 28 Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học 228, tr. 228-239. [32] Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế (được thông qua ngày 17 tháng 7 năm 1998, có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2002) Điều 58. [33] Tòa án Hình sự Quốc tế, ‘How the Court Works’ (Tòa án Hình sự Quốc tế, truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026) https://www.icc-cpi.int/about/how-the-court-works. [34] Quy chế Rome Điều 58(7). [35] The Prosecutor v Germain Katanga and Mathieu Ngudjolo Chui, ICC-01/04-01/07 OA 8, Tòa án Hình sự Quốc tế, Kháng án thẩm, 25 tháng 9 năm 2009, refworld.org/caselaw/icc/2009/en/70161 (truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026). [36] Prosecutor v Abu Garda (Phân khoa Sơ thẩm I, Decision on the Prosecutor’s Application under Article 58, 7 tháng 5 năm 2009) ICC-02/05-02/09-1, đoạn 37 https://www.legal-tools.org/doc/126792 [37] Prosecutor v Abu Garda (Phân khoa Sơ thẩm I, Decision on the Prosecutor’s application under art 58, 7 tháng 5 năm 2009) ICC-02/05-02/09-1, đoạn 38 https://www.legal-tools.org/doc/126792/ [38] Quy chế Rome Chương IX. [39] Quy chế Rome Điều 86. [40] Parliamentarians for Global Action, ‘Cooperation — Rome Statute of the International Criminal Court’ (Parliamentarians for Global Action, truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026), https://www.pgaction.org/rome-statute/cooperation.htm l. [41] Quy chế Rome Điều 27(2). [42] Quy chế Rome Điều 93. [43] Quy chế Rome Điều 68. [44] Như [40]. [45] William A Schabas, An Introduction to the International Criminal Court (NXB Đại học Cambridge, xuất bản lần thứ 5, 2017) 381–384. [46] Quy chế Rome Điều 76(1). [47] Lubanga Sentencing Judgment đoạn 20. Xem thêm William A Schabas, ‘Article 76’ trong Otto Triffterer (chủ biên), Commentary on the Rome Statute of the International Criminal Court (NXB C H Beck/Hart/Nomos, xuất bản lần thứ 2, 2008) 1413. [48] Oliver Windridge, Anja Bossow và Julinda Beqiraj, Sentencing Criteria in International Criminal Law: Towards Consistency, Certainty and Fairness (Bingham Centre for the Rule of Law, 2018), https://www.biicl.org/documents/2070_sentencing_report_final.pdf, truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2026 [49] Quy chế Rome Phần 7. [50] Bemba Sentencing Decision đoạn 94. Cần lưu ý rằng bị cáo sau đó đã được trắng án khi kháng án; xem Prosecutor v Jean-Pierre Bemba Gombo (Judgment). [51] Prosecutor v Lubanga (Decision on Sentence) đoạn 33. [52] Prosecutor v Lubanga (Decision on Sentence) đoạn 35. [53] Prosecutor v Lubanga (Decision on Sentence) đoạn 56. [54] Prosecutor v Bemba (Decision on Sentence) đoạn 19. [55] Ahmad Sikainga, “The World’s Worst Humanitarian Crisis”: Understanding the Darfur Conflict’ Origins: Current Events in Historical Perspective (Tháng 2 năm 2009) https://origins.osu.edu/article/worlds-worst-humanitarian-crisis-understanding-darfur-conflict truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025 [56] SBS Vietnamese, Công lý cho các nạn nhân ở Darfur: ICC kết án chỉ huy quân đội phạm tội diệt chủng (podcast, SBS Vietnamese, truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025) https://www.sbs.com.au/language/vietnamese/vi/podcast-episode/cong-ly-cho-cac-nan-nhan-o-dafur-icc-ket-an-chi-huy-dan-quan-pham-toi-diet-chung/1sfr4r09v. [57] Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Nghị quyết 1593 (2005), thông qua ngày 31 tháng 3 năm 2005 https://digitallibrary.un.org/record/544817 truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025 [58] Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Nghị quyết 1593 (2005), S/RES/1593 (2005) (thông qua ngày 31 tháng 3 năm 2005); Quy chế Rome của Tòa án Hình sự Quốc tế, 17 tháng 7 năm 1998, 2187 U.N.T.S. 90, Điều 13(b). [59] “Darfur Genocide,” World Without Genocide (không ngày tháng) https://worldwithoutgenocide.org/genocides-and-conflicts/darfur-genocide truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025. [60] Coalition for the International Criminal Court, ‘Omar Al-Bashir’ (Coalition for the International Criminal Court, truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2025) https://www.coalitionfortheicc.org/cases/omar-albashir. [61] Quy chế Rome Điều 17(2). [62] Quy chế Rome Điều 17(3).

  • [90] DI DỜI CÓ KẾ HOẠCH TRƯỚC RỦI RO KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG: BẢO ĐẢM VỀ NHÀ Ở VÀ PHỤC HỒI SINH KẾ TRONG TÁI ĐỊNH CƯ

    Tác giả: Nguyễn Văn Hiền Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ sở pháp lý và thực tiễn bảo đảm nhà ở, phục hồi sinh kế trong di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trên cơ sở các quy định pháp luật quốc tế về quyền có nhà ở thích đáng, quyền làm việc và các nguyên tắc liên quan đến di dời trong nước, bài viết xây dựng khung đánh giá gồm ba phương diện: an toàn và tính thích đáng của nhà ở; khả năng duy trì, phục hồi sinh kế; và sự tham gia, giám sát sau di dời. Thông qua việc xem xét các chính sách bố trí dân cư và một số trường hợp tái định cư tại khu vực, bài viết chỉ ra những khó khăn về hạ tầng thiết yếu, khả năng tiếp cận việc làm, thu nhập và sự phù hợp giữa phương án tái định cư với nhu cầu của người dân. Từ đó, bài viết đề xuất hoàn thiện tiêu chí lựa chọn địa điểm, cơ chế hỗ trợ sinh kế và giám sát dài hạn nhằm hướng tới quá trình di dời an toàn, công bằng và bền vững. Mở đầu: Ngày 13/10/2026, Ngày Quốc tế Giảm nhẹ rủi ro thiên tai với chủ đề “Resilience Starts at Home” nhấn mạnh vai trò của nhà ở trong việc bảo vệ con người trước các rủi ro thiên tai. Thông điệp này gợi mở rằng, khả năng chống chịu không chỉ nằm ở việc bảo đảm một nơi ở an toàn, mà còn ở khả năng duy trì cuộc sống và phục hồi sau khi rủi ro xảy ra. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, tình trạng sạt lở, ngập lụt và xâm nhập mặn đặt ra yêu cầu di dời người dân khỏi những khu vực có nguy cơ cao. Tuy nhiên, di dời không đơn thuần là chuyển người dân đến nơi ở mới. Nếu thiếu hạ tầng thiết yếu hoặc không có điều kiện phục hồi hoạt động sản xuất, việc tái định cư có thể làm phát sinh những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Từ thực tiễn đó, bài viết “Di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long: Bảo đảm về nhà ở và phục hồi sinh kế trong tái định cư” tập trung phân tích thực tiễn triển khai và những hạn chế trong việc bảo đảm nhà ở, phục hồi sinh kế cho người dân. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng đảm bảo nhà ở và phục hồi sinh kế trong tái định cư và cơ chế thực hiện, hướng tới quá trình di dời không chỉ bảo vệ người dân trước rủi ro khí hậu mà còn bảo đảm điều kiện sống ổn định và bền vững tại nơi ở mới. 1. Cơ sở lý luận và khung pháp lý về di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu 1.1. Khái niệm và đặc điểm của di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu Biến đổi khí hậu và các nguy cơ thiên tai đặt ra yêu cầu xem xét lại những phương án bảo vệ cộng đồng không chỉ tại nơi cư trú hiện tại mà còn thông qua việc tổ chức di chuyển đến địa điểm an toàn hơn.[1] Trong nghiên cứu về thích ứng khí hậu, di dời có kế hoạch được xem là một phương án có thể được cân nhắc khi rủi ro tại nơi cư trú trở nên nghiêm trọng và việc tiếp tục sinh sống tại chỗ khó được bảo đảm an toàn trong dài hạn.[2] Theo tài liệu chính sách của Liên Hợp Quốc về di dời có kế hoạch trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hình thức di dời này có các đặc trưng cơ bản gồm tính tập thể, sự phối hợp của các chủ thể hỗ trợ, việc chuyển đến nơi ở mới có định hướng lâu dài và mối liên hệ với các nguy cơ khí hậu hiện hữu hoặc dự kiến trong tương lai.[3] Trên cơ sở đó, trong phạm vi bài viết, “di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu” được sử dụng như một khái niệm làm việc để chỉ quá trình được chuẩn bị và tổ chức nhằm chuyển cá nhân hoặc cộng đồng khỏi địa bàn có nguy cơ khí hậu đáng kể đến nơi cư trú an toàn hơn, đồng thời xem xét các điều kiện cần thiết để ổn định cuộc sống sau di dời.[4] Cần phân biệt di dời có kế hoạch với sơ tán khẩn cấp, di cư tự phát và tái định cư do Nhà nước thu hồi đất cho các mục đích phát triển. Sơ tán khẩn cấp thường nhằm đưa người dân ra khỏi tình huống nguy hiểm trước mắt, trong khi di dời có kế hoạch hướng đến việc chuyển nơi cư trú có tính lâu dài và đòi hỏi xem xét những hệ quả phát sinh sau khi di chuyển.[5] Tương tự, không thể mặc nhiên áp dụng toàn bộ cơ chế bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất cho mọi chương trình di dời do rủi ro khí hậu, bởi phạm vi áp dụng của pháp luật đất đai phụ thuộc vào căn cứ và hoàn cảnh pháp lý cụ thể của từng trường hợp.[6] Đặc điểm thứ nhất của di dời có kế hoạch là tính phòng ngừa, thể hiện ở việc xem xét rủi ro hiện tại và dự kiến để lựa chọn phương án bảo vệ người dân trước khi thiệt hại trở nên nghiêm trọng hơn.[7] Tuy nhiên, quyết định di dời không nên chỉ dựa trên sự hiện diện của nguy cơ thiên tai mà cần cân nhắc cả khả năng giảm thiểu rủi ro tại chỗ, mức độ ảnh hưởng đến cộng đồng và tính khả thi của địa điểm tiếp nhận. Theo đó, các phương án khả thi nhằm tránh hoặc giảm thiểu việc di dời cần được xem xét trước khi quyết định di chuyển người dân.[8] Đặc điểm thứ hai là tính dài hạn và đa chiều, bởi hiệu quả của di dời phụ thuộc không chỉ vào chất lượng nhà ở mà còn vào khả năng tiếp cận việc làm, dịch vụ thiết yếu và các nguồn lực cần thiết để duy trì cuộc sống.[9] Đặc điểm thứ ba là yêu cầu tham gia và tôn trọng nhu cầu của người bị ảnh hưởng, bởi người dân có thể chịu những tác động khác nhau tùy theo nghề nghiệp, nguồn thu nhập và mức độ phụ thuộc vào địa điểm cư trú cũ.[10] Vì vậy, việc di dời chỉ có thể được đánh giá đầy đủ khi xem xét đồng thời mức độ an toàn tại nơi ở mới, điều kiện phục hồi cuộc sống và vai trò của người dân trong các quyết định có ảnh hưởng trực tiếp đến họ. 1.2. Cơ sở pháp lý quốc tế về bảo đảm nhà ở và phục hồi sinh kế trong di dời có kế hoạch Pháp luật quốc tế về di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu không tập trung trong một điều ước riêng biệt, mà cần được xem xét từ các quy định về quyền con người kết hợp với những văn kiện hướng dẫn chuyên biệt về di dời. Trước hết, Điều 11(1) Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR) ghi nhận quyền được hưởng mức sống thích đáng, bao gồm nhà ở thích đáng.[11] Ủy ban về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa xác định những yếu tố đánh giá nhà ở thích đáng, gồm tính bảo đảm pháp lý của việc cư trú, khả năng chi trả, điều kiện có thể ở được và vị trí phù hợp với việc làm, dịch vụ thiết yếu.[12] Đây là cơ sở để đánh giá liệu nơi ở sau di dời có thực sự đáp ứng nhu cầu sinh sống của người dân, thay vì chỉ bảo đảm việc bố trí một công trình nhà ở.[13] Bên cạnh đó, Các Nguyên tắc Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về Di dời Trong nước năm 1998 (Guiding Principles on Internal Displacement) đưa ra những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến quá trình di dời.[14] Nguyên tắc 7 yêu cầu xem xét các phương án khả thi nhằm tránh di dời và, khi không thể tránh khỏi, giảm thiểu phạm vi cũng như tác động bất lợi; văn kiện cũng đề cập đến điều kiện an toàn, thông tin, tham vấn và sự tham gia của người bị ảnh hưởng.[15] Nguyên tắc 18 quy định về mức sống thích đáng của người di dời, bao gồm khả năng tiếp cận chỗ ở cơ bản, nước uống an toàn, thực phẩm và dịch vụ vệ sinh.[16] Tuy nhiên, đây là bộ nguyên tắc hướng dẫn, không phải điều ước quốc tế độc lập có tính ràng buộc tự thân. Về chính sách khí hậu, Quyết định 1/CP.16 của Hội nghị các Bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu kêu gọi tăng cường hiểu biết, phối hợp và hợp tác liên quan đến di cư, di dời và tái định cư có kế hoạch do biến đổi khí hậu gây ra.[17] Dù vậy, văn kiện này không thiết lập một chế độ pháp lý toàn diện về nhà ở và phục hồi sinh kế sau di dời. Đối với sinh kế, Điều 6 và Điều 11 ICESCR lần lượt ghi nhận quyền làm việc và quyền được hưởng mức sống thích đáng, tạo cơ sở xem xét những ảnh hưởng của di dời đối với việc làm, thu nhập và điều kiện sống.[18] Nghiên cứu 14 trường hợp di dời do lũ lụt cho thấy kết quả sinh kế của người dân phụ thuộc vào cách thức tổ chức di dời và mức độ tham gia của cộng đồng. Không có một yếu tố riêng lẻ nào có thể bảo đảm thành công trong mọi trường hợp.[19] Kết quả này có thể được sử dụng làm cơ sở tham khảo khi xây dựng tiêu chí đánh giá, nhưng không thể được xem là căn cứ trực tiếp để xác định nghĩa vụ pháp lý quốc tế.[20] Từ các nguồn trên, bài viết sử dụng ba phương diện đối chiếu: (i) tính an toàn và thích đáng của nhà ở; (ii) khả năng duy trì việc làm, thu nhập và sinh kế; và (iii) sự tham gia, tiếp cận thông tin và bảo vệ người bị di dời.[21] Đây là khung phân tích do người viết tổng hợp từ các quy phạm và tài liệu nghiên cứu, không phải bộ tiêu chí thống nhất đã được pháp luật quốc tế chính thức ban hành.[22] 1.3. Các tiêu chí đánh giá việc bảo đảm nhà ở và sinh kế trong di dời có kế hoạch Thứ nhất, tiêu chí về an toàn và tính thích đáng của nhà ở gồm mức độ giảm thiểu nguy cơ tại địa điểm mới, chất lượng nhà ở, khả năng tiếp cận nước sạch và các dịch vụ thiết yếu, tính phù hợp của vị trí cư trú và khả năng chi trả của hộ gia đình.[23] Khi đánh giá điều kiện nhà ở sau di dời, cần xem xét không chỉ việc căn nhà có đáp ứng các tiêu chuẩn xây dựng an toàn hay không, mà còn cả việc nơi ở mới có bảo đảm các điều kiện sinh hoạt cần thiết và giúp hộ gia đình ổn định cuộc sống lâu dài hay không.[24] Thứ hai, tiêu chí về duy trì và phục hồi sinh kế gồm khả năng tiếp tục nghề nghiệp, mức độ tiếp cận đất sản xuất và nguồn lực kinh tế, thay đổi thu nhập, chi phí phát sinh sau di dời và khả năng thực hiện nghĩa vụ tài chính liên quan đến nhà ở mới.[25] Việc đánh giá cần đặt các yếu tố này trong tương quan với điều kiện trước khi di dời, qua đó xác định liệu hộ gia đình có thể duy trì nguồn thu nhập [26];và từng bước ổn định đời sống tại nơi ở mới hay không. [27] Thứ ba, tiêu chí về sự tham gia và khả năng thực thi của khung pháp lý gồm việc người dân được cung cấp thông tin, có cơ hội tham gia vào quá trình lựa chọn phương án di dời, và được xác định rõ quyền lợi, cơ quan chịu trách nhiệm cùng cơ chế hỗ trợ có thể tiếp cận.[28]. Đồng thời, cần phân biệt giữa khoảng trống trong quy định pháp luật, sự thiếu liên kết giữa các nhóm quy định và khó khăn trong tổ chức thực hiện, bởi mỗi dạng vấn đề đòi hỏi cách giải quyết khác nhau.[29] 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn di dời có kế hoạch tại Đồng bằng sông Cửu Long 2.1. Khung chính sách về tái định cư trước rủi ro khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) chịu tác động đan xen của lũ, sạt lở bờ sông, xâm nhập mặn, sụt lún và biến đổi chế độ dòng chảy; mức độ tổn thương còn chịu ảnh hưởng của hoạt động khai thác tài nguyên, công trình kiểm soát lũ và sự phụ thuộc của sinh kế địa phương vào điều kiện tự nhiên.[30] Do đó, không nên quy mọi thiệt hại tại khu vực cho biến đổi khí hậu đơn thuần, mà cần xem xét tương tác giữa yếu tố khí hậu, điều kiện kinh tế – xã hội và hoạt động quản lý tài nguyên. Về chính sách, Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 đặt nền tảng cho định hướng phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Tiếp đó, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18/5/2022 phê duyệt Chương trình bố trí dân cư giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030. Đáng chú ý, Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 và Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26/6/2026 tiếp tục cụ thể hóa định hướng xử lý các rủi ro khí hậu tại khu vực này, trong đó đề cập đến việc sắp xếp, di dời dân cư khỏi những khu vực thường xuyên ngập úng hoặc có nguy cơ cao sụt lún, sạt lở, đồng thời ưu tiên đầu tư hạ tầng phục vụ di dời.[31] Đây là cơ sở quan trọng để tổ chức di chuyển dân cư khỏi nơi có nguy cơ cao và ổn định đời sống tại nơi đến.[32] Chương trình Sống chung với lũ được triển khai từ năm 1996, hướng đến bố trí nơi ở cho người dân sống trong vùng thường xuyên ngập lũ. Một nghiên cứu ghi nhận chương trình đã hình thành hơn 1.000 cụm tái định cư cho khoảng 200.000 hộ.[33] Quy mô này cho thấy tái định cư không phải biện pháp mới ở ĐBSCL, nhưng cũng đặt ra câu hỏi về khả năng duy trì sinh kế khi người dân chuyển khỏi không gian sản xuất quen thuộc. Một nghiên cứu khác tại xã Vĩnh Trí, tỉnh Long An và xã Long Thuận, tỉnh Đồng Tháp ghi nhận rằng chương trình có thể giúp các hộ có nhà ở an toàn hơn, song nhiều hộ được khảo sát gặp khó khăn về thu nhập, nợ vay và sự tham gia vào quyết định di dời.[34] Vì nghiên cứu này chỉ khảo sát hai địa bàn, các kết quả này nên được sử dụng như bằng chứng điển hình về rủi ro chính sách, không phải kết luận đại diện cho toàn bộ các khu tái định cư trong vùng.[35] Bên cạnh đó, di dời có tổ chức cần được phân biệt với di cư tự phát hoặc di cư để tìm việc làm.[36] Báo cáo của UNDP về di cư, tái định cư và biến đổi khí hậu tại Việt Nam cho thấy cần xem xét cả khu vực nơi đi và nơi đến khi xây dựng chính sách, bởi dịch chuyển dân cư có thể làm giảm ảnh hưởng trước thiên tai nhưng đồng thời tạo ra những thách thức mới về sinh kế và khả năng hòa nhập.[37] Vì vậy, phạm vi nghiên cứu này tập trung vào các chương trình bố trí dân cư có tổ chức tại ĐBSCL, thay vì mặc nhiên coi mọi trường hợp di cư trong vùng là hệ quả trực tiếp của biến đổi khí hậu. 2.2. Thực trạng bảo đảm nhà ở trong tái định cư Các chương trình bố trí dân cư đã tạo cơ sở để di chuyển hộ dân khỏi một số khu vực có nguy cơ thiên tai và hình thành các cụm dân cư có hạ tầng thiết yếu. Tuy nhiên, có nơi ở mới không đồng nghĩa với đã bảo đảm nhà ở thích đáng. Theo đó, đánh giá khu tái định cư cần vượt ra ngoài chỉ tiêu số hộ đã chuyển đến hoặc số căn nhà đã xây dựng.[38] Tại Long An và Đồng Tháp cho thấy việc bố trí nhà ở an toàn có thể đi kèm gánh nặng tài chính khi các hộ nghèo phải vay vốn để có đất hoặc xây dựng nhà. Ngoài ra, sự tham gia của cộng đồng vào quyết định về đối tượng và địa điểm tái định cư còn hạn chế trong các trường hợp được khảo sát.[39] Một nơi ở giảm nguy cơ sạt lở nhưng khiến hộ dân gánh nợ vượt khả năng trả nợ có thể tạo ra một dạng dễ bị tổn thương khác.[40] Một ví dụ cụ thể được Đài Truyền hình Việt Nam phản ánh năm 2017 là các khu tái định cư tại Cà Mau được xây dựng dở dang hoặc thiếu hạ tầng cơ bản.[41] Tại khu tái định cư Hương Mai, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tại thời điểm bài báo ghi nhận, chỉ gần 30 trong tổng số 261 hộ được cấp đất đã chuyển đến ở; một số nơi chưa có nước sinh hoạt, trong khi khoảng cách đến trường học gây khó khăn cho việc học của trẻ em.[42] Tình trạng hạ tầng xuống cấp hoặc không được khai thác hiệu quả còn xuất hiện trong những phản ánh sau đó tại Cà Mau. Theo Báo Cà Mau năm 2023, khu dân cư Hương Mai được đầu tư hạ tầng và bố trí 240 nền, nhưng sau hơn mười năm chỉ có 121 hộ xây nhà; hệ thống cấp nước đã ngừng hoạt động trong ba năm tính đến thời điểm bài báo, còn hệ thống thoát nước có nơi bị hư hỏng và tắc nghẽn.[43] Bài báo cũng ghi nhận người dân đã có nơi ở ổn định hơn trước thiên tai nhưng vẫn thiếu đất sản xuất, khó tìm việc làm và có thu nhập thấp.[44] Mặc dù Quyết định số 590/QĐ-TTg năm 2022 đặt ra khuôn khổ chương trình bố trí dân cư tại các vùng thiên tai và địa bàn đặc thù, trong khi Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26/6/2026 cập nhật định hướng hành động của Chính phủ nhằm ứng phó với tình trạng sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026–2035. Tuy nhiên, việc có các chương trình và định hướng này chưa đủ để kết luận rằng các khu tái định cư trên thực tế đều bảo đảm quyền có nhà ở thích đáng. Cần tiếp tục đánh giá việc thực hiện chính sách thông qua các tiêu chí cụ thể như chất lượng và độ an toàn của nhà ở, khả năng tiếp cận nước sạch và dịch vụ thiết yếu, mức chi phí phù hợp với thu nhập, cũng như khả năng duy trì và phục hồi sinh kế sau di dời. Theo đó, cần kiểm tra liệu việc lựa chọn địa điểm có tính đến nhu cầu của từng nhóm hộ, liệu người dân có cơ hội tham gia thực chất, và liệu cơ chế hỗ trợ có đủ linh hoạt để xử lý những khó khăn phát sinh sau khi chuyển đến hay không.[45] 2.3. Thực trạng bảo đảm phục hồi sinh kế sau tái định cư Sinh kế là một tiêu chí độc lập để đánh giá kết quả tái định cư, bởi nhiều hộ dân ĐBSCL phụ thuộc vào đất canh tác, đánh bắt thủy sản, chăn nuôi và các hoạt động kinh tế gắn với sông nước.[46] Khi chuyển đến nơi ở mới, khoảng cách tới đất sản xuất hoặc nguồn thu nhập có thể làm tăng chi phí sinh hoạt, buộc hộ dân thay đổi nghề nghiệp hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào việc làm phi nông nghiệp. Báo cáo của UNDP nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét sinh kế và điều kiện tại cả nơi đi lẫn nơi đến, thay vì chỉ tập trung vào việc bố trí chỗ ở.[47] Ghi nhận một số hộ tại khu tái định cư Cái Cám đã rời địa phương để tìm việc làm ngoài tỉnh vì khó duy trì cuộc sống bằng nghề biển; những hộ không có đủ vốn mua sắm ngư cụ càng khó tiếp tục nghề truyền thống.[48] Điều này cho thấy khả năng phục hồi sinh kế phụ thuộc không chỉ vào việc người dân có nhà ở mà còn vào khả năng tiếp cận vốn, công cụ sản xuất, việc làm và thị trường. Đáng chú ý, người dân phản ánh rằng diện tích sân phơi thủy hải sản dự kiến phục vụ khu dân cư bờ Bắc có thể chưa phù hợp với nhu cầu thực tế của các hộ làm nghề biển.[49] Trường hợp này đặt ra câu hỏi liệu việc lập quy hoạch tái định cư đã tính đầy đủ đến đặc điểm sinh kế tại địa phương hay chưa, thay vì chỉ đánh giá nhu cầu về nền đất và nhà ở. Những khó khăn tương tự đã được phản ánh tại các khu tái định cư khác ở Cà Mau. Trong năm 2020, Báo Cà Mau ghi nhận một số hộ sau khi chuyển đến nơi ở mới không có đất sản xuất, khó tìm việc làm ổn định và phải đi làm thuê hoặc rời địa phương để kiếm sống.[50] Một người dân tại khu tái định cư ở thị xã Giá Rai cho biết gia đình kỳ vọng có thêm điều kiện sản xuất sau khi chuyển đến nơi mới, nhưng thực tế không có đất canh tác và phải tìm việc tại các cơ sở chế biến tôm hoặc đi làm xa. Đây là minh chứng thực tế cho khoảng cách giữa mục tiêu an cư, lạc nghiệp và kết quả sau tái định cư trong những trường hợp được báo chí ghi nhận.[51] Tại Long An và Đồng Tháp ghi nhận phần lớn hộ được khảo sát có thu nhập giảm sau tái định cư và gặp khó khăn trong việc hoàn trả các khoản nợ liên quan đến việc chuyển đến nơi ở mới.[52] Kết quả này cho thấy mô hình hỗ trợ dựa đáng kể vào khoản vay có thể không phù hợp với những hộ nghèo có thu nhập bấp bênh.[53] Từ các trường hợp nêu trên, có thể nhận diện một hạn chế cần tiếp tục kiểm chứng trong thực hiện chính sách: việc bố trí dân cư đôi khi chưa được gắn kết đầy đủ với kế hoạch duy trì hoặc phục hồi sinh kế của từng nhóm hộ.[79] Quyết định số 590/QĐ-TTg năm 2022 đặt việc bố trí dân cư trong một chương trình có liên quan đến ổn định đời sống và điều kiện sản xuất, nhưng hiệu quả thực tế cần được đánh giá qua việc các hộ có tiếp cận được việc làm, đất sản xuất hoặc phương án tạo thu nhập phù hợp hay không.[54] Vì vậy, đánh giá hậu tái định cư cần xem xét không chỉ số hộ đã chuyển đến mà còn cả tình trạng việc làm, thu nhập, khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất và việc duy trì hoạt động kinh tế tại nơi ở mới. 3. Định hướng hoàn thiện cơ chế bảo đảm nhà ở và phục hồi sinh kế trong di dời có kế hoạch trước rủi ro khí hậu ở Đồng bằng sông Cửu Long 3.1. Bảo đảm nhà ở an toàn, thích đáng sau di dời Thứ nhất, cần cụ thể hóa tiêu chí lựa chọn địa điểm tái định cư theo đặc điểm rủi ro khí hậu của từng khu vực. Việc đánh giá không nên chỉ căn cứ vào mức độ an toàn tại thời điểm xây dựng mà cần xem xét nguy cơ sạt lở, ngập lụt, sụt lún và các rủi ro có thể gia tăng trong tương lai. Bên cạnh đó, địa điểm mới cần có khả năng tiếp cận đường giao thông, nước sạch, điện, trường học, cơ sở y tế và các điều kiện thiết yếu khác. Đây là cơ sở để hạn chế tình trạng người dân được bố trí nhà ở nhưng vẫn gặp khó khăn trong sinh hoạt hoặc tiếp cận dịch vụ cơ bản. Thứ hai, cần đánh giá chất lượng nhà ở theo cách tiếp cận quyền có nhà ở thích đáng. Theo Ủy ban Liên hợp quốc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, tính thích đáng của nhà ở bao gồm nhiều yếu tố như an toàn pháp lý về chỗ ở, khả năng chi trả, khả năng tiếp cận dịch vụ, khả năng sinh sống an toàn, vị trí và sự phù hợp văn hóa. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật không nên chỉ tập trung vào tiêu chuẩn xây dựng hoặc số lượng căn nhà được bàn giao, mà cần xem xét liệu người dân có thể duy trì chỗ ở ổn định mà không phải hy sinh những nhu cầu thiết yếu khác hay không. Thứ ba, cần làm rõ trách nhiệm kiểm tra và khắc phục bất cập tại khu tái định cư. Trước khi bố trí dân cư, cơ quan có thẩm quyền cần đánh giá mức độ đáp ứng của nhà ở và hạ tầng thiết yếu; sau khi người dân chuyển đến, cần có cơ chế tiếp nhận phản ánh và xử lý những thiếu hụt phát sinh. Đối với các trường hợp chưa đáp ứng điều kiện thiết yếu, cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm khắc phục, thời hạn thực hiện và nguồn kinh phí. Các yêu cầu này nên được xây dựng trên cơ sở rà soát quy định hiện hành, nhằm xác định chính xác nội dung cần bổ sung thay vì tạo ra các thủ tục trùng lặp. 3.2. Bảo đảm phục hồi sinh kế sau di dời Trước hết, cần nghiên cứu bổ sung yêu cầu đánh giá tác động sinh kế trước khi phê duyệt phương án di dời. Nội dung đánh giá nên bao gồm nghề nghiệp, nguồn thu nhập chính, tài sản sản xuất, mức độ phụ thuộc vào đất đai và tài nguyên tự nhiên, khả năng tiếp cận thị trường cũng như nghĩa vụ nợ hiện có. Kết quả này cần được sử dụng để xây dựng phương án hỗ trợ phù hợp với từng nhóm hộ, thay vì áp dụng đồng loạt một gói chính sách. Chẳng hạn, nhu cầu của hộ làm nông nghiệp có thể khác đáng kể với hộ sống bằng nghề đánh bắt, nuôi trồng thủy sản hoặc lao động phi chính thức. Tiếp theo, cần kết nối các biện pháp hỗ trợ tài chính với khả năng phục hồi thu nhập trên thực tế. Đào tạo nghề, hỗ trợ chuyển đổi việc làm và tín dụng có thể hữu ích, nhưng hiệu quả phụ thuộc vào nhu cầu thị trường, năng lực của người dân và khả năng tiếp cận việc làm sau đào tạo. Vì vậy, phương án phục hồi sinh kế cần xác định mục tiêu, biện pháp hỗ trợ, nguồn kinh phí và cơ quan chịu trách nhiệm. Đối với hỗ trợ bằng khoản vay, cần xem xét khả năng trả nợ và nguy cơ khiến hộ gia đình rơi vào khó khăn tài chính kéo dài. Về phương diện pháp lý, Luật Đất đai 2024 quy định các hình thức hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, trong đó có hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất, đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; Nghị định 88/2024/NĐ-CP hướng dẫn thực hiện các chính sách liên quan. Tuy nhiên, đây là cơ chế gắn với trường hợp Nhà nước thu hồi đất, không đương nhiên điều chỉnh mọi trường hợp bố trí dân cư do thiên tai.[55] Do đó, cần rà soát sự tương thích giữa cơ chế này với chương trình bố trí dân cư theo Quyết định 590/QĐ-TTg và các văn bản hướng dẫn, qua đó xác định những nhóm đối tượng còn thiếu hỗ trợ hoặc chưa được quy định rõ về trách nhiệm thực hiện.[56] Cuối cùng, cần đánh giá kết quả phục hồi sinh kế sau di dời bằng các chỉ số có thể kiểm chứng như thay đổi thu nhập, tình trạng việc làm, khả năng tiếp cận nguồn lực sản xuất và gánh nặng nợ. Những chỉ số này cần được so sánh với tình trạng của hộ trước khi di dời và được xem xét trong bối cảnh biến động kinh tế, môi trường. Mục tiêu không nhất thiết là cam kết mọi hộ đều khôi phục ngay mức thu nhập cũ, mà là bảo đảm có cơ chế hỗ trợ phù hợp, phát hiện kịp thời những hộ gặp khó khăn và điều chỉnh chính sách khi cần thiết. 3.3. Bảo đảm sự tham gia của người dân và giám sát sau di dời Trước tiên, cần thiết lập cơ chế giám sát sau di dời, không giới hạn việc đánh giá ở thời điểm hoàn thành công trình. Nội dung giám sát cần bao gồm chất lượng nhà ở, khả năng tiếp cận dịch vụ thiết yếu, tình trạng việc làm, thu nhập và những khó khăn phát sinh trong quá trình ổn định cuộc sống. Cần xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi, phương thức tiếp nhận phản ánh và trách nhiệm xử lý khi các điều kiện đã cam kết không được đáp ứng. Việc công khai kết quả giám sát sẽ góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình và tạo cơ sở điều chỉnh chính sách. Đặc biệt, cần chú ý đến các hộ nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật và những hộ phụ thuộc nhiều vào tài nguyên tại nơi ở cũ, bởi họ có thể gặp nhiều trở ngại hơn trong quá trình thích nghi. Việc tham vấn cần bảo đảm các nhóm này có khả năng tiếp cận thông tin và bày tỏ nhu cầu thực tế. Qua đó, sự tham gia của cộng đồng không chỉ là thủ tục hành chính mà còn là cơ chế giúp phương án di dời phù hợp hơn với điều kiện sống và khả năng phục hồi của từng hộ gia đình. Kết luận: Trước những rủi ro khí hậu ngày càng gia tăng tại Đồng bằng sông Cửu Long, di dời có kế hoạch không chỉ đặt ra yêu cầu bảo đảm nơi ở an toàn mà còn phải giúp người dân ổn định cuộc sống lâu dài. Vì vậy, Việt Nam cần gắn tái định cư với nhu cầu nhà ở, việc làm và sinh kế của từng nhóm hộ; đồng thời tăng cường sự tham gia của người dân và giám sát sau di dời. Về lâu dài, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp chính sách và hỗ trợ linh hoạt sẽ góp phần hạn chế những khó khăn phát sinh tại nơi ở mới. Qua đó, di dời có kế hoạch không chỉ là giải pháp giảm thiểu rủi ro trước mắt mà còn tạo nền tảng để cộng đồng thích ứng bền vững với biến đổi khí hậu. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution, 11 June 2015) accessed 11 October 2026. [2] The Brookings Institution, “Guidance on Protecting People from Disasters and Environmental Change through Planned Relocation” (7 October 2015) https://www.brookings.edu/articles/guidance-on-protecting-people-from-disasters-and-environmental-change-through-planned-relocation/ accessed 12 October 2026. [3] ibid. [4] ibid. [5] ibid. [6] Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18 tháng 1 năm 2024, Điều 78–80, 91; Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ, Điều 1–2. [7] The Brookings Institution (n 2). [8] ibid. [9] Erica Bower and others, “Enabling Pathways for Sustainable Livelihoods in Planned Relocation” (2023) 13 Nature Climate Change 920 https://doi.org/10.1038/s41558-023-01753-x accessed 12 October 2026. [10] UN Commission on Human Rights, “Guiding Principles on Internal Displacement” (11 February 1998) UN Doc E/CN.4/1998/53/Add.2, principle 7. [11] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 3 January 1976) 993 UNTS 3, art 11(1). [12] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights, “General Comment No 4: The Right to Adequate Housing (Art 11(1) of the Covenant)” (13 December 1991) UN Doc E/1992/23, para 8. [13] ibid. [14] UN Commission on Human Rights (n 10). [15] ibid, principle 7. [16] ibid, principle 18. [17] UNFCCC, “The Cancun Agreements: Outcome of the Work of the Ad Hoc Working Group on Long-term Cooperative Action under the Convention”, Decision 1/CP.16, UN Doc FCCC/CP/2010/7/Add.1 (15 March 2011) para 14(f). [18] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (n 12) arts 6 and 11(1). [19] Bower and others (n 9). [20] ibid. [21] International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (n 12) arts 6 and 11(1); UN Commission on Human Rights (n 13) principles 7 and 18. [22] Haomiao Du and others, “A Framework for Reviewing Laws and Policies for Climate Resilience: The Case of the Vietnamese Mekong Delta” (2023) 66(6) Journal of Environmental Planning and Management 1280–1304 https://doi.org/10.1080/09640568.2022.2026308. [23] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights (n 12) para 8. [24] The Brookings Institution (n 2). [25] Bower and others (n 19). [26] ibid. [27] ibid. [28] UN Commission on Human Rights (n 10) principle 7. [29] Du and others (n 22). [30] Eek Leng Syvitski and others, ‘Linking Rapid Erosion of the Mekong River Delta to Human Activities’ (2015) 5 Scientific Reports 14745 https://doi.org/10.1038/srep14745. [31] Chính phủ, Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu https://vanban.chinhphu.vn/?docid=192249&pageid=27160; Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2022 phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030 https://vanban.chinhphu.vn/?docid=205794&pageid=27160; Bộ Chính trị, Kết luận số 26-KL/TW ngày 24 tháng 4 năm 2026 về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2026–2035 https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/ket-luan-so-26-kl-tw-ve-phong-chong-sut-lun-sat-lo-ngap-ung-han-han-xam-nhap-man-vung-dong-bang-song-cuu-long-giai-doan-2026-2035-119260429121512556.htm; Chính phủ, Nghị quyết số 166/NQ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2026 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 26-KL/TW ngày 24 tháng 4 năm 2026 của Bộ Chính trị https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/nghi-quyet-so-166-nq-cp-469891.htm. [32] Du and others (n 22). [33] Vo Thanh Danh and Shahbaz Mushtaq, “Living with Floods: An Evaluation of the Resettlement Program of the Mekong Delta of Vietnam” in Environmental Change and Agricultural Sustainability in the Mekong Delta (Springer 2011) 181 https://doi.org/10.1007/978-94-007-0934-8_11. [34] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution 2015) https://www.brookings.edu/articles/planned-relocations-in-the-mekong-delta-vietnam-a-successful-model-for-climate-change-adaptation-a-cautionary-tale-or-both/. [35] Jane M Chun (n 34). [36] United Nations Development Programme, Migration, Resettlement and Climate Change in Viet Nam: Reducing Exposure and Vulnerabilities to Climatic Extremes and Stresses through Spontaneous and Guided Migration (UNDP 2014) https://www.undp.org/vietnam/publications/migration-resettlement-and-climate-change-viet-nam. [37] United Nations Development Programme (n 36). [38] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights, “General Comment No 4: The Right to Adequate Housing (Art 11(1) of the Covenant)” (13 December 1991) UN Doc E/1992/23, para 8 https://www.refworld.org/legal/general/cescr/1991/en/53157. [39] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution, 11 June 2015) https://www.brookings.edu/articles/planned-relocations-in-the-mekong-delta-vietnam-a-successful-model-for-climate-change-adaptation-a-cautionary-tale-or-both/ accessed 12 October 2026. [40] Jane M Chun (n 39); UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights (n 38) para 8. [41] Tuyết Mai, ‘Cà Mau: Nhiều khu tái định cư cho người dân vùng sạt lở thiếu hạ tầng’ (VTV.vn, 10 December 2017) https://vtv.vn/trong-nuoc/ca-mau-nhieu-khu-tai-dinh-cu-cho-nguoi-dan-vung-sat-lo-thieu-ha-tang-20171210220502361.htm accessed 12 October 2026. [42] Tuyết Mai (n 41). [43] Nguyễn Phú, ‘Tái định cư không chỉ là ổn định nơi ở’ (Báo Cà Mau, 16 February 2023) https://baocamau.vn/tai-dinh-cu-khong-chi-la-on-dinh-noi-o-a22846.html accessed 12 October 2026. [44] Nguyễn Phú (n 43). [45] UN Committee on Economic, Social and Cultural Rights (n 38) para 8; Elizabeth Ferris, Sanjula Weerasinghe and Dan Chazalnoel, ‘Guidance on Protecting People from Disasters and Environmental Change through Planned Relocation’ (Brookings Institution, Georgetown University and UNHCR, 7 October 2015) https://www.brookings.edu/articles/guidance-on-protecting-people-from-disasters-and-environmental-change-through-planned-relocation/ accessed 12 October 2026. [46] United Nations Development Programme, Migration, Resettlement and Climate Change in Viet Nam: Reducing Exposure and Vulnerabilities to Climatic Extremes and Stresses through Spontaneous and Guided Migration (UNDP 2014) https://www.undp.org/vietnam/publications/migration-resettlement-and-climate-change-viet-nam. [47] United Nations Development Programme (n 46). [48] “Trăn trở sinh kế tái định cư” (Báo Cà Mau, 31 October 2022) https://baocamau.vn/tran-tro-sinh-ke-tai-dinh-cu-a22253.html accessed 12 October 2026. [49] “Trăn trở sinh kế tái định cư” (n 48). [50] “Nan giải bài toán định canh - định cư - Bài 1: Cung chưa đủ cầu’ (Báo Cà Mau, 20 March 2023) https://baocamau.vn/nan-giai-bai-toan-dinh-canh-dinh-cu-bai-1-cung-chua-du-cau-a12952.html accessed 12 October 2026. [51] ‘Nan giải bài toán định canh - định cư - Bài 1: Cung chưa đủ cầu’ (n 50). [52] Jane M Chun, “Planned Relocations in the Mekong Delta, Vietnam: A Successful Model for Climate Change Adaptation, a Cautionary Tale, or Both?” (Brookings Institution, 11 June 2015) https://www.brookings.edu/articles/planned-relocations-in-the-mekong-delta-vietnam-a-successful-model-for-climate-change-adaptation-a-cautionary-tale-or-both/ accessed 12 October 2026. [53] Jane M Chun (n 52). [54] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2022 phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030 https://vanban.chinhphu.vn/?classid=2&docid=205794&pageid=27160. [55] Quốc hội, Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18 tháng 1 năm 2024, các điều 108–109; Chính phủ, Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2024 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, đặc biệt các điều 22–23 https://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=171513. [56] Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2022 phê duyệt Chương trình Bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030, mục I và mục IV https://vanban.chinhphu.vn/?classid=2&docid=205794&pageid=27160.

Xem tất cả

Trang khác (47)

  • Nguyễn Quỳnh Diệp | Juris Exploratores

    NHIỆM KỲ 2023 - 2024 BAN BIÊN TẬP VÀ CỐ VẤN Dư Vũ Quỳnh Anh Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 48 Phạm Quốc Hào Phó Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khoá 49 Trịnh Bình Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Tạ Quang Minh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Nguyễn Phương Linh Cố vấn - Sinh viên khoá 48 Dương Duy Khang Biên tập viên - Sinh viên khoá 49 ĐỘI NGŨ XÂY DỰNG NỘI DUNG Nguyễn Quỳnh Diệp Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Chu Trang Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Hoàng Hải Vân Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Nguyễn Khánh Linh Thành viên - Sinh viên Khoá 47 Nguyễn Vũ Khôi Việt Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Phạm Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Hoàng Dũng Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Phạm Thanh Huyền Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Dương Hải Anh Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Tăng Bảo Đan Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Phan Nguyễn Quỳnh Nhi Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lê Thị Hiền Hạnh Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Đinh Văn Khiêm Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Nguyễn Thị Minh Hằng Sinh viên Khoá 49 Lê Nhật Quỳnh Thành viên - Sinh viên Khoá 48 Lương Vũ Khánh Ly Thành viên - Sinh viên Khoá 48 NHIỆM KỲ 2024 - 2025

  • Luật Môi trường Quốc tế | Juris Exploratores

    LUẬT MÔI TRƯỜNG QUỐC TẾ [81] QUY ĐỊNH NGOẠI LỆ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH CỦATỔ CHỨC THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (WTO) [72] TỔNG QUAN CÁC HIỆP ĐỊNH VỀ NGHỀ CÁ [60] TỔNG QUAN VỀ BẢO TỒN VÀ SỬ DỤNG BỀN VỮNG ĐA DẠNG SINH HỌC BIỂN TẠI KHU VỰC NGOÀI QUYỀN TÀI PHÁN QUỐC GIA

  • Chu Trang Anh | Juris Exploratores

    GIỚI THIỆU DỰ ÁN Website Juris Exploratores được thành lập bởi sinh viên Khoa Luật Quốc tế Học viện Ngoại Giao trên cơ sở Ban Nghiên cứu Pháp lý của Ban tổ chức Hoạt động Sinh viên Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao. Mục đích chính của website là cung cấp một nền tảng thông tin, học hỏi và trao đổi về các khía cạnh pháp luật quốc tế, nhằm thúc đẩy sự hiểu biết, nâng cao nhận thức và hỗ trợ việc nghiên cứu. Tập thể thành viên nhiệm kỳ 2025-2026 Hàng tháng, website sẽ cung cấp tới các bạn đọc những bài viết về nghiên cứu pháp luật quốc tế và giới thiệu các hoạt động học thuật của sinh viên Khoa Luật Quốc tế, Học viện Ngoại giao. Cung cấp thông tin đa dạng về pháp luật quốc tế: Trang web nhằm cung cấp các tài liệu, bài viết và thông tin liên quan đến các lĩnh vực pháp luật khác nhau, từ pháp luật quốc tế đến pháp luật nội địa, giúp người đọc tiếp cận thông tin một cách toàn diện. Hỗ trợ nghiên cứu và học tập: Trang web cung cấp tài liệu và nguồn tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu và học tập về pháp luật, giúp người đọc nâng cao khả năng nghiên cứu, phân tích và ứng dụng pháp luật vào thực tế. Thảo luận và trao đổi kiến thức: Trang web tạo môi trường cho các cuộc thảo luận, bình luận và trao đổi kiến thức giữa các thành viên trong cộng đồng pháp luật. Người đọc có cơ hội chia sẻ ý kiến, trao đổi quan điểm và học hỏi từ nhau. MỤC ĐÍCH HOẠT ĐỘNG NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG 1 Bài viết được đăng trên website này không đại diện cho bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào. Mọi quan điểm và thông tin chỉ là ý kiến cá nhân của tác giả và không phản ánh quan điểm chính thức của website. Tác giả chịu mọi trách nhiệm về nội dung trong bài viết. 2 Việc sử dụng, phát hành và đăng tải lại các bài viết trên website của Dự án, cần phải trích dẫn đầy đủ tên tác giả, năm xuất bản, tên bài viết và đường dẫn đến trang web. Tuyệt đối không được thay đổi nội dung của bài viết nếu không có sự đồng ý của Ban biên tập. 3 Tất cả bài nghiên cứu, và tài liệu khác được đăng trên trang web này đều thuộc quyền sở hữu tác giả hoặc các chủ sở hữu bản quyền tương ứng. Bạn đọc có nghĩa vụ không phân phối hoặc sử dụng bài viết cho mục đích thương mại mà không có sự đồng ý từ tác giả và Ban biên tập. BAN BIÊN TẬP VÀ CỐ VẤN Lê Thị Hiền Hạnh Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 50 Đinh Văn Khiêm Trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 50 Nguyễn Ngọc Trâm Phó trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 51 Trương Hoàng Khôi Nguyên Phó trưởng Ban Biên tập - Sinh viên Khóa 51 Dương Duy Khang Cố vấn - Sinh viên khoá 49 Phạm Quốc Hào Cố vấn - Sinh viên khoá 49 Phạm Thanh Huyền Cố vấn - Sinh viên khoá 49 ĐỘI NGŨ XÂY DỰNG NỘI DUNG Nguyễn Thị Minh Hằng Thành viên - Sinh viên Khoá 49 Nguyễn Vũ Khôi Việt Thành viên - Sinh viên Khoá 50 Cao Bình Nguyên Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Nguyễn Hoàng Trang Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Phùng Đăng Khôi Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Phạm Minh Ngọc Thành viên - Sinh viên Khóa 50 Kiều Thu Chang Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Đặng Quốc Dũng Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Phạm Thị Lan Hương Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Phạm Diệp Anh Thành viên - Sinh viên Khóa 51 Hà Kiều Anh Thành viên - Sinh viên Khóa 52 Bùi Nguyên Gia Phúc Thành viên - Sinh viên Khóa 52 Lê Thùy Dung Thành viên - Sinh viên Khóa 52 Cao Ngọc Khánh Linh Thành viên - Sinh viên Khóa 52 NHIỆM KỲ 2024 - 2025

Xem tất cả
bottom of page