top of page
icj 1.jpeg

[81] QUY ĐỊNH NGOẠI LỆ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG CÁC HIỆP ĐỊNH CỦATỔ CHỨC THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ (WTO)

  • Nguyễn Hoàng Trang, Phùng Đăng Khôi
  • 2 ngày trước
  • 15 phút đọc

Đã cập nhật: 5 giờ trước

Tác giả: Nguyễn Hoàng Trang, Phùng Đăng Khôi

 

Dẫn nhập: Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại một cuộc họp của Uỷ ban Thương mại và Môi trường (CTE) của Tổ chức Thương mại Thế giới (“WTO”), đại diện các Thành viên WTO tham gia cuộc họp đã thực hiện tổng kết rà soát tiến độ của các nước thực hiện nỗ lực đẩy mạnh thực hiện chính sách thương mại trong mối liên hệ với môi trường, theo đó xác tầm nhìn sắp tới là tăng cường tính minh bạch trong việc áp dụng các biện pháp nội địa về môi trường. Theo đó, các Thành viên khi áp dụng chính sách thương mại cần đặc biệt lưu ý để không tạo ra các rào cản thương mại không cần thiết. Mặt khác, việc tham gia WTO không đồng nghĩa rằng các Thành viên không được phép các biện pháp hạn chế thương mại, nếu việc áp dụng biện pháp đó nhằm bảo vệ các mục tiêu chính sách của mình, đặc biệt là các mục tiêu về môi trường.

 

1. Mối liên hệ giữa chính sách môi trường và nguyên tắc tự do hoá thương mại của WTO

Lời mở đầu của Hiệp định Marrakesh năm 1994 khẳng định việc thành lập WTO nhằm thực hiện mối liên hệ giữa kinh tế và thương mại "...với mục tiêu nâng cao mức sống, bảo đảm đầy đủ việc làm và một khối lượng thu nhập và nhu cầu thực tế lớn và phát triển ổn định; mở rộng sản xuất, thương mại hàng hoá và dịch vụ…". Thương mại quốc tế, tuy vậy, vẫn cần "bảo đảm việc sử dụng tối ưu nguồn lực [...] theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường [...]".[1]

 Tầm quan trọng và tính chính đáng của việc bảo vệ môi trường đã được thừa nhận như một mục tiêu của chính sách quốc gia và quốc tế; và phát triển bền vững là mục tiêu của tất cả các Hiệp định trong khuôn khổ WTO.[2]


Thực tế, thương mại phụ thuộc mật thiết vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, tuy nhiên, nguồn lực này hữu hạn và không thể tái tạo. Khi môi trường bị suy thoái, không chỉ nguồn cung nguyên liệu cho sản xuất bị cạn kiệt, mà chất lượng đời sống và sức khỏe của con người cũng bị đe dọa nghiêm trọng. Theo đó, năng suất lao động và sức mua suy giảm, triệt tiêu động lực của thị trường và sự phát triển của thương mại. Do vậy, chính sách thương mại và chính sách môi trường quốc gia có mối quan hệ tương trợ, bởi hệ thống thương mại đa phương hướng tới và hiện thực hóa việc phân bổ và sử dụng tài nguyên hiệu quả, thúc đẩy việc gia tăng sản xuất và cải thiện thu nhập. Đồng thời, bảo vệ môi trường là bảo vệ nguồn tài nguyên đầu vào và nền tảng thị trường cho việc mở rộng nền kinh tế và thương mại.[3]

Do vậy, ngoại lệ môi trường, cùng với các ngoại lệ chung theo quy định Điều XX GATT, là cơ chế nhằm hài hoá sự mâu thuẫn tiềm tàng giữa việc tự do hoá thương mại, mở cửa thị trường với các giá trị và lợi ích xã hội căn bản[4] và bảo đảm an ninh và tính dễ dự đoán của việc tiếp cận thương mại cho thương nhân và nhà đầu tư.[5]


2. Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường trong các Hiệp định WTO

Các quy định ngoại lệ về bảo vệ môi trường xuất hiện trong nhiều Hiệp định WTO. Cụ thể, Điều XX Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (“GATT”) và Điều XIV Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (GATS) đều quy định việc cho phép các Thành viên áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại trong trường hợp “cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật.[6] Điều XX GATT có quy định thêm về ngoại lệ trong trường hợp “liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”.[7] Các Hiệp định WTO về các vấn đề chuyên biệt cũng chứa đựng các quy định tương tự cho phép áp dụng ngoại lệ về môi trường khi các chính sách thương mại được áp dụng nhằm theo đuổi các mục tiêu chính sách chính đáng.[8]


Điều XX GATT về Ngoại lệ chung liệt kê một danh sách hữu hạn các trường hợp mà Thành viên được phép áp dụng các biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ GATT một cách có điều kiện.[9] Cụ thể, điều khoản có quy định như sau về các ngoại lệ về môi trường:

“Với bảo lưu rằng các biện pháp đề cập ở đây không được theo cách tạo ra công cụ phân biệt đối xử độc đoán hay phi lý giữa các nước có cùng điều kiện như nhau, hay tạo ra một sự hạn chế trá hình với thương mại quốc tế, không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là ngăn cản bất kỳ bên ký kết nào thi hành hay áp dụng các biện pháp:

[…]

(b) cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật hay thực vật;

[…]

(g) liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước;

Có thể nói rằng quy định về ngoại lệ môi trường của GATT là những quy định tiêu biểu, nền tảng và mang tính chất giải thích cao, đặc biệt là đối với những nội dung tương tự tại các Hiệp định WTO khác.


Trong giai đoạn từ 1947 đến 1994, vụ Tuna Dolphin I (1991) và Tuna Dolphin II (1994) đã đặt nền móng cho việc giải thích ngoại lệ về môi trường được quy định trong GATT. Hai vụ việc này xoay quanh việc Mỹ đưa ra lệnh cấm đơn phương nhập khẩu cá ngừ đuôi vàng được đánh bắt theo phương thức cũng giết cá heo.[10] Ban Hội thẩm của cả hai vụ việc cho rằng, việc một biện pháp thương mại được đưa ra hướng đến tác động quốc gia khác thay đổi chính sách môi trường không "cần thiết" theo nghĩa của Điều XX(b)[11] và không "liên quan" theo nghĩa của Điều XX(g).[12]


Sau khi WTO được thành lập, Cơ quan Phúc thẩm tiếp cận theo hướng mở rộng sự công nhận các biện pháp bảo vệ môi trường chính đáng theo ngoại lệ Điều XX(b) và XX(g).[13]


2.1. Phép thử hai tầng

Thoạt nhìn theo quy định của Điều XX, để một biện pháp phù hợp với các quy định về ngoại lệ cần thỏa mãn hai yếu tố: Phần Lời mở đầu ("Chapeau") và các trường hợp cụ thể trong Đoạn (a) đến (j).  


Trong vụ US - Gasoline và vụ US - Shrimp, Cơ quan Phúc thẩm nhấn mạnh để xem xét liệu một biện pháp có thoả mãn quy định về ngoại lệ theo Điều XX, Ban Hội thẩm phải trước hết xem xét liệu biện pháp có phù hợp với các quy định trong các đoạn từ (a) đến (j), sau đó mới đánh giá liệu biện pháp đó có thoả mãn các yêu cầu của Chapeau.[14]


2.2. Ngoại lệ tại Điều XX(b) về bảo vệ sự sống, sức khoẻ (người, động, thực vật)

Nhằm thoả mãn điều kiện tại Điều XX(b), biện pháp thương mại đó (i) phải được xây dựng để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật và (ii) biện pháp cần thiết để bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.


Về điều kiện thứ nhất, tính phù hợp của mục tiêu biện pháp theo Điều XX(b) được đánh giá dựa trên sự tồn tại của rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật, và rủi ro đó phải hiện hữu, rõ ràng chứ không phải nguy cơ chung chung.[15] Đồng thời, phải có mối quan hệ rõ ràng giữa biện pháp được đưa ra và việc bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[16]


Ví dụ, trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, Ban Hội thẩm chấp nhận lập luận của Brazil rằng biện pháp của Brazil phù hợp với trường hợp cụ thể của Điều XX(b).[16] Theo đó, sự tích tụ lốp xe thải tạo ra môi trường sinh sôi của muỗi - là chủ thể chứa bệnh dịch nguy hiểm, và những bệnh dịch đó có thể lây truyền trong quá trình xử lý lốp thải. Đồng thời, lốp xe thải tích tụ có thể rỉ nước, gây cháy và thải ra môi trường khí độc. Trên cơ sở đó, Ban Hội thẩm cho rằng tồn tại rủi ro đối với sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật[18] và biện pháp được đưa ra nhằm thực hiện bảo vệ sự sống hoặc sức khoẻ con người, động vật hoặc thực vật.[119]


Về điều kiện thứ hai, biện pháp có được coi là "cần thiết" được xem xét trên cơ sở sự quan trọng của lợi ích hoặc giá trị bị tổn hại, mức độ đóng góp đối với sự hoàn thành mục đích của biện pháp và tính hạn chế thương mại của biện pháp đó. Biện pháp chỉ được coi là cần thiết nếu không tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn mà có mức độ đóng góp tương đương với sự hoàn thành mục đích và biện pháp đó phải tồn tại một cách hợp lý.[20] Nguyên đơn có nghĩa vụ chứng minh sự tồn tại biện pháp ít hạn chế hơn.[21]


Theo đó, biện pháp sẽ càng dễ dàng được xem là cần thiết nếu biện pháp có mục đích bảo vệ giá trị xã hội càng quan trọng và đóng góp đáng kể tới việc bảo vệ biện pháp đó. Trong vụ EC - Asbestos, Ban Hội thẩm công nhận việc loại bỏ hoặc giảm thiểu nguy cơ đe doạ đến sức khoẻ và đến sự sống của sợi amiăng là "quan trọng ở mức độ cao nhất".[22]


Trong vụ Brazil - Retreaded Tyres, biện pháp không được coi là tồn tại một cách hợp lý khi mà biện pháp đó chỉ phù hợp trên lý thuyết hoặc bên bị đơn không có khả năng thực hiện hoặc biện pháp cấu thành gánh nặng chi phí hoặc kỹ thuật cho bị đơn.[23] Trong vụ EC - Asbestos, Canada (Nguyên đơn) cho rằng tồn tại biện pháp ít hạn chế thương mại hơn - việc sử dụng có kiểm soát amiăng.[24] Tuy nhiên, Ban Hội thẩm cho rằng biện pháp sử dụng có kiểm soát không hợp lý - bởi biện pháp sẽ không đủ để chấm dứt rủi ro từ amiăng và bảo vệ sức khoẻ con người.[25]


2.3. Ngoại lệ tại Điều XX(g) về giữ gìn nguồn tài nguyên có thể cạn kiệt

Điều XX(g) GATT cho phép Thành viên áp dụng biện pháp đi ngược lại với các nghĩa vụ nêu tại GATT trong trường hợp việc áp dụng biện pháp đó là “liên quan tới việc gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt, nếu các biện pháp đó cũng được áp dụng hạn chế cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước”.


Trước đây, ngoại lệ Điều XX(g) đã được các Thành viên viện dẫn nhằm biện minh cho đa dạng các biện pháp nhằm hướng tới việc bảo tồn nguyên liệu thô,[26] đất hiếm,[27] cá hồi và cá trích,[28] cá ngừ và cá heo,[29] rùa biển[30] và không khí sạch.[31] Có thể thấy rằng Điều XX(g) áp dụng việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên với nội hàm rộng.


Để đáp ứng việc viện dẫn điều khoản này, một biện pháp được áp dụng phải thoả mãn 03 điều kiện: (i) biện pháp phải là về việc “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; (ii) biện pháp liên quan tới “gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt”; và (iii) biện pháp áp dụng hạn chế đối với cả với sản xuất và tiêu dùng trong nước.


Về điều kiện thứ nhất. Trong vụ China – Raw Materials, cụm từ “gìn giữ” đã được giải thích là “việc bảo tồn môi trường, đặc biệt là tài nguyên thiên nhiên.[33] Sau đó, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth đã mở rộng nội hàm này và cho rằng gìn giữ không đơn thuần là ngăn cấm việc khai thác tài nguyên thiên nhiên mà còn bao gồm cả những nỗ lực áp dụng các biện pháp nhằm điều tiết và quản lý các hoạt động khai thác này.[34] Trong đó, “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” theo nghĩa tại Điều XX(g) không chỉ bao gồm tài nguyên phi sinh vật (ví dụ: khoáng sản) mà còn bao gồm tài nguyên sinh vật, trong đó bao gồm cả động vật. Trong vụ US – Shrimp, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan và Malaysia cho rằng cụm từ “tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt” chỉ ám chỉ khoáng sản hay các tài nguyên phi sinh vật khác bởi tài nguyên sinh vật được xem là có khả năng tái tạo.[35] Tuy nhiên, quan điểm này đã hoàn toàn bị bác bỏ bởi Cơ quan Phúc thẩm, bởi sinh vật hoàn toàn có nguy cơ bị tuyệt chủng và giống với khoáng sản hay bất cứ tài nguyên phi sinh vật nào khác, sinh vật cũng có thể “cạn kiệt”.[36] Nhìn chung, một quan điểm đầy đủ nhất được Cơ quan Phúc thẩm đưa ra trong China – Rare Earth. Theo đó, việc “gìn giữ” khoáng sản có thể được hiểu là bảo tồn loại tài nguyên này thông qua việc giảm thiểu hoặc yêu cầu dừng đối với các hoạt động khai thác. Đối với sinh vật, “gìn giữ” không chỉ có các hoạt động nhằm giảm thiểu hoặc cho dừng các hoạt động thúc đẩy tuyệt chủng đối với các loài động vật quý hiếm, mà còn cả bao gồm việc tạo điều kiện thuận lợi nhằm tái tạo, phục hồi những loài động vật này.[37] Tuy nhiên, tới nay chưa có án lệ WTO nào chỉ ra thực vật cũng được xem là “tài nguyên cạn kiệt” cần được “gìn giữ” theo nghĩa của Điều XX(g).


Về điều kiện thứ hai. Biện pháp cản trở thương mại của Thành viên chỉ được chấp nhận là thuộc vào ngoại lệ tại Điều XX(g) khi biện pháp đó “liên quan tới” việc thực hiện mục tiêu chính sách đã được xác định - “gìn giữ tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt”. Điều kiện “liên quan tới” đưa ra yêu cầu về mối quan hệ giữa biện pháp và mục tiêu chính sách ít nghiêm ngặt hơn so với điều kiện “cần thiết” tại Điều XX(b). Theo đó, khi xem xét liệu một biện pháp có “liên quan tới” mục tiêu mà Thành viên đề ra trước đó hay không thì cơ quan giải quyết tranh chấp WTO chỉ cần cân nhắc và phân tích cách thức thiết kế và cấu trúc vận hành của biện pháp thay vì phải đánh giá cả các hệ quả trên thực tế của biện pháp đó.[38] Giữa biện pháp và mục tiêu chính sách phải có một mối liên hệ gần gũi và thực chất.[39]


Về điều kiện thứ ba. Điều XX(g) yêu cầu việc áp dụng biện pháp mang tính hạn chế thương mại đồng thời với cả sản xuất trong nước, hay nói cách khác yêu cầu sự đối xử công bằng, không thiên vị (nguyên gốc: even-handedness) giữa hàng hoá trong và ngoài nước.[40] Theo đó, “even-handedness” không đơn thuần là việc áp dụng biện pháp giống hệt với các đối tượng khác nhau - nhà sản xuất trong nước và nước ngoài, mà cần phải được hiểu là sự đối đãi công bằng về thực chất.[41] Như vậy, khi một biện pháp thực sự chính đáng và “liên quan tới gìn giữ tài nguyên cạn kiệt”, biện pháp phải hướng tới việc chia đều trách nhiệm “gìn giữ” này tới tất cả nhà sản xuất, bất kể trong nước hay ngoài nước.[42]


2.4. Lời mở đầu ("Chapeau") của Điều XX

Bên cạnh những điều kiện gắn cụ thể với mục tiêu bảo vệ môi trường của chính sách như nêu trên. Một biện pháp cản trở thương mại chỉ được xem là hợp pháp theo Điều XX khi đạt đủ cả các điều kiện nêu tại phần lời mở đầu của điều khoản này, theo đó,  một chính sách thương mạikhông thể được áp dụng trên cơ sở (i) tạo ra sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý; hoặc (ii) tạo ra một sự hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế. Nói cách khác, một biện pháp hạn chế thương mại, ngay cả khi rơi vào trường hợp ngoại lệ tại Điều XX vẫn cần phải được áp dụng một cách hợp lý, phù hợp với các nghĩa vụ pháp lý của các bên có liên quan.[43] Cơ quan Phúc thẩm trong vụ US – Shrimp cho rằng mục đích của phần lời mở đầu Điều XX là nhằm yêu cầu các Thành viên duy trì sự cân bằng giữa quyền viện dẫn ngoại lệ của bản thân và nghĩa vụ nhằm tự do hoá thương mại của chính Thành viên đó đối với các Thành viên khác.[44]


Thứ nhất, biện pháp được coi là "phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý" khi việc áp dụng biện pháp đó phải dẫn đến việc phân biệt đối xử, biện pháp đó có bản chất độc đoán và phi lý, và biện pháp phân biệt giữa các quốc gia có cùng điều kiện[45] hoặc áp dụng cứng nhắc mà không tính đến sự khác biệt trong điều kiện của từng quốc gia.[46]


Phân biệt đối xử không chỉ dừng lại ở việc đối xử khác nhau với các quốc gia có cùng điều kiện, mà còn thể hiện ở việc không cho phép tiến hành bất kỳ cuộc điều tra nào về tính phù hợp của chương trình quản lý đối với các điều kiện hiện hành tại các quốc gia xuất khẩu đó.[47] Việc phân biệt đối xử tuỳ tiện hoặc phi lý không được xem xét theo góc độ tác động của việc phân biệt đối xử, mà được xem xét dựa trên liệu lý do của biện pháp có không có mối liên hệ tới mục đích của biện pháp.[48]


Thứ hai, trong vụ US – Gasoline, Cơ quan Phúc thẩm cho rằng một biện pháp hạn chế thương mại tức là biện pháp đó cấu thành sự phân biệt đối xử độc đoán hoặc phi lý, tuy nhiên lại được thực hiện dưới vỏ bọc của biện pháp, trên danh nghĩa, có thể thuộc vào ngoại lệ được liệt kê tại Điều XX.[49] Trên cơ sở nhận định này, Ban Hội thẩm trong China – Rare Earth đã chỉ ra thêm rằng, một biện pháp phân biệt đối xử có thể cấu thành một hạn chế thương mại trá hình; tuy nhiên một hạn chế thương mại trá hình không luôn luôn là một biện pháp mang tính chất phân biệt đối xử.[50] Nội hàm của cụm từ “hạn chế trá hình đối với thương mại quốc tế” không nằm ở “hạn chế” mà nằm ở từ “trá hình”, có ý nghĩa là “làm biến đổi nhằm đánh lừa” nếu xét theo nghĩa thông thường.[51] Như vậy, ngay cả khi một biện pháp đáp ứng các điều kiện hình thức của Điều XX, lại nhằm che giấu một mục tiêu hạn chế thương mại khác thì không thể được miễn trừ trách nhiệm theo Điều XX.[52]


3. Kết luận

 Thông qua xem xét thực tiễn giải quyết tranh chấp, những quy định về ngoại lệ trong các hiệp định WTO về đa dạng các lĩnh vực đã thiết lập nên căn cứ pháp lý hỗ trợ các Thành viên điều tiết các chính sách thương mại quốc tế một cách phù hợp với mục tiêu, tầm nhìn của quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường. Như vậy, khuôn khổ pháp luật WTO đã xác lập một nguyên tắc chung về việc yêu cầu các Thành viên duy trì một cách hợp lý sự cân bằng giữa quyền tự chủ xác lập chính sách bảo vệ môi trường và các nghĩa vụ tự do hóa thương mại được xác lập khi gia nhập WTO - một hệ thống thương mại đa phương.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 

[1] Hiệp định Marrakesh, Lời mở đầu.

[2] Appellate Body, US – Shrimp, para. 129, 130.

[3] Agenda 21, § 2.19, UN Doc. A/CONF. 151/4 (1992)

[4] Peter Van den Bossche and Werner Zdouc, The Law and Policy of the World Trade Organization: Text, Cases, and Materials (4th edition, CUP) p. 544-545

[5] Report by the Consultative Board to the Director-General Supachai Panitchpakdi, Report on the Future of the WTO: Addressing Institutional Challenges in the New Millennium (World Trade Organization, 2014), para. 39

[6] Điều XX(b) GATT; Điều XIV(b) GATS.

[7] Điều XX(g) GATT.

[8] Điều 27.2 TRIPS; Điều 8.2 SCM; Điều 2.2 SPS; Điều 2.2, Điều 2.4 TBT

[9] Panel, US – Section 337 Tariff Act, para 5.9

[10] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy, (3rd edition, OUP) page 723

[11] Tuna Dolphin I, para. 5.27; Tuna Dolphin II, paras. 5.36–5.38.

[12] Tuna Dolphin I, para. 5.33; Tuna Dolphin II, para. 5.26.

[13] Mitsuo Matsushita, Thomas J. Schoenbaum, Petros C. Mavroidis, Michael Hahn, The World Trade Organization – Law, Practice and Policy, (3rd edition, OUP) page 724

[14] Appellate Body, US – Shrimp, paras. 119–20; Appellate Body, US – Gasoline, p. 22

[15]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.46.

[16] Appellate Body, Colombia - Textiles, para 5.68.

[17]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.53, 7.84.

[18]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.96

[19]  Panel, Brazil - Retreaded Tyres, para 7.99, 7.100

[20] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 178

[21] Appellate Body, Brazil - Retreaded Tyres, para 156

[22] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 172.

[23] Appellate Body, Brazil – Retreaded Tyres, para. 156

[24] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 169

[25] Appellate Body, EC - Asbestos, para. 174.

[26] China – Raw Materials

[27] China – Rare Earth

[28] Canada – Herring and Salmon

[29] Tuna Dolphin I và Tuna Dolphin II; US – Tuna II

[30] US – Shrimp

[31] US – Gasoline

[32] Nguyên gốc: relating to.

[33] Appellate Body, China – Raw Materials, para. 355

[34] Panel, China – Rare Earth, para 7.266.

[35]  Appellate Body, US – Shrimp, para. 127.

[36] Appellate Body, US – Shrimp, para. 128.

[37] Appellate Body, China – Rare Earth, para. 5.89.

[38] Panel, China – Rare Earth, para 7.290 và 7.379

[39] US – Shrimp. See also: China – Raw Materials para 355

[40] Appellate Body, US – Gasoline, para 20-1.

[41] Ibid.

[42] Appellate Body. China – Rare Earth, para. 5.134.

[43] Appellate Body, US – Gasoline p. 22, trích dẫn từ US – Spring Assemblies, para 56.

[44] Appellate Body, US – Shrimp, para 156. See also: Appellate Body, EC – Seal Products, para 5.297.

[45] Appellate Body, US - Shrimp, para 150

[46] EC – Seal Products, Appellate Body Report, para. 5.305.

[47] Appellate Body, US - Shrimp, para 164, 165

[47] Indonesia – Import Licensing Regimes, Panel Report, para. 7.824

[49] Appellate Body, US – Gasoline, p.25

[50] Panel, China – Rare Earth, para. 7. 826

[51] Panel, EC – Abestos, para. 7.823

[52] Panel, EC – Abestos, para. 7.823

 

Bình luận


bottom of page