top of page
icj 1.jpeg

[91] CƠ CHẾ THỰC THI TRONG LUẬT HÌNH SỰ QUỐC TẾ

Nguyễn Văn Hiền, Phạm Thị Lan Hương, Kiều Thu Chang
21 giờ trước
27 phút đọc

Tác giả: Phạm Thị Lan Hương, Nguyễn Văn Hiền, Kiều Thu Chang


Tóm tắt: Trên cơ sở khung pháp lý và những cơ chế thực thi đã được phân tích ở phần trước, vấn đề đặt ra là các quy định của Luật Hình sự Quốc tế (ICL) được hiện thực hóa như thế nào trong thực tiễn. Mặc dù các thiết chế tài phán quốc tế đã góp phần xác lập trách nhiệm hình sự cá nhân đối với những tội phạm nghiêm trọng nhất, hiệu quả thực thi vẫn phụ thuộc đáng kể vào sự hợp tác của các quốc gia và hoạt động hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Do đó, phần này tập trung làm rõ vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và một số tổ chức quốc tế trong việc thúc đẩy thực thi ICL, đồng thời phân tích các cơ chế thực thi ở cấp quốc gia, bao gồm hợp tác tư pháp hình sự và thẩm quyền tài phán phổ quát. Trên cơ sở thực tiễn áp dụng, bài viết tiếp tục đánh giá hiệu quả, những hạn chế về pháp lý, thể chế và chính trị, từ đó đề xuất các định hướng nhằm nâng cao tính hiệu quả và nhất quán của cơ chế thực thi ICL.


2.2 Thực thi thông qua các tổ chức quốc tế 

2.2.1 Vai trò của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc 

ICC được nhìn nhận như một tòa án độc lập, có tư cách pháp nhân quốc tế và có năng lực pháp lý cần thiết để thực hiện các chức năng và hoàn thiện các mục đích của mình.[63] Tuy nhiên xét về bản chất, tòa vẫn có mối quan hệ chặt chẽ với Liên Hợp Quốc được nêu trong Quy chế của Tòa án, trong Thỏa thuận về quan hệ giữa Tòa án với Liên hợp quốc được ký kết ngày 4 tháng 10 năm 2004.[64] Trọng tâm của thỏa thuận này thể hiện ở vai trò của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đối với Tòa án, cụ thể, Hiến chương Liên hợp quốc có vai trò khuôn khổ hóa các hoạt động của tòa án trong vấn đề giữ gìn hòa bình và an ninh quốc tế.[65] Trong bối cảnh hình thành và hoạt động của ICC, Hội đồng Bảo an có quyền giới thiệu các tình huống đe doạ hoà bình cho Toà án xem xét, kể cả đối với các quốc gia không phải là thành viên của Quy chế Rome.[66] Tuy nhiên, vai trò này gây ra nhiều tranh luận pháp lý liên quan đến tính độc lập tư pháp của ICC, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền quốc gia và nguy cơ chính trị hoá hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế, đặc biệt do cơ chế quyền phủ quyết của các quốc gia thường trực. Trên thực tế, cơ chế này có thể khiến các quốc gia thường trực Hội đồng Bảo an rơi vào vị thế gần như đứng trên pháp luật quốc tế, bởi các hành vi vi phạm nghiêm trọng do họ hoặc công dân của họ thực hiện rất khó có khả năng bị đưa ra trước Tòa án Hình sự Quốc tế. Quan ngại này đã được nhiều quốc gia đang phát triển, tiêu biểu như Ấn Độ, Namibia và Sierra Leone, nhấn mạnh trong quá trình đàm phán Quy chế Rome. Theo các quốc gia này, việc trao cho Hội đồng Bảo an quyền kiểm soát việc kích hoạt thẩm quyền tài phán của ICC có nguy cơ tạo ra sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu, làm suy yếu nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và ảnh hưởng tiêu cực đến tính công bằng của hệ thống luật hình sự quốc tế.[67]

Thứ nhất, vai trò của Hội đồng Bảo an trong việc xác định căn cứ để Tòa án thực hiện quyền tài phán theo Điều 13 Quy chế Rome, bao gồm ba trường hợp: do quốc gia thành viên yêu cầu; do Hội đồng Bảo an yêu cầu hoặc do bản thân Trưởng công tố tự mình mở cuộc điều tra. Đối với trường hợp điều tra do Hội đồng Bảo an yêu cầu, điểm b Điều 13 quy định: 

“Tòa án có thể thực hiện quyền tài phán đối với các tội phạm nêu tại Điều 5 theo các quy định của Quy chế này nếu:

….

b. Một vụ việc trong đó một hay nhiều tội phạm nêu trên đã xảy ra được Hội đồng Bảo an thông báo cho Trưởng công tố theo thẩm quyền quy định tại Chương VII Hiến chương Liên hợp quốc.” 

  Khi Hội đồng Bảo an yêu cầu Tòa án căn cứ vào điều trên thì quy trình sẽ được tiến hành theo Khoản 1 Điều 17 trong Thỏa thuận hợp tác giữa Hội đồng Bảo an và Tòa án. Theo đó, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc đóng vai trò trung gian, có trách nhiệm chuyển quyết định và tài liệu liên quan cho Công Tố viên. Trong quá trình xét xử vụ việc, Tòa án luôn phải đảm bảo Hội đồng Bảo An được thông tin đầy đủ theo đúng các quy định hiện hành và mọi liên lạc chính thức giữa Tòa án và Hội đồng Bảo an đều được thông qua Tổng Thư ký. Thực hiện quyền truy tố theo yêu cầu của Hội đồng Bảo an giúp Tòa án mở rộng thẩm quyền của mình ra ngoài các quốc gia thành viên, bởi để thực thi quyền tài phán theo yêu cầu của một quốc gia thành viên hoặc theo chủ ý của Công tố trưởng thì phải thỏa mãn một trong hai điều kiện sau: quốc gia đó là nơi xảy ra hành vi phạm tội hoặc quốc gia mà người bị cáo buộc mang quốc tịch đều là thành viên của Quy chế.[68] Về mặt thủ tục, để Tòa án thực thi thẩm quyền của mình theo điểm b Điều 13 thì trước hết Hội đồng Bảo an phải xác định “Tình huống - situation” đang “đe dọa hòa bình, phá hoại hòa bình hoặc hành vi xâm lược” được quy định của Chương VII của Hiến chương. Về mặt nội dung, có thể hiểu Quy chế Rome trao cho Hội đồng Bảo an quyền thông báo các vụ việc làm cơ sở cho ICC thực hiện thẩm quyền của mình chứ Hội đồng Bảo an không thể yêu cầu Tòa án truy tố xét xử một hành vi tội phạm cụ thể. 

Cho đến nay, có hai vụ án xảy ra tại các quốc gia không phải thành viên của Quy chế Rome được Hội đồng Bảo an chuyển cho ICC, là Dafur - Sudan (2005) với cáo buộc các quan chức cấp cao của nước này đã phạm tội diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.[69] Tình hình ở Dafur là trường hợp đầu tiên Hội đồng Bảo an chuyển giao cho Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) và Cựu Tổng thống Sudan Al-Bashir cũng là vị Tổng thống đương nhiệm đầu tiên bị tòa án Hình sự truy nã. Tương tự với tình hình xảy ra tại Lybia (2011) bắt đầu dưới chế độ của  Muammar Mohammed Abu Minyar Gaddafi, chính quyền Gaddafi sử dụng vũ lực tàn bạo trấn áp thường dân cùng các cuộc biểu tình hòa bình dẫn đến hàng trăm nghìn người phải di dời, con số thương vong theo ước tính của Liên Hợp Quốc lên đến 25.000 chỉ riêng cuộc nội chiến vào năm 2011.[70]  

Thứ hai, nếu không lựa chọn chuyển vụ việc cho Tòa án, Hội đồng Bảo an có thể tự thực thi thẩm quyền của mình theo quy định của Chương VII trong Hiến chương. Khi nhận thấy được mối đe dọa đến hòa bình và an ninh thế giới, mọi biện pháp từ phi vũ lực (biện pháp khẩn cấp tạm thời, cấm vận kinh tế, cắt đứt quan hệ ngoại giao, thông tin, giao thông,...) đến sử dụng vũ lực một cách cần thiết (hải, lục, không quân để phong tỏa biểu dương các cuộc hành quân khác) để duy trì và khôi phục hòa bình, an ninh thế giới. 

Bên cạnh đó, theo Điều 16 của Quy chế Rome, Hội đồng Bảo an không chỉ có quyền “kích hoạt” thẩm quyền của Tòa án Hình sự Quốc tế thông qua cơ chế chuyển giao tình huống, mà còn có quyền “đóng băng” các cuộc điều tra hoặc truy tố của ICC trong thời hạn 12 tháng và có thể gia hạn bằng một nghị quyết mới. Điều khoản này là kết quả của một sự thỏa hiệp chính trị giữa các quốc gia nhằm bảo đảm rằng Hội đồng Bảo an, với trách nhiệm chính trong việc duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, có thể can thiệp trong những tình huống đặc thù để ưu tiên các giải pháp chính trị - an ninh trước khi giao quyền cho công lý xét xử.[71]

Những biện pháp này được thiết kế nhằm thúc đẩy sự hợp tắc của các quốc gia với Tòa án nói chung, đồng thời gia tăng áp lực đối với những người bị cáo buộc đã phạm các tội ác nghiêm trọng, kể cả các nhà lãnh đạo chính trị như Tổng thống Sudan Omar al-Bashir.[72] Sức ép này giúp tăng sự tuân thủ của các quốc gia, cô lập những người có liên quan và nâng cao hiệu quả các phán quyết của Tòa án. Ngoài ra, chi phí pháp lý cho bị cáo và bồi thường cho nạn nhân cũng có thể được chi trả bằng các tài sản bị phong tỏa này. Cùng với đó, Hội đồng Bảo an huy động và điều phối sự tham gia của tất cả các quốc gia thành viên hỗ trợ lực lượng và phương tiện cần thiết để hợp tác tương trợ lẫn nhau trong việc thi hành các biện pháp Hội đồng Bảo an quyết định. Cuối cùng, quyền tự vệ cá nhân và tập thể trong trường hợp quốc gia thành viên bị tấn công vũ trang vẫn được Hội đồng Bảo an thừa nhận nhưng quyền này chỉ mang tính tạm thời trong lúc Hội đồng Bảo an chưa có những hành động kịp thời, nhưng quyền can thiệp của Hội đồng Bảo an sau đó vẫn hoàn toàn không bị ảnh hưởng. 

Trong thực tiễn hiện nay, một trong những vấn đề nổi bật trong vai trò của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đối với Tòa án Hình sự Quốc tế là sự thiếu nhất quán trong việc thực hiện và theo dõi các quyết định giới thiệu.[73] Do không tồn tại một bộ tiêu chí ràng buộc nhằm xác định thời điểm Hội đồng Bảo an nên chuyển một tình huống lên ICC, phản ứng của cơ quan này trước các tình huống bạo lực quy mô lớn thường không đồng đều, ngay cả khi đã có các báo cáo đáng tin cậy về việc thực hiện các tội phạm cốt lõi theo luật quốc tế.[74] Hơn nữa, sự thiếu nhất quán còn thể hiện trong cách Hội đồng Bảo an xử lý các báo cáo điều tra và đánh giá vai trò của các cơ chế điều tra, truy tố ở cấp độ quốc gia, qua đó làm suy giảm tính khách quan và khả năng dự đoán của cơ chế referral (cơ chế chuyển vụ việc). Đáng chú ý, sau khi quyết định giới thiệu được thông qua, Hội đồng Bảo an thường không thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo dõi và hỗ trợ cần thiết, đặc biệt trong việc thúc đẩy nghĩa vụ hợp tác và tháo gỡ các vướng mắc liên quan đến quyền miễn trừ, khiến hiệu quả thực thi công lý hình sự quốc tế tiếp tục chịu ảnh hưởng đáng kể từ các cân nhắc chính trị.[75]


2.2.2. Vai trò của một số tổ chức quốc tế khác

Một trong những tổ chức có tầm ảnh hưởng rộng là Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế (INTERPOL), là cơ quan hợp tác cảnh sát quốc tế với mạng lưới gần 200 quốc gia thành viên, cung cấp các công cụ kỹ thuật và chuyên môn như cơ sở dữ liệu tội phạm, mạng liên lạc toàn cầu và hỗ trợ điều tra phối hợp nhằm giúp các quốc gia phối hợp bắt giữ và trao đổi thông tin về đối tượng phạm tội và chứng cứ liên quan đến các hành vi nghiêm trọng xuyên biên giới, kể cả trong các vụ án liên quan đến tội diệt chủng và tội ác chống loài người. Đồng thời, INTERPOL phát hành các Thông báo đỏ (Red Notices) yêu cầu quốc tế về vị trí và bắt giữ cá nhân đang bị truy nã, thông báo được sử dụng như một công cụ hỗ trợ các cơ quan tư pháp trong nỗ lực truy tìm nghi phạm quốc tế.[76] Bên cạnh đó, các mạng lưới và tổ chức khu vực như cơ chế hợp tác cảnh sát của Liên minh Châu Phi (AFRIPOL), hay các nhóm chuyên môn như Asia/Pacific Group on Money Laundering (APG) cũng hỗ trợ các quốc gia thành viên trong vai trò trao đổi thông tin, đào tạo và xây dựng năng lực nhằm đối phó với các loại tội phạm xuyên quốc gia cụ thể.[77] Những cơ chế này tuy không có quyền tài phán bắt buộc như ICC, nhưng giúp tăng cường phối hợp quốc tế và hỗ trợ kỹ thuật, góp phần thu hẹp khoảng cách thực thi luật hình sự quốc tế trong thực tiễn.


2.3. Thực thi thông qua quốc gia và tòa án quốc gia 

2.3.1 Nghĩa vụ hợp tác của quốc gia

Thực tế cho thấy dù tội phạm hình sự quốc tế nói chung không xâm phạm đến trật tự pháp lý quốc tế và không đụng chạm đến quyền lợi của cộng đồng quốc tế. Tuy vậy, một quốc gia riêng lẻ sẽ gặp rất nhiều cản trở để xử lý hiệu quả loại tội phạm này khi chúng có thể vượt biên để trốn tránh trách nhiệm khiến cho việc thực thi pháp luật trở nên phức tạp. Điều này làm phát sinh nhu cầu hợp tác giữa các quốc gia trong việc truy tìm, bắt giữ và chuyển giao tội phạm. 

Theo đó, nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia trong tố tụng hình sự quốc tế được thể hiện thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Trước hết, dẫn độ là việc một quốc gia chuyển giao tội phạm đang có mặt trên quốc gia mình cho quốc gia khác để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành hình phạt đối với người đó.[78] Mục đích của dẫn độ là để ngăn chặn việc tội phạm lợi dụng biên giới quốc gia để trốn tránh trách nhiệm, đồng thời đảm bảo những kẻ phạm tội được xét xử lại tại chính quốc gia nơi họ thực hiện hành vi phạm tội, trong trường hợp đặc biệt, tại cả những nước đã cấp quốc tịch cho người phạm tội hoặc người bị hại,...[79] Bên cạnh đó, chuyển giao người phạm tội được coi là hành động mang tính nhân đạo, theo đó cá nhân bị tuyên án hoặc phạt tù tại nước ngoài sẽ được chuyển về quốc gia họ mang quốc tịch nhằm tạo sự thân thuộc và tái hòa nhập xã hội sau khi được trả tự do.[80] Ngoài ra, hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự còn bao gồm tương trợ tư pháp hình sự với các hoạt động như thẩm vấn người phạm tội, thu nhập, chuyển giao tài liệu, giấy tờ và vật chứng, lấy lời khai nhân chứng và các biện pháp điều tra khác. 


2.3.2 Thẩm quyền tài phán phổ quát - Universal Jurisdiction

Thẩm quyền hình sự phổ quát cho phép một số quốc gia truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm bất kể nơi xảy ra hành vi phạm tội hay quốc tịch của người phạm tội đó.[81] Đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trong luật hình sự quốc tế như tra tấn, diệt chủng, tội ác chống lại nhân loại và tội ác chiến tranh, đây là nhóm tội ác quốc tế mà các quốc gia có nghĩa vụ thiết lập thẩm quyền tài phán phổ quát.

Theo bốn Công ước Geneva 1949, mỗi quốc gia thành viên có nghĩa vụ truy tìm những người bị cáo buộc đã phạm tội hoặc đã ra lệnh phạm tội phải xét xử trước tòa án quốc gia bất kể quốc tịch của họ, hoặc chuyển giao họ cho các quốc gia thành viên khác có liên quan để xét xử nếu quốc gia đó có đủ căn cứ sơ bộ. Các công ước Geneva và Nghị định thư bổ sung I (1977) không nêu trực tiếp nghĩa vụ xét xử bất kể nơi xảy ra hành vi phạm tội,[82] nhưng trong các cách hiểu được thừa nhận rộng rãi thì cho rằng quyền tài phán phổ quát phải được nội luật hóa đối với các vi phạm nghiêm trọng.[83] Theo thống kê của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC), hiện nay đã có hơn 115 quốc gia ghi nhận và thừa nhận thẩm quyền này trong pháp luật quốc gia của mình.[84] 

Vào năm 2020, lần đầu tiên, Anwar R - cựu trưởng phòng Điều tra của Syria đã bị kết án tù chung thân về tội ác chống lại nhân loại, cụ thể là đồng phạm trong các tội tra tấn, 27 vụ giết người và các vụ bạo lực tình dục. Phiên tòa xét xử Anwar R. do Tòa án Khu vực Cấp cao tại Koblenz (Đức) tiến hành đã mang lại niềm hy vọng mới cho người dân Syria về sự hiện hữu của công lý, đồng thời cho thấy nguyên tắc thẩm quyền tài phán phổ quát có thể được vận dụng hiệu quả trong thực tiễn. Qua vụ việc này, theo nhận định của Trung tâm Châu Âu về Quyền Hiến định và Nhân quyền (European Center for Constitutional and Human Rights – ECCHR), thẩm quyền tài phán phổ quát được xem là một giải pháp khả thi, thậm chí là biện pháp cuối cùng, nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những tội phạm quốc tế nghiêm trọng nhất.[85]


3. Đánh giá hiệu quả, thách thức và định hướng tăng cường cơ chế thực thi (500 từ)

3.1. Hiệu quả thực thi và giới hạn của ICC 

Những vụ việc đã được xử lý trong lĩnh vực hình sự quốc tế cho thấy các thiết chế hình sự quốc tế, trong đó có ICC, có khả năng thực thi nhất định, song vẫn còn nhiều tranh luận về mức độ tác động của các thiết chế này đối với hành vi của các chế độ cầm quyền. Tổ chức này một mặt có bị cho là sự thỏa hiệp khi không có khả năng bắt giữ tội phạm mà nó truy tố, phần lớn phải dựa vào sự thiện chí, sự hợp tác của các quốc gia hữu quan để thực hiện sứ mệnh của mình.[86] Mặt khác, nghiêm trọng hơn, các ý kiến này lập luận rằng sự tồn tại của ICC có thể tạo ra tác động tiêu cực ngoài ý muốn, khi nó khuyến khích các nhà lãnh đạo thực hiện các hành vi tàn bạo tiếp tục nắm giữ quyền lực lâu hơn, thay vì từ chức để đổi lấy sự miễn trừ đối với các tội ác đã xảy ra trong quá khứ.[87] Tuy nhiên, không thể hợp lý hóa rằng sự tồn tại của ICC có thể tạo ra lợi thế chính trị giúp cho các nhà lãnh đạo duy trì quyền lực trong bối cảnh họ đang đối mặt với nguy cơ bị phế truất.

Từ góc độ thẩm quyền tài phán, vướng mắc lớn nhất mà ICC phải đối mặt nằm ở khả năng can thiệp bị giới hạn khi các tội phạm quốc tế xảy ra tại các quốc gia không phải thành viên của Quy chế Rome. Tuy nhiên, những hạn chế này không đồng nghĩa với việc ICC hoàn toàn bất lực, chiếu theo Điều 17 Khoản 2 của Quy chế Rome, ICC vẫn có thẩm quyền thực thi thẩm quyền của mình đối với những vụ việc mà quốc gia liên quan “không có khả năng” hoặc “không có thiện chí” tiến hành điều tra và truy tố. Ngoài ra, hướng khắc phục khác như việc kích hoạt thẩm quyền thông qua Hội đồng Bảo an theo Chương VII Hiến chương Liên Hợp Quốc,[88] mở rộng cách tiếp cận thẩm quyền theo lãnh thổ (rationale loci) đối với các hành vi liên quan xảy ra tại các quốc gia thành viên ICC mà không cần phụ thuộc vào quốc tịch người phạm tội,[89] cũng như vận dụng nguyên tắc dẫn độ hoặc xét xử (aut dedere aut judicare)[90] và các cơ chế điều tra pháp lý và chứng cứ cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự trong tương lai.


3.2. Hiệu quả thực thi và giới hạn của thẩm quyền tài phán phổ quát - Universal Jurisdiction. 

Đối quyền tài phán phổ quát cũng cho thấy nhiều cản trở trong việc thực thi nguyên tắc này một cách có hiệu quả. Trước hết là sự thiếu sót trong hệ thống pháp luật quốc gia.[91] Trên thực tế nhiều quốc gia không đưa tội phạm quốc tế vào pháp luật trong nước, trong khi thẩm quyền phổ quát chủ yếu hành dựa trên khả năng của các tòa án quốc gia trong việc truy tố các tội phạm quốc tế, điều này vô tình tạo điều kiện cho tội phạm trốn tránh trách nhiệm hình sự chạy trốn đến những quốc gia như vậy. Bên cạnh đó, việc thực thi thẩm quyền phổ quát còn gặp trở ngại do pháp luật quốc gia của nhiều nước chưa bao quát đầy đủ các tội phạm quốc tế nghiêm trọng, ví dụ ở các tòa án Ý chỉ có thẩm quyền áp dụng quyền tài phán phổ quát đối với tội ác chiến tranh trong phạm vi một số nhóm đối tượng hoặc trường hợp nhất định. Không những vậy, thủ tục bắt giữ và truy tố chậm chạp, kém hiệu quả cũng làm suy yếu hiệu lực của nguyên tắc này, khi nó tạo điều kiện cho người bị truy cứu đủ thời gian trốn tránh trách nhiệm hình sự. Nhiều quốc gia thiếu ý chí chính trị trong việc ban hành và thực thi pháp luật nhằm hiện thực hóa thẩm quyền phổ quát, do sự trì trệ của quy trình lập pháp và việc chưa nhận thức đầy đủ tính cấp thiết của vấn đề.

Ngoài ra, nguyên tắc thẩm quyền phổ quát có nguy cơ bị lạm dụng vì mục đích chính trị do quan điểm và lợi ích riêng của quốc gia đó chứ không chỉ đơn thuần dựa trên yêu cầu của công lý.[92] Việc áp dụng thiếu kiểm soát hoặc thiếu thận trọng có thể gây căng thẳng giữa các quốc gia, dẫn đến lạm dụng quy trình pháp lý và xâm phạm quyền con người, vì vậy thẩm quyền phổ quát cần được thực hiện một cách cẩn trọng để vừa hạn chế hệ quả tiêu cực vừa bảo đảm đạt được mục tiêu truy cứu trách nhiệm hình sự quốc tế. Sự thiếu vắng hoặc không đầy đủ của các quy định về dẫn độ cũng có thể dẫn đến sự chậm trễ trong việc thực thi nguyên tắc thẩm quyền phổ quát.

Một số vụ truy tố tội phạm quốc tế không được tiến hành do quyền miễn trừ của các nguyên thủ quốc gia và quan chức cấp cao đương nhiệm.[93] Tiêu biểu, Trung Quốc nhấn mạnh nghĩa vụ tôn trọng quyền miễn trừ theo luật quốc tế của các quan chức nhà nước đương nhiệm khi thực thi quyền tài phán hình sự, kể cả đối với các tội phạm quốc tế nghiêm trọng. Lập trường này phù hợp với phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trong vụ Arrest Warrant (2002), theo đó Bộ trưởng Ngoại giao đương nhiệm được hưởng quyền miễn trừ khỏi thẩm quyền hình sự trước các tòa án quốc gia nước ngoài theo luật quốc tế tập quán. Tuy nhiên, quan điểm này lại tạo ra sự xung đột với Khoản 2 Điều 27 của Quy chế Rome rằng địa vị hay chức vụ của cá nhân không thể được viện dẫn để tránh trách nhiệm hình sự quốc tế. Cuối cùng, còn tồn tại vấn đề thiếu một cơ chế giám sát quốc tế đủ mạnh nhằm bảo đảm rằng các chuẩn mực của luật hình sự quốc tế được các quốc gia tuân thủ một cách hiệu quả.[94] Sẽ hữu ích hơn nếu các ủy ban được thành lập để giám sát việc thực thi các công ước quốc tế thể hiện sự cảnh giác cao hơn trong việc xử lý các trường hợp quốc gia không tuân thủ, nhằm bảo đảm rằng các tội phạm quốc tế không bị bỏ lọt do thiếu thẩm quyền tài phán hoặc do không có khả năng truy tố.


3.3. Định hướng tăng cường và hoàn thiện các cơ chế thực thi hình sự quốc tế

Do tồn tại nhiều hạn chế mang tính cấu trúc và thực tiễn, các bất cập trong cơ chế thực thi hình sự quốc tế đang phản ánh nhu cầu phải hoàn thiện và tăng cường các cơ chế thực thi hiện hành nhằm đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của công lý hình sự quốc tế. 

Trước hết, do ICC gắn bó chặt chẽ với Quy chế Rome nên con đường pháp lý duy nhất để tăng cường thẩm quyền, cơ chế thực thi và hợp tác của Tòa án này là sửa đổi Quy chế Rome.

Tuy nhiên, quy trình sửa đổi vô cùng nghiêm ngặt và phức tạp, sửa đổi chỉ có hiệu lực chỉ khi thông qua sự phê chuẩn hoặc chấp thuận của bảy phần tám quốc gia thành viên để đảm bảo tính chính danh và đồng thuận quốc tế của ICC.[95] Nhưng điều này cũng tiềm ẩn rủi ro suy giảm số lượng các quốc gia thành viên nếu một số quốc gia không chấp nhận sửa đổi và lựa chọn rút lui.[96] Bên cạnh đó, để ngăn chặn trường hợp bị cáo cố tình trốn tránh công lý, Tòa án ICC còn có cơ chế trial in absentia (“xét xử vắng mặt”). Mặc dù cơ chế này được xem là mâu thuẫn với nguyên tắc của luật hình sự hiện đại về sự vắng mặt của người bị xét xử, bắt nguồn từ phương châm audi alteram partem (“nghe ý kiến của bên kia”), theo đó người phạm tội phải được tham gia vào việc bào chữa cho mình.[97] Nhưng biện pháp này vẫn có thể được chấp nhận trong những trường hợp đặc biệt cùng với các đảm bảo nghiêm ngặt về mặt tố tụng, như việc thông báo đầy đủ, quyền tham gia bào chữa từ xa và khả năng mở lại vụ án.[98] Một ví dụ điển hình là Martin Bormann, một quan chức Đức Quốc xã và là thư ký riêng của Hitler, người đã bị kết án tội ác chiến tranh và tội ác chống loài người, và bị tuyên án tử hình bằng hình thức treo cổ tại các phiên tòa Nuremberg dù bị xét xử vắng mặt.[99] Việc cho phép xét xử vắng mặt bị cáo không chỉ bảo đảm quyền tiếp cận công lý của nạn nhân và giúp kết thúc các vụ án kéo dài do thiếu hợp tác của quốc gia mà còn tăng cường sức ép buộc các quốc gia và bị cáo phải hợp tác, nhất là khi các biện pháp trừng phạt được kèm theo. 

Ngoài ra, theo Điều 87(7) Quy chế Rome, các trường hợp không hợp tác có thể được chuyển tới Hội đồng các Quốc gia Thành viên (ASP) và trong một số trường hợp, tới Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (UNSC).[100] Tuy nhiên, Quy chế hiện hành không quy định rõ các biện pháp cưỡng chế mà các cơ quan này có thể áp dụng. Trên thực tế, cơ chế của ASP hiện chủ yếu mang tính ngoại giao và giám sát, vẫn còn thiếu các công cụ ràng buộc pháp lý để ngăn chặn xử lý hành vi không hợp tác có thể làm suy giảm hiệu quả thực thi của ICC.[101] Vậy nên cần thiết phải sửa đổi Quy chế Rome để tăng cường vai trò thực thi của ASP, cho phép cơ quan này áp dụng các biện pháp trừng phạt rõ ràng đối với các quốc gia không hợp tác có thể kể đến như phạt tài chính, đình chỉ quyền biểu quyết và hạn chế các lợi ích liên quan.[102] Đồng thời, việc thiết lập cơ chế leo thang tự động lên UNSC trong các trường hợp không hợp tác nghiêm trọng hoặc tái diễn sẽ giúp hạn chế sự trì hoãn mang tính chính trị và gia tăng sức ép tuân thủ. Việc công khai hóa các trường hợp không hợp tác thông qua các phiên họp và báo cáo công khai cũng là một biện pháp răn đe quan trọng, góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình của các chính phủ và củng cố tính chính danh của ICC. 

Quyền phủ quyết của các Ủy viên thường trực UNSC cũng thường xuyên cản trở các hành động của ICC, đặc biệt trong những vụ việc liên quan đến các quốc gia có ảnh hưởng hoặc đồng minh của họ, đôi khi quyền này được sử dụng để ngăn chặn các cuộc điều tra của ICC.[103] Do đó, đã có nhiều sáng kiến quốc tế, trong đó tiêu biểu là Sáng kiến Pháp - Mexico và Bộ Quy tắc Ứng xử của Nhóm ACT (“Trách nhiệm, nhất quán và minh bạch”) , đã kêu gọi tự kiềm chế việc sử dụng quyền phủ quyết trong các tình huống tội ác nghiêm trọng hàng loạt như diệt chủng, tội ác chiến tranh và tội ác chống lại loài người.[104] 

Tiếp đó, dù việc thực thi quyền tài phán phổ quát bị giới hạn bởi nhiều yếu tố như đã phân tích ở trên, việc kiên định thúc đẩy áp dụng hiệu quả nguyên tắc này vẫn là điều cần thiết nhằm đạt được mục tiêu cốt lõi của nó, nhằm chấm dứt tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với các tội ác nghiêm trọng. Do đó, cần xây dựng các biện pháp nhằm tăng cường việc áp dụng quyền tài phán phổ quát và phát triển một cơ chế thực thi vững chắc bảo đảm nguyên tắc này được hiện thực hóa.

Trong bối cảnh việc đạt được sự thống nhất toàn cầu về áp dụng quyền tài phán phổ quát còn xa vời, một số học giả đề xuất các cơ chế thay thế chẳng hạn như việc thành lập các tòa án hình sự quốc tế ad hoc tương tự ICTY và ICTR, hoặc các tòa án hỗn hợp.[105] Tuy nhiên, các cơ chế này không thể được xem là giải pháp tối hậu, bởi trong nhiều trường hợp, quyền tài phán phổ quát vẫn là biện pháp cuối cùng và hiệu quả nhất để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm quốc tế. Một vài quan điểm được củng cố rằng các quốc gia có quyền theo luật tập quán quốc tế thực thi quyền tài phán phổ quát đối với một phạm vi hẹp các tội phạm quốc tế nghiêm trọng, đồng thời việc thực thi quyền tài phán đó phải chịu sự ràng buộc của những giới hạn hợp lý như nguyên tắc bổ trợ và việc loại trừ xét xử vắng mặt.[106] Trên cơ sở đó, đã đến lúc cộng đồng quốc tế cần tiến tới xây dựng một công ước quốc tế riêng về quyền tài phán phổ quát, trong đó, vừa ghi nhận thẩm quyền cơ bản của các quốc gia vừa thiết lập các cơ chế bảo đảm mang tính thể chế nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng. Công ước này có thể bao gồm, chẳng hạn, một hệ thống kiểm định quốc tế để đánh giá trước năng lực và điều kiện của các quốc gia mong muốn thực thi quyền tài phán phổ quát, cũng như trao cho một cơ quan tài phán quốc tế thẩm quyền xác định việc một quốc gia có thực sự không sẵn sàng hoặc không đủ khả năng tiến hành truy tố hay không, qua đó bảo đảm việc áp dụng nguyên tắc bổ trợ và ne bis in idem[107] (“không bị kết án hai lần cho một tội”) một cách khách quan và nhất quán. 


Kết luận:

  Qua phân tích thực tiễn, có thể nhận thấy hiệu quả thực thi Luật Hình sự Quốc tế không chỉ phụ thuộc vào thẩm quyền của ICC mà còn gắn liền với vai trò hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và năng lực thực thi của hệ thống tư pháp quốc gia. Hội đồng Bảo an có thể tạo cơ sở để ICC mở rộng thẩm quyền trong những tình huống nhất định, trong khi INTERPOL và các cơ chế hợp tác khác hỗ trợ trao đổi thông tin, truy tìm nghi phạm và phối hợp điều tra. Ở cấp quốc gia, hợp tác tư pháp hình sự và thẩm quyền tài phán phổ quát góp phần hạn chế những khoảng trống trong truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, các cơ chế này vẫn đối mặt với những trở ngại như sự thiếu nhất quán trong hợp tác quốc tế, ảnh hưởng của lợi ích chính trị, khoảng trống trong pháp luật quốc gia và nguy cơ lạm dụng thẩm quyền. Vì vậy, cần kết hợp hoàn thiện pháp luật, tăng cường nghĩa vụ hợp tác và củng cố các cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình. Những vấn đề này là cơ sở để đánh giá tổng thể hiệu quả của cơ chế thực thi ICL và xác định các định hướng cải cách phù hợp.


Danh mục tài liệu tham khảo 

[63] Điều 4 Quy chế Tòa án hình sự quốc tế Rome

[64] Thỏa thuận này được ký kết theo quy định của Điều 2 Quy chế Rome, về nội dung, xem Công báo của Tòa án Hình sự Quốc Tế, tài liệu https://asp.icc-cpi.int/sites/asp/files/asp_docs/Resolutions/ICC-ASP-ASP3-Res-01-ENG.pdf, truy cập ngày 9/1/2026.

[65] Charter of the United Nations (adopted 26 June 1945, entered into force 24 October 1945) arts 24 and 39.

[66] Rome Statute art 13(b).

[67] UN, Role of United Nations Security Council in International Criminal Court among Issues Discussed This Afternoon at UN Conference (UN Press Release L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.htmll accessed 26 January 2026.

[68] Điều 12 Quy chế Rome.

[69] Situation in Darfur, Sudan, International Criminal Court (ICC) https://www.icc-cpi.int/darfur 

[70] ICC – Situation in Libya, International Criminal Court (ICC) https://www.icc-cpi.int/situations/libya; ‘War in Libya: how did it start and what happens next?’ The Guardian (18 May 2020) https://www.theguardian.com/world/2020/may/18/war-in-libya-how-did-it-start-what-happens-next truy cập 4/3/2026.

[71] J. Mwangi, A Critical Analysis Of The United Nations Security Council’s Powers Of Deferral And Enforcement Under The Rome Statute – https://erepository.uonbi.ac.ke/bitstream/handle/11295/99928/Mwangi-A%20Critical%20Analysis…pdf , truy cập 4/3/2026

[72] IPI, The Relationship Between the ICC and the Security Council: Challenges and Opportunities (International Peace Institute March 2013) https://www.ipinst.org/wp-content/uploads/publications/ipi_e_pub_relationship_bet__icc_and_sc__2_.pdf, 6, truy cập 4/3/2026.

[73] UN Security Council, Role of the United Nations Security Council in the International Criminal Court (UN Press Release L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.html, accessed 26 January 2026 (statements at the Rome Conference reflecting concerns regarding the role and extent of Security Council involvement in the ICC).

[74] UN Security Council, Role of United Nations Security Council in International Criminal Court among issues discussed this afternoon at UN Conference (UN Press Release ST/DPI/PRESS/L/2877, 16 June 1998), https://press.un.org/en/1998/19980616.l2877.html, accessed 26 January 2026

[75] United Nations General Assembly, Report of the Secretary-General on the Relationship between the United Nations and the International Criminal Court, UN Doc A/74/874 (2020) (discussing obligations of cooperation and limitations in the implementation of Security Council referral resolutions).

[76] War crimes (INTERPOL) https://www.interpol.int/Crimes/War-crimes truy cập 4/3/2026.

[77] Asia/Pacific Group on Money Laundering (APG), About the Role of APG (APG) https://www.apgml.org/about-us/role-apg truy cập 4/3/2026.

[78] Khoản 1 Điều 32 Luật tương trợ tư pháp 2007

[79] Nguyễn Ngọc Chí, Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam, tr 3.

[80] Như trên, tr 4.

[81] Universal jurisdiction (Max Planck Encyclopedia of International Procedural Law, Oxford University Press, 2022) https://opil.ouplaw.com/display/10.1093/law-mpeipro/e2259.013.2259/law-mpeipro-e2259 truy cập 4/3/2026.

[82] Điều 85 Nghị định thư I Nghị định thư bổ sung cho Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949, và liên quan đến việc bảo vệ nhân viên của các cuộc xung đột vũ trang quốc tế, Phần V Thi hành các Công ước và các Nghị định thư của nó, Mục II Trừng phạt các hành vi vi phạm Công ước và Nghị định thư này.

[83] Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế, Bình luận về Công ước Geneva thứ nhất: Công ước (I) về cải thiện tình trạng của người bị thương và người bệnh trong lực lượng vũ trang tại chiến trường (CUP Cambridge 2016).

[84] Phạm vi và ứng dụng của nguyên tắc tài phán toàn cầu - Đại hội đồng Liên hợp quốc, kỳ bầu cử thứ 73, Ủy ban thứ sáu: Tuyên bố của Ủy ban Chữ thập đỏ quốc tế

[85] European Center for Constitutional and Human Rights, ‘Syria trial in Koblenz: Life sentence for Anwar R for crimes against humanity’ (ECCHR, 13 January 2022) https://www.ecchr.eu/en/press-release/syria-verdict-anwar-r, truy ngày 4/3/2026.

[86] Bethel Aregawi, ‘The Politicisation of the International Criminal Court by United Nations Security Council Referrals’ (ACCORD – Conflict Trends, 21 July 2017) https://www.accord.org.za/conflict-trends/politicisation-international-criminal-court-united-nations-security-council-referrals, truy cập ngày 4/3/2026.

[87] Michael J. Gilligan, Is enforcement necessary for effectiveness? A model of the International Criminal Regime

[88] Điều 13(b) Quy chế Rome.

[89] Điều 12 Khoản 2 Điểm a, Quy chế Rome.

[90] “Aut dedere aut judicare”: nguyên tắc của luật quốc tế theo đó quốc gia có nghĩa vụ hoặc dẫn độ người bị cáo buộc phạm tội quốc tế nghiêm trọng, hoặc tự mình tiến hành điều tra và truy tố, nhằm ngăn chặn tình trạng miễn trừ trách nhiệm đối với bốn loại tội phạm nghiêm trọng trong luật hình sự quốc tế, https://legal.un.org/ilc/texts/instruments/english/reports/7_6_2014.pdf .

[91] Universal Jurisdiction: The duty of states to enact and enforce legislation: Chapter 14: Overcoming obstacles to implementing universal jurisdiction, https://www.amnesty.org/en/documents/IOR53/017/2001/en/ 

[92] Dalila V Hoover, ‘Universal Jurisdiction not so Universal: A Time to Delegate to the International Criminal Court’ (Cornell Law School Inter-University Graduate Student Conference Papers, 2011), 14 https://scholarship.law.cornell.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1081&context=lps_clacp ,truy cập ngày 4/3/2026

[93] https://www.icj-cij.org/node/101536 ; xem thêm tại, Dissenting opinion of Judge ad hoc, Van den Wyngaert in Case Concerning the Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of Congo v. Belgium), Judgment, I.C.J. Reports, 2002, p. 3, 166, available at, Arrest Warrant of 11 April 2000 (Democratic Republic of the Congo v Belgium), Judgment, ICJ, 14 February 2002, para 25 https://www.icj-cij.org/public/files/case-related/121/121-20020214-JUD-01-00-EN.pdf  truy cập 4/3/2026.

[94] Hoover, tldd 20

[95] Điều 121 Quy chế Rome

[96] Emma Askarisirchi, ‘International Criminal Court (ICC) and the Pursuit of Global Justice: “A Court Worth Having” — Predicaments to the Court’s Enforcement and Frameworks for Improving Compliance’ (Columbia Human Rights Law Review, 2025) https://hrlr.law.columbia.edu/files/2025/11/Askarisirchi_Frameworks-for-Improving-ICC_Final-Upload.pdf truy cập 4/3/2026.

[97] Frederick F. Schauer, English Natural Justice and American Due Process: An Analytical Comparison, 18 WM. & MARY L. REV. 47, 49 (1976).

[98] như trên, 57- 58.

[99] Fact Sheet: Martin Bormann (TRIAL INT’L, 22 December 2019) https://web.archive.org/web/20191222215945/https://trialinternational.org/latestpost/martin-bormann (perma.cc/YU6S-DUM4) truy cập 4/3/2026.

[100] Điều 87(7) Quy chế Rome.

[101] International Criminal Court Assembly of States Parties [ASP], Report of the Bureau on Non-Cooperation, Report of the Bureau on Non-Cooperation, annex III.

[102] Mặc dù nhiều nghiên cứu học thuật đã phân tích vai trò và mức độ ảnh hưởng của ASP đối với hoạt động của ICC, đặc biệt là những lo ngại liên quan đến tính độc lập của Công tố viên, các nghiên cứu này chủ yếu dừng lại ở bình diện thể chế hoặc cải cách chung. Theo hiểu biết của tác giả, hiện vẫn chưa có công trình nào đề xuất việc sửa đổi trực tiếp Quy chế Rome nhằm tăng cường quyền thực thi và cưỡng chế của ASP trong các trường hợp không hợp tác. Xem tại Hannah Woolaver & Emma Palmer, Challenges to the Independence of the International Criminal Court from the Assembly of States Parties, 15 J. INT'L CRIM. JUST. 641, 645–46, 659–64 (2017)

[103] Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, phiên họp thứ 7180, SC/11407 (ngày 22 tháng 5 năm 2014) (tóm tắt cuộc họp mà Hội đồng Bảo an không thể chuyển tình hình ở Syria cho Tòa án Hình sự Quốc tế mặc dù gần như nhất trí ủng hộ do hai phiếu phủ quyết); Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, phiên họp thứ 5619, SC/8939 (tóm tắt cuộc họp mà Hội đồng Bảo an không thể thông qua dự thảo nghị quyết về Myanmar một phần do các phiếu phủ quyết)

[104] UNGA Res/GA/12500 (26 April 2023), 77th sess, 68th & 69th mtgs.

[105] Noora Arajarvi, Looking back from nowhere; Is there a future for universal jurisdiction over international crimes, 16 TILBURG L.R.5, 5-9 (2011).

[106] https://www.legal-tools.org/doc/44a03d/pdf, (7. Looking ahead: Creation of Institutional Safeguards for the Exercise of Universal Jurisdiction), Universal Jurisdiction over International Crimes and the Institut de droit international 5 (TẠM)

[107] Art 20, Rome Statute; Khi một tòa án hình sự quốc gia đã ra phán quyết cuối cùng trong một vụ án dựa thuần túy trên quyền tài phán phổ quát, thì nguyên tắc ne bis in idem (một người không bị xét xử hai lần vì cùng một hành vi) cần được áp dụng để ngăn việc người đó bị truy tố lại ở một quốc gia hoặc cơ quan tài phán khác, Lê Thị Thắm, Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền tài phán quốc gia, tr 47.










Bình luận


bottom of page