top of page
icj 1.jpeg

[89] TỔNG QUAN VỀ LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ

Cao Ngọc Khánh Linh, Bùi Gia Nguyên Phúc
20 giờ trước
19 phút đọc

Đã cập nhật: 9 phút trước

Tác giả: Cao Ngọc Khánh Linh, Bùi Gia Nguyên Phúc


Tóm tắt: Sau chiến tranh Thế giới thứ II, quyền con người chính thức được công nhận bởi Liên Hợp Quốc thông qua Tuyên ngôn toàn cầu về quyền con người 1948. Qua đó, các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn khác của luật quốc tế dần được hình thành nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Bài viết cung cấp các nguồn cơ bản của Luật Nhân quyền quốc tế cũng như thực tế các đặc tính các văn bản quyền con người trong các khu vực; đồng thời, diễn giải các thế hệ quyền con người khác nhau.


Từ khóa: Quyền con người, Luật Nhân quyền quốc tế, Liên Hợp Quốc, nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế


1. Tổng quan về luật Nhân quyền quốc tế (International Human Rights Law - IHRL)

1.1. Khái niệm Luật Nhân quyền quốc tế 

Luật Nhân quyền quốc tế (IHRL) là hệ thống các quy phạm pháp lý được xác lập thông qua các hình thức điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, nguyên tắc chung và các nguồn khác của luật quốc tế nhằm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền cơ bản của con người. Luật Nhân quyền quốc tế và Luật Nhân đạo quốc tế thường bị nhầm lẫn với nhau, song sự khác biệt giữa hai luật này nằm ở phạm vi áp dụng. Cụ thể, Luật Nhân đạo quốc tế áp dụng trong xung đột vũ trang và không có ngoại lệ; Luật Nhân quyền quốc tế lại bảo vệ quyền con người trong mọi hoàn cảnh dù là thời bình hay trong xung đột, và trong một số tình trạng khẩn cấp các quốc gia có thể được miễn trừ một số nghĩa vụ.[1]


1.2. Nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế

Giống như nguồn cơ bản của Luật quốc tế nói chung, nguồn của Luật Nhân quyền quốc tế bao gồm các điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các nguyên tắc pháp luật chung và các nguồn bổ trợ như án lệ hay ý kiến của các học giả có uy tín cao.[2] 

Trong các điều ước quốc tế về quyền con người, Điều 1 Hiến chương Liên Hợp Quốc là nguồn đầu tiên công nhận sự tồn tại và nghĩa vụ bảo vệ quyền con người.[3] Hiến chương được ký kết sau Thế chiến thứ II vào năm 1948 với mục đích duy trì hòa bình. Sự kiện đánh dấu lần đầu tiên việc đảm bảo quyền con người trở thành một mục tiêu của một tổ chức quốc tế.

Một trong những nền tảng cơ bản cho việc pháp điển hóa Quyền con người trong luật quốc tế là Tuyên ngôn Toàn cầu về Quyền con người (UDHR), được thông qua ngày 10/12/1948 theo Nghị quyết 217 A (III).[4] Bản Tuyên ngôn là định hướng cho rất nhiều các quy định pháp luật nội địa và quốc tế nhằm đảm bảo các quyền con người về dân sự và chính trị.[5] Song, cần lưu ý rằng dù là nền tảng cho nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý sau này, Tuyên ngôn Toàn cầu về Quyền con người không phải một văn bản có hiệu lực pháp lý mà chỉ đóng vai trò định hướng.

Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR 1966) là một nguồn quan trọng về các quyền dân sự và chính trị. Văn bản quy định các quyền tiêu biểu như Quyền được sống, quyền không bị tra tấn hoặc đối xử vô nhân đạo, quyền tự do ngôn luận, tín ngưỡng và lập hội, quyền xét xử công bằng, quyền tham gia quản lý nhà nước và bầu cử. Đây là các quyền chủ động. Các quyền này không cần các quá trình thiết lập quyền thông qua sự can thiệp của chính phủ như ra chính sách hay các dịch vụ công. Vai trò của nhà nước trong việc bảo vệ các quyền được quy định ở công ước này là không được xâm phạm hay can thiệp trái pháp luật, đồng thời có các chế tài để đảm bảo quyền của các cá nhân

Nếu như ICCPR 1966 là công ước quy định các quyền chủ động thì các quy định về các quyền bị động được quy định tại Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (ICESCR 1966). Được thông qua vào năm 1976, Công ước ghi nhận các quyền như Quyền làm việc và hưởng điều kiện lao động công bằng, Quyền an sinh xã hội, quyền được chăm sóc sức khỏe, Quyền được giáo dục, Quyền tham gia đời sống văn hóa. Đây là các quyền cần phải có sự can thiệp của nhà nước để có thể đảm bảo. Sự can thiệp này có thể thể hiện thông qua việc ban hành các chính sách về các lĩnh vực liên quan như giáo dục hay y tế; hay thành lập và cung cấp các dịch vụ công như bệnh viện công hay các cơ sở giáo dục công với chi phí thấp.

Ngoài ra, còn rất nhiều điều ước quốc tế khác về các quyền cụ thể thuộc quyền con người. Có thể kể đến Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử về chủng tộc năm 1965 (ICERD), Công ước quốc tế về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979 (CEDAW), Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ nhục khác năm 1984 (CAT), Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (CRC),  Công ước Quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ 1990 (ICRMW) …

Quyền con người cũng được quy định trong các điều ước quốc tế khu vực. Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR) là một nguồn quan trọng của quyền con người trong nỗ lực xác lập một trật tự pháp lý tập thể tại châu Âu sau Thế chiến thứ II.[6] ECHR pháp điển hóa cá quyền tự do trừu tượng từ Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) 1948 thành những nghĩa vụ pháp lý ràng buộc, tập trung bảo hộ các quyền dân sự và chính trị cốt lõi như quyền sống (Điều 2), cấm tra tấn (Điều 3), quyền tự do và an ninh (Điều 5) và quyền được xét xử công bằng (Điều 6).[7] Hệ thống bảo hộ này không chỉ giới hạn ở các nghĩa vụ tiêu cực (negative obligations) yêu cầu quốc gia kiềm chế sự can thiệp bất hợp pháp, mà còn mở rộng sang các nghĩa vụ tích cực (positive obligations) buộc quốc gia phải thiết lập cơ chế bảo vệ quyền lợi cá nhân trước các hành vi xâm phạm từ bên thứ ba.[8] Công ước vận hành dựa trên nguyên tắc bổ trợ (subsidiarity), trao quyền ưu tiên cho các hệ thống pháp luật trong nước và cho phép các quốc gia một “biên độ tự do định đoạt” (margin of appreciation) nhất định trước khi cơ chế tài phán khu vực can thiệp.[9] Sau Nghị định thư số 11 (Protocol 11) năm 1998, Hội đồng Châu Âu thành lập tòa án thường trực Tòa án Nhân quyền Châu Âu (ECHR), cho phép cá nhân trực tiếp khởi kiện quốc gia vi phạm sau khi đã sử dụng hết các biện pháp trong nước. Cơ chế này được các học giả nhận định là cơ chế khiến cho hệ thống bảo vệ Nhân quyền tại Châu Âu là hệ thống hiệu quả nhất.[10]

Công ước Mỹ về Nhân quyền 1969, hay còn gọi là “Pact of San José” là điều ước quốc tế quan trọng được pháp điển hóa để bảo vệ quyền con người tại khu vực châu Mỹ. Công ước tập trung thiết lập các quyền dân sự và chính trị căn bản, tiêu biểu như quyền sống tại Điều 4 và quyền toàn vẹn thân thể tại Điều 5 với Ủy ban Nhân quyền Mỹ đóng vai trò là cơ quan điều tra và sàng lọc khiếu nại,  Tòa án Nhân quyền liên Mỹ đóng vai trò là cơ quan tài phán, đưa ra các phán quyết ràng buộc và các ý kiến tư vấn. Công ước làm phát sinh nghĩa vụ áp dụng các cơ chế nội luật hóa để đảm bảo thực thi quyền, bao gồm nguyên tắc “đạt được dần dần” (achieving progressively) thông qua các nguồn lực sẵn có (available resources) để thực thi đầy đủ các quyền được công nhận.[11] Đồng thời, việc pháp điển hóa Công ước cho phép Tòa án Liên Mỹ thực hiện quyền “giải thích rộng rãi” (broad interpretation) không chỉ đối với Công ước mà còn với “các điều ước quốc tế khác” liên quan đến việc bảo vệ nhân quyền tại các quốc gia châu Mỹ.[12] 

Hiến chương Châu Phi về Quyền con người và Quyền các dân tộc 1981 (Hiến chương Banjul), là nền tảng pháp lý quan trọng pháp điển hóa và hình thành các quy định bảo vệ quyền con người ở châu Phi. Hiến chương quy định các quyền dân sự, chính trị cũng như các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, đồng thời tiên phong tích hợp các quyền đoàn kết (rights of solidarity) - hay quyền thế hệ thứ ba - như quyền phát triển và quyền hòa bình vào hệ thống quy phạm quốc tế. Trong đó, thay vì tiếp cận luật pháp như một sự đối trọng giữa cá nhân và nhà nước theo quan điểm phương Tây, Hiến chương nhìn nhận luật pháp là công cụ bảo vệ cá nhân ở trong cộng đồng (within the community).[13] Nếu như Hiến chương Liên Hợp Quốc chỉ quy định quyền dân tộc tự quyết là một nguyên tắc erga omnes (nguyên tắc có hiệu lực với tất cả nhưng không có giá trị pháp lý cao nhất), hệ thống pháp luật châu Phi điều chỉnh quyền của các cá nhân gắn với lợi ích cộng đồng bằng việc cho phép các hành vi pháp lý nhằm bảo vệ các lợi ích cao hơn lợi ích cá nhân theo nguyên tắc actio popularis, khiến nguyên tắc gần với tính chất của một nguyên tắc jus cogens hơn (nguyên tắc có hiệu lực pháp lý tối cao.[14] Lập luận này, vốn bắt nguồn từ lịch sử chống thực dân và nhu cầu tự quyết sâu sắc, đã tạo nên một cơ chế bảo vệ quyền lợi tập thể song hành cùng quyền tự do cá nhân, khẳng định rằng quyền dân tộc là tiền đề không thể thiếu cho phẩm giá con người.[15]

Trong khu vực Đông Nam Á, Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN (AHRD) là nguồn quan trọng điều chỉnh và bảo vệ các vấn đề nhân quyền trong khu vực. Văn kiện này quy định các nhóm quyền cốt lõi bao gồm: các nguyên tắc chung, quyền dân sự và chính trị, quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, cùng các quyền phản ánh đậm nét tính đặc thù khu vực như quyền phát triển và quyền hòa bình. Tuy nhiên, các quyền được pháp điển hóa trong Tuyên ngôn Nhân quyền ASEAN sẽ được xem xét dựa trên bối cảnh chứ không phải mọi thực thể đều được hưởng quyền như nhau.[16] Điều này là hệ quả của việc Công ước cần tuân theo các nguyên tắc về chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và nguyên tắc jus de non-interventio (không can thiệp vào công việc nội bộ, dẫn đến các cơ chế bảo vệ mang tính ràng buộc hay chế tài tài phán trong AHRD bị hạn chế.[17] Do vậy, Phương cách ASEAN (The ASEAN Way) đã ưu tiên cơ chế đồng thuận và tham vấn kín nhằm mục đích bảo toàn sự tồn tại của các thể chế nhà nước (regime survival) thay vì bảo vệ các quyền con người một cách cá nhân.[18]


2. Các thế hệ quyền con người theo Luật Nhân quyền quốc tế

Khái niệm thế hệ quyền con người phân loại các quyền cơ bản theo tiến trình lịch sử thành ba nhóm chính: thế hệ thứ nhất tập trung vào các quyền dân sự và chính trị nhằm bảo vệ tự do cá nhân trước sự can thiệp của nhà nước; thế hệ thứ hai mở rộng sang các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa để đảm bảo bình đẳng và an sinh; thế hệ thứ ba hướng tới các quyền tập thể mang tính toàn cầu như hòa bình, tự quyết và môi trường trong lành. 


2.1. Thế hệ thứ nhất: Các quyền về dân sự và chính trị 

Sự hình thành của thế hệ quyền con người thứ nhất đánh dấu sự thay đổi từ việc ưu tiên tuyệt đối quyền lực nhà nước sang sự bảo vệ và đề cao vị thế cá nhân. Trong thời kỳ cổ đại và trung cổ, quyền lực trong mối quan hệ giữa cá nhân và các thực thể công luôn nghiêng hẳn về phía nhà nước. Các học thuyết triết học tiến bộ của John Locke, Montesquieu, Hobbes và Rousseau đã thúc đẩy cuộc đấu tranh chống lại chế độ quân chủ chuyên chế, thực hiện sứ mệnh lịch sử là hoàn trả lại các nghĩa vụ và quyền lợi vốn bị thâu tóm bởi quân chủ về cho công dân và xã hội dân sự.[19] Về bản chất, sự tiến hóa của các thế hệ quyền chính là một quá trình hoàn trả những nghĩa vụ và quyền năng mà công dân từng phải ủy thác cho quân chủ về lại cho chính cá nhân và xã hội dân sự.[20] Qua đó, con người được được đảm bảo các quyền cơ bản, biến nhà nước từ một thực thể có quyền hành tuyệt đối thành một thực thể pháp lý đảm bảo sự chung sống hòa bình.[21]

Dựa trên nền tảng tư duy đó, thế hệ quyền thứ nhất tập trung vào hai nhóm cốt lõi là quyền dân sự và quyền chính trị, đóng vai trò như những rào cản pháp lý ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực công. Về phương diện dân sự, các văn kiện pháp lý thời kỳ này đã xác lập quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, quyền sở hữu cá nhân và đặc biệt là quyền an ninh cá nhân trước các thủ tục tư pháp và cảnh sát, đảm bảo rằng mọi cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật và không ai bị tước đoạt tự do hay tài sản mà không tuân thủ đúng trình tự tố tụng. Song song đó, nhóm quyền chính trị cho phép công dân tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào bộ máy quyền lực thông qua việc tiếp cận các chức vụ công, tham gia xây dựng quá trình lập pháp, kiểm soát thuế và giám sát các hoạt động quản lý hành chính. Sự tham gia của người dân vào các hoạt động này giúp kiềm chế sự lạm quyền của nhà nước, đảm bảo việc giới hạn của quyền lực công không hạn chế quyền của các công dân quá nhiều.[22]

Khác với các thế hệ quyền sau này vốn đòi hỏi sự can thiệp và hỗ trợ định chế tích cực từ chính phủ, thế hệ thứ nhất có thể được thực thi một cách độc lập và riêng rẽ bởi cá nhân. Sự khác biệt này làm rõ “trạng thái tự do” (free status) đặc trưng của thế hệ thứ nhất, đối lập với “trạng thái xã hội” (social status) của các quyền kinh tế và xã hội sau này. [23]

Quá trình pháp điển hóa các giá trị này đã góp phần tạo nên một hệ thống bảo vệ đa tầng từ cấp độ quốc gia đến quốc tế thông qua các văn kiện lịch sử quan trọng. Những cột mốc pháp lý đầu tiên bao gồm Đại Hiến chương Magna Charta (1215), Thỉnh nguyện thư về Quyền lợi (Petition of Rights 1628) và Luật về các Quyền (Bill of Rights 1689) tại Anh. Các văn bản pháp lý trên đã được đề cập trong Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ (1776) và đặc biệt là Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Pháp (1789) - văn bản khẳng định rằng mục đích của mọi tổ chức chính trị là bảo toàn các quyền tự nhiên của con người.[24] Trong kỷ nguyên hiện đại, các quyền này đã được pháp điển hóa thông qua các Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền (UDHR) và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR). Tại khu vực Châu Âu, các cơ chế bảo vệ đã được thiết lập chặt chẽ với Công ước Châu Âu về Nhân quyền (ECHR) và Tòa án Nhân quyền Châu Âu, biến các lý thuyết triết học thành các nghĩa vụ pháp lý có tính cưỡng chế. Việc chuyển hóa này đã tạo nên một hệ thống bảo vệ vững chắc, khẳng định sự tôn trọng tự do cá nhân là nghĩa vụ bắt buộc của mọi quốc gia trong cộng đồng quốc tế.[25]

2.2. Thế hệ thứ hai: Các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa 

Thế hệ quyền con người thứ hai hình thành chủ yếu từ nhu cầu giải quyết những hệ lụy của cuộc khủng hoảng xã hội tư bản cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Trước tình cảnh bần cùng hóa của giai cấp lao động, các nhà tư tưởng tự do mới đã thúc đẩy cải cách xã hội nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Những áp lực này buộc các nhà nước tư sản phải ban hành các chính sách phúc lợi, tiêu biểu là hệ thống bảo hiểm xã hội thống nhất do Thủ tướng Đức Bismarck khởi xướng sau Tuyên ngôn Keider (1881). Các quyền về an sinh xã hội như bảo hiểm khi già yếu, bệnh tật sau đó đã chính thức được Hiến pháp Đức ghi nhận vào năm 1919.[26]

Thế hệ quyền con người thứ hai tập trung vào các quyền con người liên quan đến đối xử bình đẳng, công bằng, văn minh trong xã hội, bao gồm: quyền có việc làm, quyền được bảo trợ xã hội, quyền được chăm sóc y tế, quyền có nhà ở,..[27] Các quyền này bắt nguồn từ luật thực định (positive law), tức là chúng không có cùng phạm vi như các quyền về dân sự và chính trị ở thế hệ quyền thứ nhất, cùng với đó là việc hiện thực hóa các quyền này đòi hỏi nhà nước, chính phủ phải hành động.[28] 

Cụ thể, các quyền con người thế hệ thứ hai đòi hỏi sự hỗ trợ về mặt thể chế từ nhà nước trong khi các quyền thế hệ thứ nhất có thể được thực hiện một cách độc lập và riêng lẻ.[29] Nhà nước phải can thiệp thông qua các hành động mang tính chất lập pháp để tạo ra một hệ thống thể chế cho phép thực thi các quyền này, ví dụ như quyền giáo dục hoặc quyền nghỉ hưu.[30] Người ta ước tính rằng nếu các quyền thế hệ thứ nhất tạo nên “trạng thái tự do” (free status), thì các quyền kinh tế - xã hội lại liên quan đến “trạng thái xã hội” (social status) của cá nhân.[31]

Về mặt pháp lý, các quyền con người về kinh tế, văn hóa, xã hội chính thức được ghi nhận từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai bằng Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 (UDHR) do Liên Hợp Quốc thông qua cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR).[32] Dựa trên nội dung của Công ước, thế hệ quyền con người thứ hai được chia làm các nhóm quyền chính: quyền làm việc và các điều kiện lao động công bằng,[33] quyền được bảo đảm an sinh xã hội,[34] quyền đối với các tiêu chuẩn sống thỏa đáng,[35] quyền về sức khỏe,[36] quyền giáo dục[37] và quyền văn hóa.[38]. ICESCR đã đặt ra các quy định về trách nhiệm thực thi và nguyên tắc thực thi cho các quốc gia thành viên. Cụ thể, văn bản này quy định nghĩa vụ của mỗi quốc gia thành viên trong việc thực hiện các bước,[39] một cách riêng lẻ hoặc thông qua hỗ trợ và hợp tác quốc tế, đặc biệt là về kinh tế và kỹ thuật, với mức tối đa các nguồn lực sẵn có của mình, nhằm đạt được dần dần việc thực hiện đầy đủ các quyền được công nhận trong Công ước bằng mọi biện pháp thích hợp, bao gồm đặc biệt là việc thông qua các biện pháp lập pháp, mà không có sự phân biệt đối xử.[40] Như vậy, vì đây là nhóm quyền không thể đạt được ngay lập tức, các quốc gia trong quá trình thực thi cần đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử để đảm bảo mọi cá nhân được bảo vệ quyền lợi hợp pháp. Các quốc gia cũng cần tận dụng mọi nguồn lực để hiện thực hóa các nhóm quyền trong thế hệ quyền con người thứ hai cho công dân.

2.3. Thế hệ thứ ba: Các quyền tập thể 

Ý tưởng nền tảng của quyền thế hệ thứ ba là sự đoàn kết. Các quyền này bao hàm các quyền tập thể của xã hội hoặc các dân tộc. Tại nhiều nơi trên thế giới, tình trạng nghèo đói cùng cực, chiến tranh và thảm họa thiên nhiên khiến nhân quyền bị hạn chế đáng kể. Do đó, nhiều người tin rằng công nhận thế hệ thứ ba của quyền con người sẽ giúp xã hội, đặc biệt là các nước kém và đang phát triển được đảm bảo các thế hệ quyền thứ nhất và thứ hai.[41] 

Thế hệ này bao gồm các quyền tiêu biểu như quyền tự quyết dân tộc (right to self-determination); quyền phát triển (right to development); quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên (right to natural resources); quyền được sống trong hoà bình (right to peace); quyền được sống trong môi trường trong lành (right to a healthy environment)…Danh mục các quyền thuộc thế hệ quyền này vẫn đang được bổ sung, trong đó những quyền được đề cập gần đây bao gồm: quyền được thông tin và các quyền về thông tin (right to communicate; communication rights); quyền được hưởng thụ các giá trị văn hóa (right to participation in cultural heritage)...[42] Có thể thấy, thế hệ quyền con người thứ ba có tính chất trung hòa hai nhóm quyền về dân sự, chính trị và quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa.[43]

Trên thực tế, có những tranh cãi và lo ngại xoay quanh thế hệ quyền thứ ba này. Có chuyên gia phản đối nhóm quyền tập thể, cho rằng nhân quyền chỉ có thể thuộc về cá nhân. Cũng có những chuyên gia cho rằng các chế độ độc tài có thể phủ nhận quyền cá nhân nhân danh quyền tập thể như cắt giảm quyền dân sự để ưu tiên phát triển kinh tế, khiến cho các quyền khác của cá nhân bị kìm hãm.[44] 

Dù vẫn còn tồn tại một số tranh luận, cộng đồng quốc tế đều cho rằng nhóm nhân quyền thứ ba cần được chú trọng hơn nữa. Một số quyền tập thể đã được ghi nhận trong Hiến chương Châu Phi về Quyền con người (ACHPR)[45] và các Dân tộc và Tuyên ngôn về Quyền của các Dân tộc bản địa.[46] Quyền tự quyết cũng được công nhận trong cả hai công ước quan trọng là Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR)[47] và Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa năm 1966 (ICESCR),[48] và quyền được phát triển đã được luật hóa trong Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hợp quốc năm 1986.[49]


Kết luận

Qua bài viết, nhóm tác giả cơ bản giới thiệu được tổng quan về Luật Nhân quyền quốc tế (IHRL) thông qua các khía cạnh cơ bản: khái niệm, hệ thống các nguồn pháp lý đa tầng (từ cấp độ toàn cầu đến các cơ chế đặc thù khu vực) cùng sự phát triển của Luật Nhân quyền quốc tế qua ba thế hệ quyền con người. Qua đó, người đọc có cái nhìn bao quát và hệ thống hơn về cách thức pháp luật quốc tế vận hành để bảo vệ phẩm giá con người từ quyền cá nhân đến quyền tập thể. 


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

[1] Cordula Droege, “The Interplay Between International Humanitarian Law and International Human Rights Law in Situations of Armed Conflict” (2007) 40 Israel L Rev 310, 314-7, 320-24.

[2]  Statute of the International Court of Justice art 38(1). 

[3].  Phạm Lan Dung (ed), Giáo trình Luật Quốc tế (Học viện Ngoại giao 2022) 287. 

[5]  ibid.

[6]  Douglas A Lea, “European Convention on Human Rights Is Signed” (EBSCO Research Starters 2023).

[7]  The European Convention on Human Rights 1953: Foundations, Structural Metamorphosis, and Contemporary Jurisprudential dynamics.

[8]  LR Kiestra, The impact of the ECHR on private international law: An analysis of Strasbourg and selected national case law (Thesis, Universiteit van Amsterdam 2013) 45.

[9].  ibid 35.

[10].  ibid 36.

[11]  Additional Protocol to the American Convention on Human Rights in the Area of Economic, Social and Cultural Rights (Protocol of San Salvador) (adopted 17 November 1988, entered into force 16 November 1999) OAS Treaty Series No 69, art 1.

[12]  Timothy M McCann, “The American Convention on Human Rights: Toward Uniform Interpretation of Human Rights Law” (1982) 6 Fordham Int’l LJ 612.

[13]  Keba Mbaye, “Keynote Address on the African Charter on Human and Peoples Rights” trong International Commission of Jurists, Human and Peoples’ Rights in Africa and the African Charter: Report of a Conference held in Nairobi from 2 to 4 December 1985 (ICJ 1986) 19, 26.

[14]  Patient Mpunga-Biayi, “The Assertion of a Regional Specificity of the Right of Peoples to Self-determination by the African Court on Human and Peoplesʼ Rights” (2025) 17(3) Journal of Human Rights Practice 1, 5.

[15]  African Charter on Human and Peoples’ Rights (adopted 27 June 1981, entered into force 21 October 1986) 21 ILM 58 (ACHPR) art 20.

[16]  Andreas Øien Stensland, Walter Lotze and Joel Ng, “Linking Regional Security and Human Rights in ASEAN” (Policy Brief 7, NUPI 2012) 1, 46.

[17]  Richard Burchill, “Regional Integration and the Promotion and Protection of Democracy in Asia: Lessons from ASEAN” (2009) 13 Asian Yearbook of International Law 51, 65.

[18]  ibid.

[19]  John Locke, Two Treatises of Government (Peter Laslett ed, CUP 1988) Second Treatise, ch 19.

[20]  Adrian Vasile Cornescu, “The Generations of Human’s Rights” in Dny práva - 2009 -  Days of Law: the Conference Proceedings (Masaryk University 2009) 1. 

[21]  ibid 1,2.

[22] ibid 3.

[23]  ibid 4.

[24]  ibid 

[25]  ibid 4.

[26]  Nguyễn Đăng Dung, Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội 2011) 59.

[27]  ibid.

[28]  Adrian Vasile Cornescu (n 70) 4.

[29]  ibid.

[30]  ibid.

[31]  ibid.

[32]  Nguyễn Đăng Dung (n 26) 60.

[33]  International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights (adopted 16 December 1966, entered into force 3 January 1976) 993 UNTS 3, art 6, 7, 8 (ICESCR).

[34]  ibid, art 9.

[35]  ibid, art 11.

[36]  ibid, art 12.

[37]  ibid, art 13, 14.

[38]  ibid, art 15.

[39]  ibid, art 2.

[40]  Mónica Pinto, “International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights” (United Nations Audiovisual Library of International Law) https://legal.un.org/avl/ha/icescr/icescr.html truy cập ngày 29/4/2026. 

[41]  Council of Europe, “The Evolution of Human Rights” (Manual for Human Rights Education with Young People) https://www.coe.int/en/web/compass/the-evolution-of-human-rights truy cập ngày 30/4/2026.

[42]  Nguyễn Đăng Dung (n 26) 60, 61.

[43]  ibid 61.

[44]  Council of Europe (n 90).

[45] African Charter on Human and Peoples’ Rights (adopted 27 June 1981, entered into force 21 October 1986) 1520 UNTS 217. 

[46]  UNGA, United Nations Declaration on the Rights of Indigenous Peoples (2 October 2007) UN Doc A/RES/61/295. 

[47]  Điều 1 ICCPR khẳng định quyền tự quyết là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các quyền con người cá nhân. Xem International Covenant on Civil and Political Rights (adopted 16 December 1966) 999 UNTS 171, art 1. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc trong Bình luận chung số 12 (1984) cũng nhấn mạnh đây là quyền không thể tách rời của mọi dân tộc. 

[48]  ICESCR (n 33) art 1.

[49]  UNGA Res 41/128 “Declaration on the Right to Development” (4 December 1986) UN Doc A/RES/41/128. 


 
 
 

Bình luận


bottom of page